
1467
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG CAC-BON Ở VIỆT NAM
Nguyễn Thị Thanh Lam(1), Lê Thị Ngọc Diệp(2)
TÓM TẮT:
Nhằm giảm pht thải nh kính hng đn mục tiêu pht thải ròng bằng 0 vo nm 2050, Việt
Nam đ p dụng nhiều sng kin, trong đó có th trờng cac-bon. Việc thí đim th trờng cac-bon
nm 2025 v chính thức hoạt đng nm 2028 đc kỳ vọng sẽ mang lại nhiều li ích về kinh t, môi
trờng v x hi cho Việt Nam. Dù đ có l trình thực hiện v cơ sở php lý nhất đnh, tuy nhiên,
việc trin khai th trờng cac-bon tại Việt Nam vẫn cha hon thiện. Bi nghiên cứu ny đa ra
những kin ngh nhằm ti u ho thời gian thí đim th trờng cac-bon thông qua tự chủ chính sch
có kim sot tại từng đa phơng. Thông qua đó, đề ra những kin ngh đ hon thiện cơ sở php lý
cho sng kin ny. Đồng thời, nhằm thúc đẩy hiệu quả v sự tham gia vo th trờng cac-bon, chúng
tôi cũng tập trung vo những giải php đẩy mạnh vai trò của cc bên nh tổ chức ti chính, doanh
nghiệp v ngời tiêu dùng trong th trờng cac-bon. Cui cùng, đa ra những kin ngh giải quyt
ro cản doanh nghiệp khi tham gia th trờng cac-bon nh lao đng, công nghệ, chi phí,... thông qua
cải thiện cơ sở nng lng ti tạo, tip cận nguồn vn xanh, hỗ tr chuyn đổi lao đng,...
Từ khoá: Th trờng cac-bon, bắt buc, Việt Nam.
ABSTRACT:
Vietnam has implemented various initiatives, including a cac-bon market, to reduce greenhouse
gas emissions and achieve net-zero emissions by 2050. The carbon market's pilot launch in 2025 and
full operation in 2028 are expected to yield substantial economic, environmental, and social benefits
for Vietnam. Despite a defined roadmap and legal framework, the implementation of Vietnam's
carbon market remains incomplete. This research provides recommendations to optimize the cac-
bon market pilot phase. It offers suggestions to enhance the legal foundation for this initiative.
Moreover, to promote effectiveness and participation in the carbon market, we focus on solutions to
foster the roles of financial institutions, enterprises, and consumers within this market. Lastly, the
study proposes recommendations to address barriers faced by enterprises when participating in the
carbon market, such as labor, technology, and costs, through improvements in renewable energy
infrastructure, access to green finance, and support for labor transition
Keywords: Cac-bon market, complementary, Vietnam.
1. Học viện Ngoại giao. Email: lamntt@dav.edu.vn
2. Học viện Ngoại giao. Email: diepn2005@gmail.com

1468
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
1. Giới thiệu
Theo số liệu thống kê, trong suốt khoảng thời gian từ những năm 2010, lượng khí thải liên tục
tăng mạnh và đạt 344 triệu tấn CO2 vào năm 2022. Xu hướng này đã khiến Việt Nam đứng thứ 17
trong bảng xếp hạng phát thải toàn cầu. Xét trên cơ cấu phát thải ngành, lượng khí nhà kính tập trung
vào 3 nhóm ngành: năng lượng, nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng (Tri và cộng sự, 2023).
Lượng phát thải khổng lồ này đã mang lại vô vàn tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội cho Việt
Nam như tăng tần suất của thảm hoạ tự nhiên, gây ra những vấn đề về sức khoẻ,... từ đó gián tiếp ảnh
hưởng đến kinh tế khi ảnh hướng đến đầu vào sản xuất,... Trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước
luôn chú trọng quan tâm và tập trung giải quyết vấn đề phát thải hướng đến phát triển bền vững. Việt
Nam hiện là một trong số 147 quốc gia cam kết đưa mức phát thải ròng về 0 vào năm 2050 tại Hội
nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26).
Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam đang nỗ lực triển khai kế hoạch với các bộ, ngành, địa phương
và lĩnh vực nhằm đưa ra phương hướng kiểm kê, kiểm soát và cắt giảm khí nhà kính (Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024a). Trong đó, triển khai toàn diện kế hoạch thị trường cac-bon là một
trong những ưu tiên được Đảng và Nhà nước gấp rút thực hiện. Thị trường cac-bon bắt buộc khi
được đưa vào hoạt động được kì vọng sẽ mang lại nhiều lợi ích về môi trường và kinh tế cho Việt
Nam nhờ cơ chế thị trường linh hoạt. Đồng thời, khẳng định cam kết của Việt Nam trong các thỏa
thuận quốc tế và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay thị trường cac-bon Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn sơ khai. Dù Đảng
và Nhà nước đã có lộ trình xây dựng, cơ sở pháp lý nhất định nhưng vẫn chỉ ở mức khái quát và còn
nhiều khoảng trống. Đồng thời, vấn đề làm sao để thúc đẩy sự tham gia của các bên vào thị trường
cac-bon cũng chưa được giải quyết triệt để. Bởi lẽ, chính sách thị trường cac-bon mới chỉ được xem
xét một cách độc lập mà chưa phối hợp linh hoạt với những khuôn khổ pháp lý xanh khác. Bên cạnh
đó, những vấn đề và khó khăn khi tham gia thị trường này của doanh nghiệp cũng chưa được đề ra.
Cuối cùng, vai trò của các bên như tổ chức tài chính, người tiêu dùng trong phát triển thị trường.
Thực tế các nghiên cứu trước cho thấy, chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định
liệu thị trường cac-bon có hiệu quả hay không. Chính vì vậy, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và các
chính sách liên quan cho thị trường cac-bon là vô cùng cần thiết. Bài viết trước hết sẽ đánh giá thị
trường cac-bon tại Việt Nam. Dựa trên những tồn tại và hạn chế đó sẽ đưa ra những kiến nghị và điều
chỉnh cần thiết bao gồm tận dụng thời gian thí điểm, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh, thúc
đẩy sự tham gia của các bên và giải quyết khó khăn của doanh nghiệp khi tham gia.
2. Cơ sở lý thuyết, tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết, tổng quan tài liệu
2.1.1. Tổng quan về th trờng cac-bon
Vào năm 1997, thị trường tín chỉ cac-bon đã được đề cập trong Nghị định thư Kyoto của Liên
Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024b). Trong đó, thị trường
cac-bon là một phạm trù rộng bao gồm thị trường tự nguyện và bắt buộc (UNESCAP). Với thị
trường tự nguyện, đối tượng giao dịch là cá nhân, tổ chức hay quốc gia dựa trên sự tự nguyện đóng
góp cùng trách nhiệm xã hội trong giảm thiểu dấu chân cac-bon thông qua thoả thuận hợp tác song
phương, đa phương (VnExpress, 2024). Ngược lại, với thị trường bắt buộc, việc giảm khí thải được

1469
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
vận hành theo cơ chế cap-and-trade (giới hạn và trao đổi). Lượng khí thải được giới hạn thông qua
hạn ngạch được chính phủ đề ra. Trong trường hợp các doanh nghiệp phát thải vượt mức cho phép
sẽ phải mua bù đắp cho lượng xả thải này trên thị trường cac-bon. Ngược lại, những cơ sở phát thải
ít hơn cho phép hay có thể giảm, hấp thụ được khí thải có thể kiếm thêm lợi nhuận trên thị trường
này. Sản phẩm được giao dịch gồm có hai loại tài sản cac-bon chính: tín chỉ cac-bon và hạn ngạch
phát thải. Trong đó, tín chỉ cac-bon ghi nhận lượng phát thải mà một dự án cắt giảm, hấp thụ được.
Mặt khác, hạn ngạch phát thải được cấp bởi Nhà nước cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,... thể hiện
mức khí nhà kính tối đa được xả thải. Giá cả trao đổi của tín chỉ, hạn ngạch cac-bon sẽ được quyết
định bởi các yếu tố thuộc cung - cầu và sự điều chỉnh của chính phủ thông qua dự trữ hay hạn ngạch
phân bổ. Vấn đề này đã được Chang và công sự (2018) nghiên cứu thông qua phương pháp tổng
quan tài liệu. Theo nhóm tác giả, cung phụ thuộc vào hạn ngạch được phân bổ và lượng phát hành
bù trừ. Cầu sẽ phụ thuộc vào giá tín chỉ, hạn ngạch cac-bon thuộc thị trường nội địa và các thị trường
khác, giá nguyên liệu, nhận thức về nền kinh tế cac-bon thấp, tương lai của phát thải, số lượng doanh
nghiệp trong thị trường cac-bon và các yếu tố khác như chính trị hay thời tiết. Ngoài ra, chính phủ có
thể tác động đến giá cả của những sản phẩm này thông qua dự trữ chính phủ và các quy định khác.
2.1.2. Tc đng của th trờng cac-bon
Với cơ chế này, quốc gia có thể giảm thiểu tổng thải cac-bon thông qua giới hạn xả thải của
doanh nghiệp. Yêu cầu bù đắp lượng khí thải vượt mức thông qua mua tín chỉ trên thị trường sẽ
làm tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp và giảm lợi thế cạnh tranh của họ. Trong bối cảnh
đó, doanh nghiệp sẽ nỗ lực cắt giảm lượng khí thải về mức cho phép để tối ưu hoá chi phí sản xuất.
Quá trình này sẽ là động cơ thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang năng lượng sạch và công nghệ
ít phát thải cắt giảm lượng khí dư thừa. Sau nhiều năm đưa vào hoạt động kể từ sự ra đời thị trường
cac-bon đầu tiên vào năm 2003 tại Liên minh Châu Âu, sáng kiến này đã mang lại nhiều ảnh hưởng
tích cực và được khẳng định trong nhiều nghiên cứu. Tác động trong khía cạnh môi trường có thể
được thấy rõ khi so sánh giữa những khu vực áp dụng và không áp dụng thị trường cac-bon trong
cùng khu vực quốc gia bằng mô hình DID (Difference-in-Differences) trong nghiên cứu của Wei
và cộng sự (2020). Cụ thể, theo nghiên cứu tổng thể tại các địa phương thí điểm chứng kiến sự suy
giảm trong tổng phát thải cac-bon và tích tụ cac-bon. Đặc biệt, lượng phát thải cac-bon ở Bắc Kinh
giảm 24,4%, tích tụ cac-bon giảm 22.7% so với trước khi áp dụng hạn ngạch cac-bon. Bên cạnh tạo
giới hạn phát thải cho các doanh nghiệp, những tác động tích cực của thị trường cac-bon đến môi
trường có thể được giải thích qua sự thúc đẩy sáng chế công nghệ sạch thể hiện qua số lượng bằng
sáng chế xanh tăng lên trong giai đoạn nghiên cứu trong nghiên cứu của Raphael và Antoine (2013)
bằng phương pháp ước lượng Tobit. Không chỉ vậy, nghiên cứu về thị trường cac-bon chính như EU,
Úc, Mỹ, Trung Quốc của Pollitt (2019) chỉ ra rằng xu hướng tái cấu trúc ngành năng lượng, giảm
tiêu thụ năng lượng hoá thạch và chuyển đổi tập trung vào năng lượng sạch cũng góp phần giảm khí
thải nhà kính. Bên cạnh những tác động tích cực đến môi trường, các nghiên cứu cũng chỉ ra những
đóng góp của sáng kiến này đến nền kinh tế. Cụ thể, trong hai nghiên cứu về thị trường cac-bon kể
ở Trung Quốc, nền kinh tế trong thời gian này nhận được những ảnh hưởng tích cực khi lợi tức kinh
tế tăng 13,6%. Bài nghiên cứu của Yifei và Feng (2019) cũng khẳng định việc tham gia thị trường
cac-bon thúc đẩy phát triển kinh tế vi mô và vĩ mô thông qua thiết lập một thị trường mới trao đổi tín
chỉ, hạn ngạch cac-bon và các sản phẩm phái sinh khác, thúc đẩy chuyển đổi sang sản xuất và công
nghệ xanh, đồng thời, tăng danh tiếng cho những doanh nghiệp tham gia. Trên khía cạnh chính trị,

1470
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
việc thiết lập thị trường cac-bon còn giúp nâng cao uy tín trên trường quốc tế khi khẳng định sự cam
kết của mình với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh hợp tác với các nước khác trong giải quyết vấn đề an
ninh phi truyền thống này thông qua xây dựng thị trường cac-bon khu vực và toàn cầu.
Tuy nhiên, những tác động của thị trường cac-bon đến môi trường, kinh tế và xã hội là hai mặt.
Bên cạnh những chỉ số tích cực, sáng kiến này cũng đồng thời mang lại những ảnh hưởng tiêu cực
bao gồm giảm tăng trưởng kinh tế và gây ra những vấn đề xã hội khác. Cụ thể, Yaqian và cộng sự
(2018) đã chỉ ra sự đánh đổi của Trung Quốc cho những hiệu ứng tích cực của thị trường cac-bon
đến môi trường là sự suy giảm 0,43% GDP ước tính năm 2030 so với BAU. Trong ngắn hạn, nền
kinh tế Trung Quốc cũng chứng kiến sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp do thừa lao động trong các
ngành thâm dụng năng lượng. Tương tự, bài nghiên cứu của Yifei và Feng (2019) chỉ ra rằng, việc
áp dụng thị trường cac-bon cũng mang lại những đánh đổi và những phản ứng phụ nhất định như sự
phân bổ không đồng đều lợi ích xã hội, sự mất kiểm soát của chính phủ trong thị trường cac-bon hay
mất đi lợi thế cạnh tranh trong những ngành thâm dụng năng lượng, đặc biệt nếu các chính sách về
thị trưởng cac-bon không được hoạch định hiệu quả.
Có thể thấy, các bài nghiên cứu đều đồng tình về tác động của thị trường cac-bon đến môi
trường. Tuy nhiên, tác động đến kinh tế xã hội còn có nhiều tranh cãi. Sự khác biệt trong kết quả
nghiên cứu này có thể được giải thích bởi những tác động tiêu cực đi kèm của thị trường cac-bon
hoàn toàn có thể đảo ngược thông qua thể chế chính sách phù hợp. Cả hai bài nghiên cứu của Yaqian
và cộng sự (2018), Yifei và Feng (2019) đều khẳng định rằng sự can thiệp của chính phủ thông qua
những chính sách kết hợp với thị trường cac-bon như thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, chuyển
đổi lao động sang các ngành kinh tế xanh,... sẽ làm giảm gành nặng cho tăng trưởng kinh tế, đồng
thời, thúc đẩy phát triển bền vững trong dài hạn. Bên cạnh đó, mức độ thành công trong giảm thiểu
phát thải và ảnh hưởng của thi trường cac-bon đến kinh tế sẽ phụ thuộc vào sự hiệu quả của chính
sách điều chỉnh thị trường cac-bon. Trong nghiên cứu về thí điểm thị trường cac-bon ở Trung Quốc,
Shao Zhou và cộng sự (2021) đã khẳng định điều này khi chỉ ra sự chênh lệch về tác động đến kinh
tế, xã hội, môi trường giữa 7 địa phương do sự tự chủ trong chính sách. Kate (2017) đã khẳng định
tầm quan trọng của chính sách trong quyết định và điều chỉnh giá giao dịch trên thị trường cac-bon
khi chỉ rằng nếu mức giá quá thấp cho tín chỉ cac-bon sẽ không thể mang lại những hiệu quả mong
muốn của thị trường này.
2.1.3. Th trờng cac-bon tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thị trường cac-bon cũng là một đề tài nhận được nhiều quan tâm. Lã Việt Phương
& Nguyễn Minh Hoàng (2023), Phan Thị Hằng Nga và cộng sự (2024) trong nghiên cứu của mình
đã khẳng định những tác động tích cực đến kinh tế và môi trường tương tự như các nghiên cứu quốc
tế mà Việt Nam có thể nhận được khi tham gia thị trường cac-bon. Về thực trạng, Cao Hồng Quân &
Lê Nhật Hồng (2023), Võ Trung Tín và Lê Duy Khang (2024), Phạm Thu Thuỷ và cộng sự (2024)
đã xem xét, tổng hợp và đánh giá hệ thống pháp luật hiện tại của thị trường cac-bon Việt Nam. Các
bài viết đều đồng tình rằng, hiện nay, Đảng và Nhà nước đã có những định hướng và nền tảng pháp
luật nhất định để triển khai thị trường cac-bon. Tuy nhiên, những luật lệ còn mang tính tản mạn,
phức tạp và có tính chất đặt nặng lên các cơ sở phát thải khi yêu cầu nhiều loại báo cáo với nhiều
đầu mối nhận. Bên cạnh đó, cách thức phân bổ, bản chất pháp lý và những quy định chi tiết về giao
dịch trên thị trường cac-bon cũng chưa được làm rõ và đề ra. Từ đó, những nghiên cứu chỉ ra rằng,

1471
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
việc đề ra một khuôn khổ pháp lý hoàn thiện là vô cùng cần thiết. Để giải quyết câu hỏi này, nhiều
tác giả đã học hỏi bài học từ các quốc gia như nghiên cứu của Đạt và Hà (2023), Nguyễn Hoàng
Nam (2023), Nguyễn Ngọc Khánh Linh & Nguyễn Duy Thanh (2024) đã xem xét tổng quan các thị
trường cac-bon nổi bật trên thế giới như Mỹ, EU, New Zealand,... từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Nguyễn Minh Đức và cộng sự (2023) thông qua mô hình SWOT cũng đánh giá thị trường cac-bon
của Trung Quốc và đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam. Tuy nhiên, điểm chung của các nghiên
cứu này là đều chỉ đi qua tổng quan về các thị trường, chưa đi sâu vào phân tích những khía cạnh cụ
thể như cơ chế định giá, phân phối tín chỉ, quá trình từ thí điểm đến thực tế,... Không chỉ vậy, những
giải pháp đưa ra cho Việt Nam mới chỉ tập trung vào khía cạnh hoàn thiện thể chế pháp luật cho thị
trường cac-bon ở Việt Nam mà chưa đưa ra phương hướng cụ thể để đảm bảo sự hiệu quả của những
chính sách này trên thực tế. Bên cạnh đó, làm sao để thúc đẩy tham gia thị trường cac-bon của các
bên cũng chưa được trả lời. Những chính sách được khuyến nghị cũng chỉ xét thị trường cac-bon
một cách độc lập mà chưa đề ra phương hướng để kết hợp hài hòa với những sáng kiến khác như tài
chính, năng lượng tái tạo,... để thúc đẩy sự tham gia và hiệu quả của thị trường này. Vì vậy, bài viết
này sẽ bù đắp những khoảng trống nghiên cứu thông qua trả lời câu hỏi “Việt Nam có thể làm gì để
thúc đẩy thị trường tín chỉ cac-bon?”.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính thông qua việc tổng hợp, phân tích các thông tư, nghị định, văn bản pháp
luật cũng như những nghiên cứu đi trước liên quan đến thị trường cac-bon tại Việt Nam và quốc tế.
Từ đó, bài viết đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng của vấn đề nghiên cứu, qua đó rút ra được
những đánh giá và kiến nghị xây dựng hoàn thiện thị trường cac-bon tại Việt Nam cũng như thúc
đẩy sự hiệu quả và tham gia vào thị trường này. Đồng thời, những vấn đề, công cụ liên quan khác
cũng được nhóm tác giả thống kê số liệu, nghiên cứu và đưa ra nhận xét đánh giá như tình hình phát
thải của Việt Nam từ năm 2010 - 2022, tình hình phát triển năng lượng tái tạo, nhân công và trình độ
trong chuyển đổi xanh hay tình hình của các tổ chức tài chính trong khuôn khổ nghiên cứu. Việc mở
rộng phạm vi nghiên cứu ra ngoài những chính sách của thị trường cac-bon giúp nhóm tác giả nhìn
nhận vấn đề một cách tổng quan, liên kết với những công cụ, chính sách, sáng kiến trong giảm thiểu
khí nhà kính của Chính phủ để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Thực trạng thị trường cac-bon ở Việt Nam
3.1.1. Xây dựng đc l trình thực hiện bi bản v rõ rng
Nhằm thúc đẩy hoàn thiện áp dụng thị trường cac-bon nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát
thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đã xây dựng một lộ trình triển khai theo từng giai đoạn
(Nguyễn Thành Nghiệp và Nguyễn Hưng Hà, 2023). Theo kế hoạch, việc áp dụng thị trường cac-
bon sẽ trải qua hai mốc chính: (i) 2021 - 2027: giai đoạn chuẩn bị; (iii) sau 2028: giai đoạn vận hành.
Cụ thể, trong giai đoạn đầu tiên, Đảng và Nhà nước tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật, hướng
dẫn cụ thể để đưa thị trường cac-bon vào thực tế thông qua học hỏi bài học từ quốc tế, thử nghiệm
cơ chế và nâng cao nhận thức và năng lực. Công tác chuẩn bị của Việt Nam hiện nay Đảng chuẩn
bị bước tới công đoạn thí điểm. Cụ thể, trong khoảng thời gian 2025 - 2027, Việt Nam sẽ áp dụng
thị trường cac-bon trên phạm vi hẹp để kiểm định. Theo thông tin của Bộ tài nguyên và Môi trường,

