
1219
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN NHẰM HẠN CHẾ
BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP TẠI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI:
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Lê Thị Phương Linh(1), Nguyễn Phương Trang(2), Hồ Thị Hồng(3)
TÓM TẮT:
Ti chính ton diện đc xem l mt chin lc quan trọng trong nỗ lực giảm nghèo v hạn ch
bất bình đẳng thu nhập, từ đó thúc đẩy pht trin kinh t bền vững, đặc biệt tại cc quc gia đang
pht trin. Nghiên cứu ny thực hiện mt phân tích tổng quan mang tính hệ thng nhằm khm ph
kinh nghiệm ứng dụng ti chính ton diện trên th gii, từ đó rút ra những bi học phù hp cho bi
cảnh Việt Nam. Dựa trên phơng php phân tích ti liệu, nghiên cứu, khai thc cc kt quả nổi bật
từ cc công trình nghiên cứu trc đây, cụ th tập trung phân tích cc trờng hp đin hình về ứng
dụng fintech tại cc quc gia châu Phi; phơng php nâng cao nhận thức v hỗ tr cc nhóm yu
th tại cc quc gia BRICS v chính sch ti chính ton diện ở Brazil v Ấn Đ. Kt quả cho thấy,
việc mở rng khả nng tip cận ti chính, thúc đẩy đổi mi công nghệ trong lĩnh vực ti chính v
thit lập khung chính sch hỗ tr ton diện l nền tảng đ giảm bất bình đẳng thu nhập. Từ cc bi
học quc t, nghiên cứu đề xuất mt s đnh hng chin lc nhằm ti u ho vai trò của ti chính
ton diện trong công cuc xây dựng mt nền kinh t công bằng v bao trùm tại Việt Nam.
Từ khoá: Ti chính ton diện, bất bình đẳng thu nhập, fintech, chính sch ti kho, hỗ tr nhóm
yu th.
ABSTRACT
Financial inclusion is regarded as a key strategy in efforts to reduce poverty and income
inequality, thereby promoting sustainable economic development, especially in developing
countries. This study conducts a systematic review to explore global experiences in implementing
financial inclusion, drawing lessons applicable to Vietnam’s context. Using a literature analysis
method, the research highlights notable findings from previous studies, focusing specifically on case
studies of fintech applications in African countries, approaches to raising awareness and supporting
vulnerable groups in BRICS nations, and financial inclusion policies in Brazil and India. The results
reveal that expanding financial access, fostering technological innovation in the financial sector,
1. Đại học Kinh tế quốc dân. Email: 20le.phuong.linh@gmail.com
2, 3. Đại học Kinh tế quốc dân.

1220
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
and establishing a comprehensive policy framework are fundamental to reducing income inequality.
Based on international lessons, the study proposes several strategic directions to optimize the role
of financial inclusion in building a fair and inclusive economy in Vietnam.
Key Words: Financial inclusion, income inequality, fintech, fiscal policy, support for vulnerable groups.
1. Giới thiệu (done)
Tài chính toàn diện, khả năng tiếp cận phổ cập các dịch vụ và sản phẩm tài chính đã nổi lên
như một động lực quan trọng của phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng trên
toàn thế giới (Kara và cộng sự, 2021; Mugo và Kilonzo, 2017). Tài chính toàn diện được xem là gắn
liền với quá trình kể trên, vì nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và giúp các nhóm dễ bị tổn
thương tiếp cận các cơ hội (Nguyen và Le, 2022). Trong bối cảnh các thị trường mới nổi, tài chính
toàn diện đặc biệt quan trọng vì nó có thể góp phần thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo (Chen và cộng sự, 2018). Mặc dù trong những thập kỷ gần đây, có rất nhiều sự thay đổi lớn
mang tính tích cực trong việc mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, tuy nhiên
vẫn còn tồn tại một phần lớn dân số trên toàn cầu vẫn bị loại khỏi hệ thống tài chính. Sự loại trừ
này ảnh hưởng bất cân xứng đến các nhóm người bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương, cản trở khả năng
tích lũy tài sản, đầu tư vào giáo dục và ứng phó với những cú sốc tài chính không lường trước được
(Mendoza, 2010; WB, 2020). Vai trò của tài chính toàn diện không chỉ đơn thuần là tiếp cận các dịch
vụ tài chính cơ bản mà nó còn bao gồm việc trao quyền cho các cá nhân tham gia hiệu quả vào hệ
thống tài chính chính thức, bất kể mức thu nhập hoặc địa vị xã hội của họ. Điều này bao gồm quyền
truy cập vào tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và người trả tiền.
Trong khi nhiều nhà hoạch định chính sách đã thúc đẩy việc tăng cường tài chính toàn diện,
các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác động của việc bao gồm tài chính không giống nhau ở mọi quốc
gia, các quốc gia khác nhau với mức độ phát triển khác nhau phản ứng với tài chính toàn diện theo
cách khác nhau (Neaime và Gaysset, 2018; Park và Mercado, 2018). Vì vậy, nghiên cứu này nhằm
cung cấp một cái nhìn toàn diện, khách quan tổng hợp dựa trên cơ sở dựa trên lý thuyết nghiên cứu
trước đó nhằm lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu. Hơn nữa, nghiên cứu của chúng tôi cho rằng
tài chính toàn diện có mối quan hệ tích cực đáng kể với bất bình đẳng thu nhập, điều này giúp cho
các nhà hoạch định chính sách sử dụng các công cụ chính sách liên quan tài chính toàn diện như một
công cụ để giảm bất bình đẳng thu nhập. Từ đó đưa ra bài học phù hợp với tình hình thực tiễn trong
bối cảnh quốc gia Việt Nam.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Khi niệm ti chính ton diện
Tài chính toàn diện đã và đang thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính
sách do vai trò của nó trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp
Quốc. Tài chính toàn diện được xem như công cụ để thúc đẩy ít nhất một trong số mười bảy mục
tiêu của SDG, bao gồm mục tiêu giảm bất bình đẳng (SDG 10) (Klapper và cộng sự, 2016; Kuada,
2019). Do có nhiều lợi ích của nó, các nhà hoạch định chính sách trên khắp thế giới đã đưa tài chính

1221
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
toàn diện như một khía cạnh không thể thiếu của sự phát triển quốc gia để làm cho tăng trưởng kinh
tế trở nên toàn diện và hướng tới mục tiêu bền vững trong dài hạn (Feghali và cộng sự, 2021; Shaban
và cộng sự, 2020).
Tài chính toàn diện được định nghĩa là việc cung cấp, tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và
dịch vụ tài chính cho các tất cả mọi người bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, đặc biệt là đối với
những người nghèo hoặc nhóm dễ bị tổn thương hơn trong xã hội (Sarma, 2008; Omar và Inaba,
2020). Bổ sung thêm khái niệm có trước, theo Ozili (2023), tài chính toàn diện được định nghĩa là
việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức giá cả phải chăng cho người dân. Bao gồm tài chính
có nghĩa là các cá nhân và doanh nghiệp có quyền truy cập vào các sản phẩm và dịch vụ tài chính
hữu ích và giá cả phải chăng, đảm bảo quyền sử dụng không hạn chế của tất cả các thành viên trong
cộng đồng để nó giống như một hàng hoá công cộng, nhằm nâng cao phúc lợi của họ (Ozili, 2021).
Do đó, mọi người đều được hưởng lợi từ tài chính toàn diện bất kể địa vị và mức thu nhập, có nghĩa
là cả người giàu và người nghèo đều có thể hưởng lợi ích của tài chính toàn diện như nhau (Park và
Mercado, 2018).
2.1.2. Bất bình đẳng thu nhập
Có hai cách tiếp cận bất bình đẳng thu nhập chủ yếu được sử dụng. Cách đầu tiên dựa trên hệ
số Gini (một trong những chỉ số rất phổ biến trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Liu và
Gastwirth, 2020; Acheampong và cộng sự, 2023, Wang và Jv, 2023). Theo đó, năm 2019, chỉ số Gini
được Tổng cục Thống kê đưa ra bằng công thức:
Trong đó:
• là tỷ lệ cộng dồn của dân số đến người thứ i
• là tỷ lệ cộng dồn của thu nhập đến người thứ i
Trên thực tế, hệ số Gini nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1, hệ số càng tiến gần đến 1 thì biểu
hiện mức độ bất bình đẳng thu nhập càng tăng dần và ngược lại.
Cách tiếp cận thứ hai là chỉ số tỷ lệ chênh lệch của nhóm giàu nhất và nghèo nhất. Tại Việt Nam,
Tổng cục Thống kê (2000) đã đưa ra cách tính nhằm phản ánh chênh lệch giữa nhóm giàu và nghèo
bằng việc lấy thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% dân số giàu nhất chia cho thu nhập bình
quân đầu người của 20% dân số nghèo nhất để ra được một tỷ số. Tỷ số càng lớn, chênh lệch thu
nhập 2 nhóm càng cao, bất bình đẳng thu nhập càng lớn.
2.1.3. Mi quan hệ giữa ti chính ton diện v bất bình đẳng thu nhập
Nghiên cứu của Turegano và Herrero (2018) khẳng định rằng tài chính toàn diện là một trong
những chính sách của các cơ quan quản lý quan trọng để giảm bất bình đẳng thu nhập. Một số nghiên
cứu trước đó đã chỉ ra rằng tài chính toàn diện làm giảm bất bình đẳng thu nhập (Dabla-Norris và
cộng sự, 2015; Mookerjee và Kalipioni, 2010; Neaime và Gaysset, 2018). Gần đây hơn, Koomson
và cộng sự (2020) cũng tuyên bố rằng tài chính toàn diện càng tăng thì làm càng làm giảm bất bình
đẳng thu nhập vì nó tập trung vào việc tăng khả năng tiếp cận của người nghèo với các sản phẩm và

1222
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
dịch vụ tài chính chính thức. Fujimoto và Uddin (2021) cũng xác nhận tác động theo chu kỳ của tài
chính / kinh tế toàn diện với hòa nhập xã hội để thúc đẩy trao quyền kinh tế.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh (2019), khi khu vực tài chính phát triển
mạnh vượt ngưỡng có tác động giảm bất bình đẳng. Tóm lại, một cách tổng quan, đánh giá tài liệu
toàn diện hiện có cho thấy nhiều nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tài chính toàn diện đối
với bất bình đẳng đi trước tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa tài chính toàn diện và bất bình đẳng
thu nhập, tuy nhiên các nghiên cứu hiện có còn tồn tại những hạn chế nhất định về dữ liệu thu thập,
thời gian thu thập và kỹ thuật kinh tế lượng (Galvez-Sanchez và cộng sự, 2021; Khan và cộng sự,
2022) cũng như phần nhiều nghiên cứu hiện có đang chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ở các nước
phát triển (Huang và Zhang, 2020; Lusardi và Mitchell, 2014), đó cũng là một trong những khoảng
trống để nhóm nghiên cứu tiếp tục đi sâu vào quá trình phân tích mối quan hệ này đặt trong bối cảnh
Việt Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách tổng hợp lý thuyết và kinh nghiệm từ các nghiên cứu
trước, đồng thời phân tích các báo cáo thực tiễn và tài liệu của các tổ chức quốc tế về tài chính toàn
diện. Trọng tâm của phương pháp là nghiên cứu định tính, trong đó sử dụng các dữ liệu thứ cấp từ
các bài viết khoa học, báo cáo quốc tế và các chương trình triển khai thực tế tại các quốc gia và khu
vực đang phát triển.
Các quốc gia, khu vực và tổ chức được xem xét thu thập dữ liệu như Brazil, Ấn Độ, các nước
BRICS và một số quốc gia châu Phi đều có những đặc kiểm kinh tế xã hội tương tự với Việt Nam.
Thứ nhất, hầu hết các nước này đều có tỷ lệ dân số nông thôn cao và đối mặt với khoảng cách phát
triển lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn. Tình trạng người dân vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận
với dịch vụ tài chính chính thức là thách thức chung. Thứ hai, các nước này có tỷ lệ thu nhập không
đồng đều giữa các nhóm dân cư, với nhóm yếu thế, như phụ nữ, người lao động tự do hoặc người
dân tộc thiểu số, gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận tài chính. Thứ ba, các quốc gia đang phát triển
này đều có sự chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư, hạn chế trong khả năng tiếp cận tài chính
chính thức của người dân vùng nông thôn, và nhu cầu phát triển các công cụ tài chính sáng tạo nhằm
hỗ trợ các nhóm yếu thế. Những kinh nghiệm quốc tế này có thể là cơ sở quan trọng để Việt Nam
thiết kế và triển khai các chính sách tài chính toàn diện hiệu quả hơn, góp phần giảm bất bình đẳng
thu nhập và thúc đẩy phát triển bền vững.
3. Kinh nghiệm quốc tế
3.1. Fintech trong triển khai tài chính toàn diện tại các quốc gia châu Phi
Ashenafi và Dong (2022) đã công bố nghiên cứu ứng dụng fintech trong tài chính toàn diện.
Nhờ áp dụng những công cụ này đã mang lại những tác động tích cực trong việc giảm thiểu bất bình
đẳng thu nhập ở các quốc gia châu Phi. Cụ thể, fintech với các công nghệ như thanh toán di động,
ví điện tử, và các dịch vụ tài chính trực tuyến, giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho
những nhóm dân cư trước đây không thể tiếp cận, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn và những
người có thu nhập thấp. Các quốc gia châu Phi đã triển khai những sáng kiến fintech để tạo điều
kiện cho người dân dễ dàng tham gia vào hệ thống tài chính, như dịch vụ chuyển tiền di động (ví dụ
M-Pesa ở Kenya) giúp người dân không cần phải đến ngân hàng để giao dịch. Điều này giúp giảm

1223
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
thiểu chi phí giao dịch và thời gian, tạo ra cơ hội cho người nghèo tham gia vào nền kinh tế chính
thức. Hơn nữa, fintech giúp cung cấp các sản phẩm tài chính vi mô, cho phép người dân vay mượn,
tiết kiệm và bảo hiểm với những điều kiện dễ dàng hơn. Các công cụ này đặc biệt có tác động mạnh
mẽ đến việc giảm bất bình đẳng thu nhập bằng cách tăng cường sự tham gia của các nhóm dân cư
yếu thế vào nền kinh tế và hệ thống tài chính, từ đó cải thiện cơ hội tài chính và giảm khoảng cách
thu nhập giữa các nhóm dân cư.
3.2. Nâng cao nhận thức và hỗ trợ các nhóm yếu thế trong tiếp cận tài chính toàn diện tại
các quốc gia BRICS
Bài viết của Minchichova và Petrihenko (2024) trình bày các công cụ và phương pháp tiếp cận
nhằm nâng cao hiệu quả tài chính và hội nhập tài chính tại các quốc gia BRICS, bao gồm Brazil,
Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Nga. Các quốc gia BRICS đã ứng dụng tài chính toàn diện như
một công cụ quan trọng để giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập thông qua các chiến lược và công cụ
cụ thể. Ở Ấn Độ và Nam Phi, các chương trình giáo dục tài chính đặc biệt tập trung vào doanh nhân
nữ và các nhóm dễ bị tổn thương, giúp họ hiểu rõ hơn về các công cụ tài chính và quản lý tài chính
cá nhân. Trong khi đó, Nga chú trọng hình thành văn hoá tài chính và kỹ năng tài chính cho người
dân, đặc biệt là các doanh nhân. Các dịch vụ tài chính di động được triển khai ở Brazil, Trung Quốc
và Ấn Độ đã giúp người dân ở khu vực nông thôn tiếp cận dịch vụ ngân hàng, giảm khoảng cách
giữa các khu vực phát triển và chưa phát triển. Nam Phi sử dụng sản phẩm tài chính vi mô để giúp
người có thu nhập thấp tham gia vào hệ thống tài chính, trong khi Trung Quốc và Brazil phát triển
tín dụng vi mô và bảo hiểm vi mô giúp giảm rủi ro tài chính cho những hộ gia đình nghèo. Nga hỗ
trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) thông qua các khoản vay ưu đãi và nền tảng tài chính, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp phát triển và giảm bất bình đẳng thu nhập. Cuối cùng, Trung Quốc tập
trung vào cung cấp công cụ tài chính cho học sinh và sinh viên để giúp họ quản lý tài chính cá nhân
và giảm nợ sinh viên, từ đó tạo ra thế hệ công dân có khả năng quản lý tài chính tốt hơn trong tương
lai. Những công cụ tài chính này đã giúp các quốc gia BRICS cải thiện khả năng tiếp cận tài chính
của các nhóm dân cư khác nhau, góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập trong xã hội.
Nghiên cứu của Minchichova và Petrichenko (2024) cho thấy các quốc gia BRICS vẫn gặp
nhiều hạn chế trong thúc đẩy tài chính toàn diện, bao gồm chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ giữa
thành thị và nông thôn, mức độ hiểu biết tài chính của người dân còn thấp và khó khăn trong áp
dụng công nghệ số. Ví dụ, tại Nga và Nam Phi, nhiều người vẫn chưa có đủ kiến thức để sử dụng
các dịch vụ tài chính hiệu quả, trong khi ở Ấn Độ và Brazil, việc mở rộng tài chính số gặp trở ngại
do hạ tầng chưa đồng bộ. Từ đó, Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm bằng cách đưa giáo dục
tài chính vào chương trình học phổ thông, khuyến khích sử dụng công nghệ số trong các dịch vụ tài
chính và mở rộng mạng lưới ngân hàng tại khu vực nông thôn nhằm giảm khoảng cách tiếp cận giữa
các nhóm dân cư.
3.3. Cải thiện chính sách tài khoá về tài chính toàn diện ở Brazil và Ấn Độ
Nghiên cứu của Turégano và Herrero (2018) chỉ ra rằng cải thiện chính sách tài khoá liên quan
đến tài chính có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện và giảm bất bình
đẳng thu nhập. Một ví dụ cụ thể là chương trình Bolsa Família ở Brazil. Đây là chương trình chuyển
giao tiền mặt có điều kiện (Conditional Cash Transfer - CCT), trong đó các hộ gia đình nghèo nhận

