
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
49
1. Đặt vấn đề
Theo một nghiên cứu năm 2021 của Cơ quan
Năng lượng Quốc tế (IEA), có tới 37% lượng phát thải
khí nhà kính toàn cầu là do vận tải. Tại Việt Nam, vận
tải đường bộ, một trong những khâu quan trọng nhất
của hoạt động hậu cần logistics, chiếm đến 85%
lượng khí thải CO₂. Mỗi năm Việt Nam cũng thải ra
môi trường khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, phần
lớn trong số đó là từ bao bì sản phẩm. Ngành logistics
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bình quân
14-16%/năm. Chính phủ cũng đã xác định logistics là
một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể
nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Song trước những tác động tiêu cực từ hoạt động
logistics đến môi trường, một yêu cầu cấp thiết đối
với Việt Nam là phải phát triển ngành logistics một
cách bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, các
hiệp định thương mại như EVFTA, CPTPP yêu cầu
doanh nghiệp tuân thủ tiêu chuẩn môi trường khắt
khe, đồng thời các quốc gia phát triển cũng áp thuế
carbon đối với hàng hóa không đảm bảo yếu tố xanh.
Hơn nữa, người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sản
phẩm thân thiện với môi trường, do đó doanh nghiệp
áp dụng logistics xanh sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh
và nâng cao trách nhiệm xã hội. Việc triển khai
logistics xanh nhằm phát triển bền vững ngành
THÚC ĐẨy LOGISTICS XANH NHẰM PHÁT TrIểN BỀN VỮNG NGÀNH LOGISTICS
TạI VIỆT NAM
ThS. Trần ThAnh huyền*
Ngày nhận: 15/2/2025
Ngày phản biện: 15/3/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp gây ra những hậu quả nghiêm trọng,
việc tìm kiếm các giải pháp phát triển bền vững trong mọi lĩnh vực trở thành một yêu cầu cấp thiết. Logistics là một lĩnh vực quan
trọng của nền kinh tế, song các hoạt động logistics lại có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường. Do đó, logistics xanh đang nổi lên
như một xu hướng tất yếu, không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động và tối ưu hóa chi phí cho doanh nghiệp, giúp phát triển ngành logistics một cách bền vững. Bài viết dưới đây sẽ tập trung làm
rõ lí luận về logistics xanh và phát triển bền vững ngành logistics, đánh giá thực trạng áp dụng logistics xanh tại Việt Nam, đồng
thời, đề xuất các giải pháp thúc đẩy logistics xanh nhằm phát triển bền vững ngành logistics, góp phần giảm phát thải khí nhà kính,
tối ưu hóa sử dụng năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm. Thông qua đó, ngành logistics Việt Nam không chỉ nâng cao năng lực cạnh
tranh mà còn hướng đến một hệ thống vận hành hiện đại, thân thiện với môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về phát triển
bền vững.
Từ khóa: logistics; logistics xanh; môi trường; phát triển bền vững.
PROMOTING GREEN LOGISTICS FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF THE LOGISTICS INDUSTRY IN VIETNAM
Abstract: In the context of increasingly complex climate change and environmental pollution causing serious consequences, finding
sustainable development solutions in all fields has become an urgent requirement. Logistics is an important sector of the economy,
but logistics activities have a significant impact on the environment. Therefore, green logistics is emerging as an inevitable trend,
not only helping to minimize negative impacts on the environment but also contributing to improving operational efficiency and
optimizing costs for businesses, helping to develop the logistics industry in a sustainable way. The following article will focus on
clarifying the theory of green logistics and sustainable development of the logistics industry, assessing the current status of green
logistics application in Vietnam, and at the same time, proposing solutions to promote green logistics for sustainable development
of the logistics industry, contributing to reducing greenhouse gas emissions, optimizing energy use, and minimizing pollution.
Through this, Vietnam's logistics industry not only enhances its competitiveness but also aims for a modern, environmentally
friendly operating system that meets international standards for sustainable development..
Keywords: logistics; green logistics; environment; sustainable development.
* Trường Đại học Công đoàn

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
50
logistics không chỉ giúp bảo vệ môi trường, mà còn
nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh
và thu hút đầu tư, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, cải
thiện hình ảnh thương hiệu trong mắt khách hàng và
đối tác. Đây là xu hướng tất yếu giúp ngành logistics
Việt Nam phát triển mạnh mẽ và hội nhập toàn cầu.
Nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính và tập trung khai thác nguồn dữ
liệu thứ cấp. Dựa trên tổng hợp và phân tích các tài
liệu để đưa ra những nhận thức cơ bản nhất về mối
quan hệ giữa logistics xanh và phát triển bền vững
ngành logistics, đánh giá thực trạng triển khai
logistics xanh tại Việt Nam. Trên cơ sở đó giới thiệu
một số các giải pháp nhằm phát triển bền vững
ngành logistics.
2. cơ sở lý thuyết
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về logistic
xanh nhằm giảm tác động tới môi trường từ hoạt
động logistic như "A Review of Green Logistics
Schemes Used in Cities Around the World" của
Nikolaos Geroliminis và Carlos F. Daganzo (2005)
Nghiên cứu này tổng hợp các chương trình
logistics xanh được triển khai tại các thành phố trên
toàn cầu, đánh giá hiệu quả và thách thức trong việc
áp dụng. Hay công trình nghiên cứu "Green Logistics
- Global Practices and their Implementation in
Emerging Markets" của M. Thiell, J. Zuluaga, J.
Montanez và B. van Hoof (2011) đã phân tích cách
thực hành logistics xanh và khả năng triển khai tại các
thị trường mới nổi, nhấn mạnh vào việc áp dụng
công nghệ và quản lý hiệu quả.
Tại Việt Nam, logistics xanh cũng là chủ đề được
quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây. Các
bài viết như "Hoạt động logistics xanh tại Việt Nam:
Thực trạng, cơ hội và giải pháp thúc đẩy" của Đoàn
Thị Thu Trang và Nguyễn Khánh Linh (2024) hay
"Nghiên cứu thực trạng logistics xanh và chuyển đổi
số trong các doanh nghiệp logistics Việt Nam" của
Phan Đình Quyết (2023) và “Logistics xanh - giải pháp
chiến lược phát triển doanh nghiệp ngành logistics
tại Việt Nam” của Nguyễn Đình Quang (2024). Các bài
viết này đã phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp
phát triển logistics xanh, song chưa có công trình nào
nghiên cứu về phát triển bền vững ngành logistic
thông qua thực hiện logistics xanh.
2.1. Khái niệm
Logistic là một lĩnh vực liên quan đến việc quản lý,
vận chuyển và lưu trữ hàng hóa, vật tư hoặc thông tin
từ điểm xuất phát đến điểm đích một cách hiệu quả
và tiết kiệm chi phí. Trong bối cảnh kinh doanh và sản
xuất, logistics đảm nhận vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo nguồn lực được cung cấp đúng lúc, đúng
nơi và đúng số lượng.
Các yếu tố chính của logistics bao gồm vận tải,
kho bãi, đóng gói và bảo quản, thông tin và công
nghệ.
Logistics xanh: Theo Kutkaitis, Župerkienė (2011),
logistics xanh là hệ thống logistics mà năng lượng
được tiêu dùng hiệu quả và giảm tác hại đến môi
trường nhưng vẫn gia tăng hiệu quả lao động và tính
cạnh tranh.
Báo cáo Logistics Việt Nam 2022 đưa ra quan
điểm: Logistics xanh là hoạt động logistics hướng tới
các mục tiêu bền vững, thân thiện và bảo vệ môi
trường, giảm tối đa tác động tiêu cực đến môi trường.
Như vậy, logistic xanh (hay green logistics) là một
khái niệm liên quan đến việc áp dụng các phương
thức và chiến lược nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực
của hoạt động logistics đến môi trường. Mục tiêu của
logistic xanh là tối ưu hóa chuỗi cung ứng và vận
hành logistics sao cho tiết kiệm năng lượng, giảm
phát thải khí nhà kính, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và giảm thiểu rủi ro ô nhiễm môi trường.
Phát triển bền vững là một mô hình phát triển
nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các
thế hệ tương lai. Phát triển bền vững bao gồm ba trụ
cột chính:
• Bền vững về kinh tế: Đảm bảo tăng trưởng
kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống
nhưng không gây hại đến môi trường và tài
nguyên thiên nhiên.
• Bền vững về môi trường: Bảo vệ hệ sinh thái,
giảm ô nhiễm, khai thác tài nguyên hợp lý và sử dụng
năng lượng tái tạo.
• Bền vững về xã hội: Đảm bảo công bằng xã hội,
giảm bất bình đẳng, nâng cao chất lượng giáo dục, y
tế và điều kiện sống cho tất cả mọi người.
Phát triển bền vững ngành logistics là quá trình
tối ưu hóa hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu
vận tải, lưu kho, phân phối hàng hóa một cách hiệu
quả, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi
trường, đảm bảo lợi ích kinh tế và thúc đẩy sự phát
triển công bằng trong xã hội. Ba trụ cột của phát triển
bền vững trong logistics là:
• Bền vững về kinh tế, bao gồm: Tối ưu hóa chi
phí vận hành, giảm lãng phí nhiên liệu; Ứng dụng
công nghệ số hóa và tự động hóa để tăng hiệu quả

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
51
chuỗi cung ứng; Cải thiện năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp thông qua các chiến lược logistics
thông minh.
• Bền vững về môi trường, bao gồm: Sử dụng
phương tiện vận tải thân thiện với môi trường như xe
điện, xe chạy khí CNG, nhiên liệu sinh học; Ứng dụng
công nghệ tối ưu hóa tuyến đường nhằm giảm
quãng đường di chuyển và lượng khí thải CO₂; Sử
dụng bao bì tái chế, giảm thiểu rác thải trong chuỗi
cung ứng; Xây dựng kho bãi và trung tâm logistics sử
dụng năng lượng tái tạo (mặt trời, gió).
• Bền vững về xã hội, bao gồm: Cải thiện điều kiện
làm việc cho lao động trong ngành logistics; Đảm
bảo quyền lợi cho các bên liên quan trong chuỗi
cung ứng; Tích hợp các tiêu chuẩn an toàn và trách
nhiệm xã hội vào quá trình vận hành logistics.
Như vậy, thúc đẩy logistics xanh không chỉ giúp
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả vận hành mà còn
góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát
triển toàn diện của xã hội. Đây là một trong ba trụ cột
quan trọng nhằm phát triển bền vững ngành logistic
tại mỗi quốc gia.
2.2. Nội dung hoạt động logistics xanh
- Xanh hóa hoạt động vận tải
Vận tải là hoạt động logistics có ảnh hưởng lớn
đến môi trường. Có hai yếu tố chính của vận tải ảnh
hưởng đến môi trường, bao gồm: hệ thống mạng
lưới giao thông và hoạt động của các phương tiện
vận tải. Các phương tiện vận tải sử dụng nhiều nhiên
liệu và thải ra môi trường khí thải độc hại. Đặc biệt,
phương tiện giao thông đường bộ có ảnh hưởng
nhiều nhất tới môi trường thể hiện ở lượng khí thải,
tiếng ồn và ùn tắc giao thông. Hơn nữa, đường bộ,
sân bay, bến cảng được xây dựng ngày càng nhiều là
nguồn gây ô nhiễm lớn.
Nâng cấp chất lượng hệ thống hạ tầng giao
thông, chuyển đổi từ vận chuyển đường bộ sang
đường thuỷ, đường sắt; sử dụng phương tiện vận tải
thân thiện với môi trường hoặc ít phát thải khí các-
bon và vận hành hệ thống vận tải một cách tối ưu là
những giải pháp quan trọng để xanh hoá hoạt động
vận tải.
- Xanh hóa hoạt động kho bãi
Việc thiết kế, xây dựng kho trực tiếp ảnh hưởng
đến mức độ sử dụng năng lượng của kho. Thiết kế và
xây dựng kho bãi với các tính năng thân thiện môi
trường như sử dụng năng lượng mặt trời, ánh sáng
tự nhiên, diện tích phù hợp, tường và sàn dày hoặc
cho phép tái chế tại chỗ sẽ tiết kiệm năng lượng,
giảm thiểu tiếng ồn và khí thải tới môi trường. Ngoài
ra, lựa chọn sử dụng các trang thiết bị tại kho thân
thiện với môi trường và tổ chức vận hành hoạt động
kho một cách tối ưu cũng giảm tác động tiêu cực
đến môi trường.
- Xanh hóa hoạt động đóng gói
Đóng gói là một quy trình quan trọng đối với tất
cả các sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Thường
có ba loại bao bì là bao bì chính, bao bì thứ cấp và
bao bì vận chuyển. Bao bì không phù hợp có thể dẫn
đến hư hỏng sản phẩm trong quá trình vận chuyển
và gây lãng phí bao bì, tăng lượng rác thải ra môi
trường. Do đó, sử dụng bao bì tái chế hoặc các vật
liệu có thể phân hủy sinh học góp phần giảm lượng
rác thải nhựa và bảo vệ môi trường.
- Xanh hoá hệ thống thông tin
Một hệ thống thông tin hoàn hảo có thể tăng
mức độ xanh hóa hoạt động logistics thông qua việc
số hóa dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động, tăng năng suất lao động, thuận tiện cho việc
tra cứu thông tin, quản lý dữ liệu đồng thời giảm
thiểu in ấn, đồng nghĩa với giảm tác hại đến môi
trường. Đặc biệt, mạng lưới liên kết thông tin giữa các
doanh nghiệp với cơ quan chuyên ngành sẽ giảm
thiểu thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian cũng
như hạn chế việc di chuyển, góp phần giảm thiểu tác
động xấu tới môi trường.
- Phát triển logistics ngược
Phát triển logistics xanh không thể thiếu phát
triển logistics ngược bao gồm hai hoạt động chính là
thu hồi, tái sử dụng sản phẩm và xử lý chất thải.
Logistics ngược là quá trình các doanh nghiệp thu
hồi sản phẩm lỗi hỏng, sản phẩm cần bảo hành, bảo
dưỡng hoặc sản phẩm kết thúc sử dụng từ người tiêu
dùng cuối cùng; tận dụng nguyên liệu tái chế, phế
liệu từ vật liệu đóng gói, vận chuyển.
Quản lý chất thải là một nội dung quan trọng để
bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên. Chẳng hạn
như, khi nhà kho phát sinh số lượng lớn chất thải bao
bì hay khi sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc hư hỏng
thì chúng trở thành phế thải. Khi đó, việc xử lý chất
thải thế nào để không ảnh hưởng đến môi trường là
vô cùng quan trọng.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
logistics xanh
- Cơ chế, chính sách pháp luật: Các chính sách
khuyến khích, hỗ trợ của Chính phủ có tác động rất
lớn đối với sự tồn tại và phát triển của logistics xanh
thông qua việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
52
triển logistics xanh được ưu đãi về thuế và vay vốn
hay mở rộng các quy định nhận hỗ trợ, ưu đãi,...
- Trình độ phát triển công nghệ thông tin: Hạ tầng
công nghệ thông tin có vai trò rất quan trọng đối với
phát triển logistics xanh, giúp kết nối các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng
dịch vụ cũng như các trung tâm logistics khu vực và
toàn cầu bằng công nghệ thông tin hiện đại với chất
lượng dịch vụ ngày càng cao, chi phí hợp lý, an toàn
và tiết kiệm năng lượng, hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics xanh: Khách
hàng ngày càng quan tâm đến hàng hoá, dịch vụ
thân thiện với môi trường nên việc phát triển logistics
xanh là xu hướng tất yếu, thúc đẩy trực tiếp quy trình
xanh hóa trong hoạt động vận tải, kho bãi, đóng gói
sản phẩm. Hơn nữa hiện nay nhiều doanh nghiệp
logistics toàn cầu khi thuê ngoài dịch vụ cũng yêu
cầu tiêu chuẩn khí thải đối với các doanh nghiệp
logistics thứ ba.
- Nguồn nhân lực logistics: Sự quyết tâm của nhà
quản trị cấp cao cũng như yêu cầu về một đội ngũ
nhân lực không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn có hiểu
biết về phát triển xanh, tiết kiệm và tối ưu mọi nguồn
lực sẽ là chìa khoá để triển khai thành công mọi
chiến lược và kế hoạch phát triển logistics xanh tại
doanh nghiệp.
3. Thực trạng logistics xanh tại Việt nam
Trong những năm gần đây, ngành logistics của
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng
trưởng ổn định và ngày càng khẳng định vị thế trên
thị trường quốc tế. Với mức tăng trưởng 14%-16%
mỗi năm và đóng góp 4-5% GDP, logistics là một
trong những lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế
Việt Nam.
Theo Báo cáo về chỉ số Năng lực logistics theo
quốc gia của Agility, Việt Nam đã lọt vào top 10 thị
trường logistics mới nổi trên thế giới năm 2023 và
đứng thứ 4 ở Đông Nam Á, chỉ sau Malaysia,
Indonesia và Thái Lan. Điều này thể hiện sự cải thiện
đáng kể về năng lực logistics và khả năng cạnh tranh
quốc tế của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm
(CAGR) giai đoạn 2022-2027 được dự báo đạt 5,5%,
cho thấy tiềm năng phát triển dài hạn của ngành. Việt
Nam cũng dẫn đầu Đông Nam Á về cơ hội logistics
quốc tế, đứng thứ 4 toàn cầu, chứng tỏ năng lực cạnh
tranh mạnh mẽ trong khu vực và thế giới.
Ngoài ra, Việt Nam còn có lợi thế khi sở hữu số
lượng doanh nghiệp logistics được Cơ quan Quản lý
hoạt động hàng hải của Mỹ (FMC) cấp phép nhiều
nhất ASEAN. Điều này thể hiện sự hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng của ngành logistics Việt Nam.
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, nhưng để tiếp
tục phát triển bền vững, ngành logistics Việt Nam cần
tập trung vào logistics xanh để nâng cao hiệu quả
vận hành và giảm tác động môi trường.
3.1. Thực trạng vận tải xanh
- Vận tải đường bộ: Trung bình mỗi năm, hoạt
động vận tải phát thải khoảng 30 triệu tấn CO2;
trong đó vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng 85%
lượng khí phát thải (Báo Tài nguyên Môi trường,
2019). Đồng thời, lượng phát thải khí nhà kính của
Việt Nam đang bị đánh giá cao hơn nhiều so với các
quốc gia phát triển và đang phát triển trên thế giới.
Nguyên nhân thực trạng này xuất phát từ cả sự yếu
kém về hạ tầng, phương tiện vận tải cũng như năng
lực tổ chức, điều hành và cung ứng dịch vụ vận tải
đường bộ. Mặc dù những năm qua Chính phủ
không ngừng đầu tư cải thiện chất lượng của hệ
thống hạ tầng đường bộ nhưng mạng lưới đường
cao tốc nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển. Một số yếu kém khác về hạ tầng vận tải
đường bộ như: đường nhỏ hẹp, ít làn xe; chất lượng
và độ bền mặt đường kém, thường xuyên xảy ra
tình trạng hư hỏng, hằn lún vệt bánh xe, ổ gà, nứt,
vỡ; phân bố không hợp lý giữa các tuyến đường cao
tốc - cầu vượt - đường hầm - đường tránh... làm ảnh
hưởng đến chất lượng phương tiện và thời gian vận
chuyển, thường xuyên gây ra tình trạng ùn tắc giao
thông, tăng lượng phát thải khí nhà kính; từ đó ảnh
hưởng đến mức độ xanh hóa hoạt động vận tải
đường bộ. Về phương tiện vận tải đường bộ, tại Việt
Nam, xe tải có tải trọng nhỏ chiếm tỷ lệ cao hơn.
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2019), có
khoảng gần 1,2 triệu xe tải được đăng ký chính thức
ở Việt Nam; trong đó, 68% có tổng trọng lượng xe
nhỏ hơn 5 tấn, 11% từ 5 - 10 tấn, 14% từ 10 - 20 tấn
và 7% xe tải hạng nặng với tổng trọng lượng xe
trên 20 tấn. Trong khi ở các nước có mạng lưới
đường bộ phát triển như Đức, Hoa Kỳ phụ thuộc
nhiều vào xe tải hạng nặng để vận chuyển hàng
hóa với lần lượt là 70% và 53%. So với các quốc gia
khác trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia
(13%), Thái Lan (33%) và tại Châu Á như Trung Quốc
(25%) và Ấn Độ (41%), Việt Nam cũng có tỷ lệ xe tải
nặng thấp hơn nhiều. Tỷ lệ xe tải hạng nặng ở Việt
Nam thấp dẫn đến cần phải sử dụng số lượng xe tải
cao hơn để vận chuyển cùng một lượng hàng hóa.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
53
Kết quả là tình trạng ùn tắc cao hơn, chi phí và
lượng phát thải cao hơn.
- Vận tải đường sắt: Đường sắt là phương thức vận
tải được coi là thân thiện với môi trường, nhưng tại
Việt Nam vận tải đường sắt chưa được đầu tư phát
triển tương xứng với tiềm năng khai thác. Cơ sở hạ
tầng đường sắt tại Việt Nam vẫn còn hạn chế chưa
đáp ứng sự gia tăng về lưu lượng hàng hóa.
Về phương tiện, việc có quá nhiều chủng loại đầu
máy gây khó khăn cho hoạt động sửa chữa, thay thế
phụ tùng. Do nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp nên
chưa loại bỏ được số lượng lớn toa xe hàng cũ, lạc
hậu trong khi vẫn thiếu nhiều toa xe cho hàng
container. Đường sắt Việt Nam hiện nay có tốc độ
bình quân 80 - 90 km/h, tốc độ khá chậm so với nhiều
nước trên thế giới
- Vận tải đường biển và đường thủy: ngày
29/10/2020, Bộ Giao thông vận tải đã phê duyệt Đề
án phát triển cảng xanh tại Việt Nam, theo đó, cảng
xanh tại Việt Nam sẽ được xây dựng trên 6 nhóm tiêu
chí bao gồm: Nhận thức về cảng xanh; Sử dụng tài
nguyên; Quản lý chất lượng môi trường; Sử dụng
năng lượng; Ứng dụng công nghệ thông tin; Giảm
phát thải, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển
dâng. Hiện nay, chỉ có Tân Cảng - Cát Lái (TP. Hồ Chí
Minh) và Tân Cảng - Cái Mép (Bà Rịa Vũng Tàu) là
những cảng biển tại Việt Nam đạt danh hiệu Cảng
xanh. Kinh nghiệm xanh hóa cảng biển của doanh
nghiệp là tiết kiệm nguồn tài nguyên; chất lượng môi
trường cảng; sử dụng năng lượng sạch tại cảng, xử lý
chất thải tại cảng, ứng dụng công nghệ 4.0,... Những
tiêu chí đó được cụ thể hóa thông qua các hoạt động:
thay thế thiết bị nâng hạ sử dụng dầu diesel bằng các
thiết bị chạy điện (tiết kiệm 1,5 - 2 triệu USD phí nhiên
liệu/năm); tăng cường vận tải thủy với sức chở cùng
lúc được 3.000 TEU (thay thế được khoảng 2.000 ô tô
chở container); áp dụng chứng từ điện tử giúp thời
gian xe đậu chờ tại cổng cảng giảm từ 13 phút còn 6
phút; xóa bỏ văn bản giấy tại cảng khoảng 30.000 -
50.000 tờ/ngày; trồng cây xanh dọc tuyến bến tàu và
đường giao thông,...
Về số lượng phương tiện thủy nội địa, theo Cục
Đăng kiểm Việt Nam, tính tới tháng 6/2021 cả nước
có tổng số 235.000 phương tiện thủy nội địa, tổng
trọng tải khoảng 19,6 triệu tấn, độ tuổi bình quân 14
năm. Tuy nhiên, do các phương tiện thủy nội địa
quá cũ, lạc hậu, hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp
và chưa có hệ thống xử lý khí thải nên phát thải
nhiều khí độc.
3.2. Thực trạng kho bãi xanh
Kho bãi với các tính năng thân thiện với môi
trường như sử dụng năng lượng mặt trời, ánh sáng tự
nhiên, diện tích phù hợp, tường và sàn dày, tái chế tại
chỗ là những yêu cầu trong xây dựng và vận hành
kho bãi của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên,
trên thực tế, hệ thống kho bãi hiện nay của Việt Nam
có chất lượng thấp hơn so với các nước châu Á khác.
Về năng lượng cho hệ thống kho bãi, theo Báo
cáo Logistics Việt Nam 2022, có tới 68,6% số doanh
nghiệp chưa sử dụng năng lượng có khả năng tái tạo
trong vận hành hoạt động kho tại doanh nghiệp
hoặc chưa thuê kho có sử dụng năng lượng tái tạo.
Trong số 31,4% số doanh nghiệp đã sử dụng năng
lượng tái tạo trong vận hành kho bãi thì 81,8% doanh
nghiệp sử dụng năng lượng mặt trời; 18,2% sử dụng
thuỷ điện; 12,1% sử dụng năng lượng gió.
Việc quản lý kho bãi chưa thực sự khoa học, chưa
áp dụng các kỹ thuật hiện đại, đặc biệt chưa nhiều
ứng dụng công nghệ thông tin được sử dụng trong
điều phối và quản lý kho bãi. Kho phân phối chưa nối
mạng thông tin với khách hàng để phục vụ công tác
kiểm tra, lưu trữ và theo dõi từng lô hàng từ kho đến
bất kỳ nơi nào, chưa ứng dụng kỹ thuật quản trị kho
hàng (phần mềm chuyên dùng, mã vạch,...), dẫn đến
việc doanh nghiệp còn khó khăn trong kiểm soát
lượng năng lượng tiêu thụ tại kho bãi. Việc sử dụng
phần mềm quản lý kho sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu
hoá hoạt động kho bãi, giảm lãng phí nguồn lực của
doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những giải
pháp quan trọng để giảm tác động đến môi trường
khi vận hành hệ thống kho bãi của doanh nghiệp.
3.3. Thực trạng bao gói xanh
Với mục tiêu tạo thêm giá trị gia tăng cho sản
phẩm, nâng cao vị thế doanh nghiệp trên khía cạnh
bảo vệ môi trường, giảm phát thải và tăng uy tín xã
hội, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng chiến lược bao
bì phù hợp với nhu cầu khách hàng như sử dụng bao
bì bằng vật liệu tái sử dụng hoặc đóng gói bao bì, tổ
chức luân chuyển bao bì tối ưu.
Nhằm phát triển logistics xanh, doanh nghiệp
được khuyến khích sử dụng các bao bì làm từ vật liệu
tái chế hoặc dễ phân hủy trong môi trường tự nhiên.
Ngoài ra, sử dụng pallet (gỗ, nhựa,...) để đặt sản
phẩm thay vì sử dụng bao bì chiếm diện tích kho và
ảnh hưởng đến mức độ xanh hóa. Với đặc điểm tái sử
dụng, công cụ này đặc biệt hiệu quả trong việc phân
phối và vận chuyển hàng hóa, đảm bảo an toàn hàng
hóa cũng như hạn chế việc sử dụng quá nhiều các

