KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
77
1. Đặt vấn đề
Trong Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ
đổi mới sáng tạo đến năm 2030 Thủ tướng Chính
phủ đã khẳng định “Phát triển khoa học, công nghệ
đổi mới sáng tạo quốc sách hàng đầu, đóng vai
trò đột phá chiến lược trong giai đoạn mới”, đặc biệt
“lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và
trường đại học chủ thể nghiên cứu mạnh” với
phương hướng “Kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát
triển năng lực nội sinh với tận dụng tố đa hội,
nguồn lực bên ngoài”1. Như vậy, các trường đại học
có nhiệm vụ quan trọng là chủ thể nghiên cứu mạnh
với phương hướng phát triển khoa học công nghệ
tăng cường hợp tác trong ngoài nước nhằm phát
triển năng lực khoa học công nghệ phục vụ phát
triển đất nước.
một sở giáo dục đại học uy tín, Trường Đại
học Công đoàn với hơn 79 năm lịch sử phát triển
hội nhập đã từng bước khẳng định thương hiệu đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hoạt động
khoa học công nghệ (KH&CN). Hoạt động KH&CN
được đánh giá tích cực thông qua kết quả đạt được
tại kỳ Kiểm định chất lượng sở giáo dục đại học
chu kỳ 2 năm 2023 khi kết quả KH&CN của Trường có
sự phát triển vượt bậc so với đánh giá tại chu kỳ 1.
Tuy nhiên, qua đánh giá khách quan2, Lãnh đạo
viên chức Nhà trường đều nhận thấy hoạt động khoa
học và công nghệ vẫn còn tồn tại hạn chế. Một trong
các hạn chế cần khắc phục trong thời gian ngắn sắp
tới là hoạt động hợp tác trong KH&CN. Hợp tác trong
cÁc nhÂn tỐ ảnh hưỞng tỚi hỢP tÁc trong hoạt động
KhoA học công nghệ trường đại học công đoàn
ThS. nGuyễn KiM Thanh*
——————
* Trường Đại học Công đoàn
1Chính phủ (2022), Quyết định số 569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban
hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo đến năm
2030.
2Báo cáo Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học chu kỳ 2 năm 2023.
Ngày nhận: 28/3/2025
Ngày phản biện: 04/4/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Hợp tác trong hoạt động khoa học công nghệ (KH&CN) đóng vai trò quan trọng tại các trường đại học, giúp nâng cao
chất lượng nghiên cứu và đào tạo. Thông qua hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu tổ chức quốc tế, các trường thể tiếp
cận nguồn lực tài chính, trang thiết bị hiện đại và tri thức mới, từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Hợp tác còn tạo cơ hội cho giảng viên,
nghiên cứu viên và sinh viên tham gia vào các dự án liên ngành, nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng thực tiễn. Bên cạnh đó,
hợp tác quốc tế giúp các trường hội nhập sâu rộng, nâng cao uy tín và vị thế trong hệ thống giáo dục toàn cầu. Chính vì vậy, các cơ sở
giáo dục đại học cần chú trọng và không ngừng đẩy mạnh hợp tác trong KH&CN. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả phân tích các nhân
tố ảnh hưởng tới hợp tác trong hoạt động khoa học và công nghệ Trường Đại học Công đoàn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc
đẩy hợp tác trong hoạt động KH&CN dựa trên chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: hợp tác; khoa học và công nghệ; nhân tố ảnh hưởng.
FACTORS INFLUENCING COOPERATION IN SCIENCE AND TECHNOLOGY ACTIVITIES AT TRADE UNION UNIVERSITY
Abstract: Cooperation in science and technology (S&T) activities plays a crucial role in universities, enhancing research and training
quality. Through collaboration with enterprises, research institutes, and international organizations, universities can access financial
resources, advanced equipment, and new knowledge, thereby fostering innovation. Such cooperation also creates opportunities for
faculty members, researchers, and students to participate in interdisciplinary projects, improving their research capacity and practical
application skills. Moreover, international cooperation enables universities to integrate into the global education system, raising their
reputation and standing. Therefore, higher education institutions should prioritize and continuously promote cooperation in S&T
activities. Within the scope of this paper, the author analyzes the factors influencing cooperation in science and technology activities
at Trade Union University and proposes solutions to promote S&T cooperation based on the direction and degree of influence of these
factors in the current context.
Keywords: cooperation; science and technology; influencing factors.
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
78
KH&CN sẽ tối đa hóa nguồn lực KH&CN khi vận dụng
được sức mạnh, nguồn lực tài chính và vật chất của
nhân, tập thể ngoài trường, từ đó tạo bệ phóng cho
hoạt động khoa học công nghệ Trường Đại học
Công đoàn trong bối cảnh hội nhập. Chính vậy,
trong khuôn khổ bài báo, tác giả nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng tới hợp tác khoa học công nghệ
của Nhà trường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
đẩy mạnh hợp tác trong KH&CN, góp phần thúc đẩy
hoạt động khoa học công nghệ của Trường Đại
học Công đoàn phát triển toàn diện trong bối cảnh
hội nhập quốc tế.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu về hợp tác trong khoa học và
công nghệ
Trong xu hướng toàn cầu hóa, các nhà khoa học
Việt Nam đã đang tích cực nghiên cứu về hợp tác
trong khoa học công nghệ (KH&CN). Phạm Hồng
Trang (2017) trong bài viết "Liên kết giữa trường đại
học với viện nghiên cứu doanh nghiệp trong hoạt
động khoa học và công nghệ" đã khẳng định sự quan
trọng của mối liên kết giữa ba khu vực: trường đại
học, viện nghiên cứu doanh nghiệp trong việc
thúc đẩy hoạt động KH&CN chuyển giao kết quả
nghiên cứu. Tác giả chỉ ra các hình thức hợp tác như
trao đổi nhân lực, hợp tác nghiên cứu, và chuyển giao
kết quả nghiên cứu, đồng thời phân tích các tác nhân
cản trở như thủ tục hành chính, kinh phí, sở vật
chất năng lực đội ngũ KH&CN. Bài viết này nhấn
mạnh sự cần thiết của một hệ thống đổi mới
trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm.
PGS.TS. Thanh Bình (2022) trong bài "Thúc đẩy
hợp tác quốc tế để tăng cường tiềm lực khoa học -
công nghệ quốc gia" đã đề cập đến việc hợp tác quốc
tế trong KHCN, nhấn mạnh quy mô, hình thức các
đối tác hợp tác. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập
trung vào hợp tác ở quy mô quốc gia và không đi sâu
vào hợp tác tại các cơ sở giáo dục đại học.
Trong bài báo “Publication, cooperation and
productivity measures in scientific research” (Công
bố, hợp tác các biện pháp nâng cao năng suất
trong nghiên cứu khoa học) được đăng trên tạp chí
Scientometrics thuộc nhà xuất bản uy tín thế giới
Springer vào 8/2007, nhà khoa học Marianne
Gauffriau cộng sự đã chỉ ra sự cần thiết trong việc
thiết lập mạng lưới nghiên cứu khoa học. Các mạng
lưới bao gồm các nhân tố tổ chức nghiên cứu,
nhân nhà khoa học tác động tích cực tới khả năng
hợp tác công bố công trình nghiên cứu. Với góc độ
thiết lập và quản lý mạng lưới hợp tác mang lại lợi ích
kinh tế cho sở giáo dục đại học, tác giả Mário
Franco (2021) đã công bố nghiên cứu “Business
simulation in higher education: A case study from a
network cooperation perspective”(Mô phỏng kinh
doanh trong giáo dục đại học: Một nghiên cứu điển
hình từ góc độ mạng lưới hợp tác) trên tạp chí
Industry and Higher Education. Bài viết nhấn mạnh
việc thiết lập và quản lý tốt mạng lưới hợp tác giữa
sở giáo dục đại học doanh nghiệp rất quan
trọng đối với cả sở giáo dục đại học doanh
nghiệp, tạo nền tảng cho việc trao đổi kiến thức, chia
sẻ phương pháp làm việc mới và chuyển giao KH&CN.
Bruno Cassiman (2010) trong bài "Organizing
links with science: Cooperate or contract?: A project-
level analysis" đã phân tích các điều kiện cần thiết để
lựa chọn giữa hợp tác hay ký hợp đồng hợp tác trong
các dự án KH&CN. Nghiên cứu này giúp các cơ sở giáo
dục đại học các tổ chức bên ngoài hiểu hơn về
cách thức xây dựng các mô hình hợp tác hiệu quả.
Mariia M. Kiselova (2020) trong i viết
"International Cooperation among Tertiary
Educational Institutions: Trends and Prospects" đã
tổng kết các hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo
dục đại học, đặc biệt là hợp tác nghiên cứu KH&CN và
chuyển giao công nghệ, từ đó phân tích xu hướng và
triển vọng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học.
2.2. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới
khoa học công nghệ
Các nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng
của yếu tố lãnh đạo trong phát triển KH&CN. Trong
công trình "Phases of the Adoption of Innovation in
Organizations" (2006), Damanpour & Schneider đã
chứng minh sự cam kết của lãnh đạo ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình áp dụng đổi mới, đặc biệt
trong môi trường nhiều rủi ro. Bổ sung cho phát hiện
này, nghiên cứu "Transformational Leadership and
Organizational Innovation" (2009) của Gumusluoglu
& Ilsev chỉ ra rằng phong cách lãnh đạo tầm nhìn
không chỉ thúc đẩy văn hóa đổi mới mà còn nâng cao
hiệu quả hoạt động KH&CN. Trong bối cảnh Việt
Nam, công trình "Ảnh hưởng của chủ trương lãnh
đạo đến chính sách khoa học công nghệ tại các
doanh nghiệp Việt Nam" (2018) của Nguyễn Thị Liên
Diệp đã cho thấy mối tương quan tích cực giữa sự
chủ động của lãnh đạo khả năng hấp thụ công
nghệ của doanh nghiệp.
Vai trò của nguồn lực trong phát triển KH&CN đã
được nhiều học giả quan tâm. Barney (1991) với công
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
79
trình “Firm Resources and Sustained Competitive
Advantage đăng trên tạp c Sage Journals đã
khẳng định nguồn lực bao gồm tổng thể các gtr
vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu
phát triển nhất định. Griliches trong công trình "R&D
and Productivity: The Econometric Evidence" (1998)
đã thiết lập mối quan h nhân quả giữa đầu
nghiên cứu và phát triển và năng suất doanh nghiệp.
Những phát hiện này được củng cố bởi "Frascati
Manual 2015" của OECD (Organisation for Economic
Co-operation and Development: Tổ chức Hợp tác
Phát triển Kinh tế), báo cáo cho thấy các quốc gia đầu
tư mạnh vào KH&CN như Hàn Quốc thường đạt được
những bước đột phá công nghệ. Tuy nhiên, nghiên
cứu "Rào cản nguồn lực trong phát triển khoa học
công nghệ tại Việt Nam" (2020) của Trần Văn Tùng đã
chỉ ra những thách thức đặc thù tại các nước đang
phát triển, nơi hạn chế ngân sách và chất lượng nhân
lực thường trở thành rào cản chính.
Tầm quan trọng của sự đồng thuận trong các dán
KH&CN đã được làm qua nhiều nghiên cứu. Drazin &
Schoonhoven trong "Community, Population and
Organization Effects on Innovation" (1996) đã chứng
minh sự đồng thuận giúp giảm xung đột và tăng hiệu
quả triển khai. Phát hiện này được củng cố bởi
nghiên cứu "Cross-Functional Project Groups in
Research and New Product Development" (2001) của
Keller, cho thấy các nhóm chung mục tiêu đạt
năng suất cao hơn 30%. Việt Nam, công trình "Vai
trò của sự đồng thuận trong quản dự án khoa học
công nghệ" (2019) của Văn Thành đã phân tích
thành công của các viện nghiên cứu chiến lược
ràng và sự thống nhất cao.
Mối quan hệ giữa đổi mới KH&CN giá trị
thương hiệu đã được nghiên cứu sâu rộng. Mizik &
Jacobson trong "Trading Off Between Value Creation
and Value Appropriation" (2003) đã chứng minh đầu
vào nghiên cứu phát triển giúp nâng cao uy tín
vị thế cạnh tranh. Báo cáo "Best Global Brands
2020" của Interbrand cung cấp bằng chứng thực tế
khi xếp hạng các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế
giới. Trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu "Xây dựng
thương hiệu quốc gia thông qua đổi mới công nghệ"
(2021) của Nguyễn Quốc Thắng đã đề xuất chiến lược
gắn kết hình ảnh quốc gia với các sản phẩm công
nghệ cao.
Trên sở thuyết và các công trình nghiên cứu
liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng tới hợp tác trong hoạt động
khoa học công nghtại Trường Đại học Công đoàn
như sau:
H0: Hợp tác trong hoạt động khoa học công
nghệ;
H1: Chủ trương của lãnh đạo
H2: Nguồn lực cho khoa học và công nghệ
H3: Sự đồng thuận về mục tiêu khoa học công
nghệ
H4: Giá trị thương hiệu
Các nhóm nhân tố H1, H2, H3, H4 biến độc lập
ảnh hưởng tới biến phụ thuộc H0 “Hợp tác trong
hoạt động khoa học công nghệ”.
hình 1. hình các nhân tố ảnh hưởng tới hợp
tác trong hoạt động khoa học công nghệ
Nguồn: Tác giả đề xuất
Mỗi biến quant được đo lường bằng thang đo
Likert 5 mức độ, (1 = Hn toàn không đồng ý, 2 =
Không đồng ý, 3 = Phân vân, 4 = Đồng ý, 5 = Hoàn
toàn đồng ý). Tổng số 12 biến quan sát được
phân thành 04 nm. Biến ph thuộc “Hợp c
trong hoạt động KH&CN được giải thích bằng 05
biến. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 25.0 để xử
số liệu khảo sát. (xem bảng 1)
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương
pháp hỗn hợp bao gồm kết hợp phương pháp định
tính phương pháp định lượng để đánh giá sự ảnh
hưởng của các nhân tố tới hợp tác khoa học công
nghệ tại Trường Đại học Công đoàn.
Phương pháp định tính: Tác giả sử dụng phương
pháp định tính để xây dựng hình thuyết các
nhân tố ảnh hưởng tới hợp tác khoa học công
nghệ với 4 nhân tố chính bao gồm: Chủ trương của
lãnh đạo, Nguồn lực cho KH&CN, Sự đồng thuận về
mục tiêu KH&CN giá trị thương hiệu.
Phương pháp định lượng: Tác giả tiến hành khảo
sát sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin từ giảng
viên. Mẫu khảo sát định lượng được xác định theo
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
80
phương pháp kết hợp chọn mẫu điển hình với chọn
mẫu ngẫu nhiên, căn cứ theo phương pháp mẫu tối
thiểu của Hair, J.F. et al. (2009) có N=Số biến quan sát
x 5 = 12x5 = 60. Tác giả tiến hành khảo sát bằng bảng
hỏi để thu thập thông tin từ giảng viên các Khoa/Bộ
môn. Tác giả phát ra 227 phiếu, thu về 188 phiếu. Sau
khi soát còn 154 phiếu đạt yêu cầu, đảm bảo ý
nghĩa nghiên cứu. Sau khi khảo sát, các phiếu hỏi
được tiến hành nhập, xử phân tích kết quả trên
máy tính, bằng phần mềm chuyên dụng SPSS 25.0.
4. Kết quả nghiên cứu và bình luận
Sau khi thu thập, các phiếu khảo sát được kiểm tra
mức độ hoàn chỉnh về thông tin. 154 phiếu đã được
nhập dữ liệu để phân tích bằng phần mềm thống
SPSS (phiên bản 25). Tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng bao gồm các công cụ thống
tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo trên
sở mô hình và thang đo đã đề xuất. Kết quả kiểm định
độ tin cậy của các nhân tố.
Bảng 2. Tổng hợp giá trị Cronbach’s alpha
của các nhân tố ảnh hưởng
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu khảo sát của tác giả
Kết quả kiểm định thu được cho thấy hệ số
Cronbach’s Alpha của thang đo đều lớn hơn 0.6 và 12
biến quan sát đều có Corrected Item-Total Correlation
lớn hơn 0.3. Như vậy thang đo đảm bảo độ tin cậy.
Kết quả kiểm định biến phụ thuộc “Hợp tác
trong hoạt động KH&CN” cũng thu được kết quả
khẳng định độ tin cậy khi H0 hệ số Cronbach’s
Alpha 0.942 5 biến quan sát Corrected Item-
Total Correlation lớn hơn 0.3.
Để đánh giá mức độ chiều hướng ảnh hưởng
của các nhân tố tới “Hợp tác trong hoạt động KH&CN”,
dựa trên lý thuyết về mô hình hồi quy tuyến tính3, tác
giả xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính:
H0 = α + β1H1 + β2H2 + β3H3 + β4H4 + ε
(α: Hằng số hồi quy; β1, β2, β3, β4: Hệ số hồi quy;
ε: sai số)
Bảng 3. Kết quả tương quan giữa biến độc lập
với biến phụ thuộc
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu khảo sát của tác giả
Bảng 1. Thang đo đề xuất
Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất
—————
3Gayen (1951) và Andy Field (2009).
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
81
Kết quả kiểm định tương quan thu được kết quả
tất cả các giá trị sig tương quan Pearson giữa các biến
độc lập với biến phụ thuộc đều nhỏ hơn 0.05. Như
vậy các biến độc lập đều tương quan tuyến tính
với biến phụ thuộc.
Tác giả đánh giá độ phù hợp của mô hình, tác giả
chạy ANOVA thu được kết quả như sau:
Bảng 4. Kết quả anOVa của hình
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu khảo sát của tác giả
Bảng ANOVA cho kết quả kiểm định: Sig kiểm
định F = 0.000 < 0.05, như vậy hình hồi quy ý
nghĩa và phù hợp với giả thuyết nghiên cứu.
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến độc
lập tới biến phụ thuộc, tác giả dử dụng hệ số R bình
phương (R2) trong bảng Model Summary.
Bảng 5. Kết quả hệ số xác định R2 của hình
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu khảo sát của tác giả
R2 hiệu chỉnh 0.777 = 77.7%. Như vậy các biến
độc lập đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng tới 77.7% sự
thay đổi của biến phụ thuộc. Kết quả này chứng tỏ 04
nhân tố tác giả đề xuất ảnh hưởng 77,7% đến “Hợp
tác trong hoạt động KH&CN”. Giá trị Durbin-Watson
1.955, nằm trong khoảng 1.5 đến 2.5 nên kết quả
hồi quy không hiện tượng tự tương quan chuỗi
bậc nhất. Điều này cho thấy hình có độ tin cậy cao
các nhân tố “Chủ trương của Lãnh đạo”, “Nguồn
lực cho KH&CN”, “Sự đồng thuận về mục tiêu KH&CN”
và “Giá trị thương hiệu” có mức độ ảnh hưởng lớn tới
“Hợp tác trong hoạt động KH&CN”.
Tác giả kiểm định sự ảnh hưởng của từng biến
độc lập tới biến phụ thuộc từ bảng hệ số hồi quy
Kết quả hồi quy cho thấy tất cả các biến đều có sự
tác động lên biến phụ thuộc do sig kiểm định t của
từng biến độc lập đều nhỏ hơn 0.05. Hệ số VIF các
biến độc lập đều nhỏ hơn 5, như vậy không đa
cộng tuyến xảy ra.
Từ kết quả hệ số hồi quy, ta phương trình hồi
quy như sau:
Chưa chuẩn hoá:
H0 = 0.163 + 0.262*H1 + 0.333*H2 + 0.22*H3 +
0.146*H4 + ε
Chuẩn hoá:
H0 = 0.349*H1 + 0.394*H2 + 0.24*H3 + 0.146*H4
+ ε
Kết quả kiểm định hệ số cho thấy, các nhân tố của
phương trình đều ý ). Trong đó nhân tố “Nguồn
lực cho khoa học công nghệ” ảnh hưởng lớn
nht đến “Hp tác trong hot đng KH&CN
(β=0.394, Sig=0.000), nhân tố tiếp theo có ảnh hưởng
mạnh tới biến phụ thuộc “Chủ trương của Lãnh
đạo (β=0.349, Sig=0.000). Nhân tố mức ảnh
hưởng thứ 3 tới “Hợp tác trong hoạt động KH&CN” là
“S đồng thuận v mc tiêu KH&CN (β=0.24,
Sig=0.000), trong 04 nhân tố ảnh hưởng thì nhân tố
“Giá trị thương hiệu” mức ảnh hưởng thấp nhất
đến biến phụ thuộc tác giả (β=0.146, Sig=0.002).
Các hệ số hồi quy đều mang dấu dương cho thấy 04
nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều tới “Hợp tác
trong hoạt động KH&CN”.
5. Đề xuất giải pháp thúc đẩy hợp tác trong
hoạt động khoa học công nghệ tại Trường Đại
học Công đoàn
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn nhân tố đều
ảnh hưởng đến hợp tác trong hoạt động KH&CN
Trường Đại học ng đoàn. Trong đó, nhân t
"Nguồn lực cho KH&CN" có ảnh hưởng mạnh nhất với
hệ số β=0.394, tiếp theo "Chủ trương của Lãnh
đạo" (β=0.349), "Sự đồng thuận về mục tiêu KH&CN"
=0.24) và cuối cùng "Giá tr thương hiệu"
(β=0.146). Tất cả các nhân tố đều tác động cùng
chiều ý nghĩa thống với mức Sig.<0.1, cho
thấy sự tin cậy của kết quả nghiên cứu. Từ kết quả
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố tới hợp
tác khoa học công nghệ, tác giả đề xuất các giải
pháp nhằm thúc đẩy hợp tác trong KH&CN như sau:
Nhân tố nguồn lực cho KH&CN ảnh hưởng lớn
tới hợp tác trong KH&CN, do vậy để thúc đẩy hợp tác
KH&CN trong bối cảnh chuyển đổi số, cần tập trung
vào việc tăng cường nguồn lực cho KH&CN như phát
Bảng 6. Kết quả hệ số hồi quy
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu khảo sát của tác giả