
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
372
KINH T
Ế
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN TRONG HỌC TẬP VÀ THI CỬ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
RESEARCH OF FACTORS AFFECTING CHEATING BEHAVIOR IN STUDY AND EXAMS OF STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Vũ Thị Hồng Diễm1,*, Phan Thu Giang1, Cao Thị Hồng Nhung2, Nguyễn Vân Trang2, Trần Thị Hằng3 TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian l
ận trong
học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Nhóm nghi
ên
cứu đã tiến hành điều tra khảo sát online 350 sinh viên (65% n
ữ, 35% nam). Phân
tích hồi quy được sử dụng để phân tích dữ liệu và thống kê mô tả đư
ợc sử dụng để
tóm tắt thông tin. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng hơn 85% sinh viên thừa nhận đ
ã
từng gian lận trong học tập và thi cử, trong đó sinh viên năm thứ tư có kh
ả năng
gian lận cao hơn, hình thức gian lận chủ yếu là truyền trống (mang tài liệu
; ghi tài
liệu ra tay, chân, bàn…). Những phát hiện của nghiên c
ứu cho thấy: Ý thức học
tập, áp lực thành tích, công nghệ phát triển và tâm lý là các yếu tố ảnh hư
ởng đến
hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên. T
ừ đó, nhóm tác giải đề xuất
các giải pháp nhằm hạn chế hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh vi
ên
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong thời gian tới. Từ khoá: Ý thức học tập; áp lực thành tích, công nghệ phát triển, tâm lý, h
ành
vi gian lận. ABSTRACT
The study aimed to find out the factors affecting the cheating behavior of
students studying and taking exams at Hanoi University of Industry. The research
team conducted an online survey of 350 students (65% female, 35% male).
Regression analysis was used to analyze the data, and descriptive statistics were
used to summarize the information. Survey results show that more than 85% of
students admit to having cheated in study and exams, in which fourth-
year
students are more likel
y to cheat and the main form of cheating is traditional
(carry floats; write documents on hands, feet, tables, etc.). The findings of the
study show that consciousness of learning, achievement pressure, development
technology, and psychology are factors af
fecting students' cheating behavior
when studying and taking exams. The authors propose solutions to limit cheating
behavior in studying and taking exams by students of Hanoi University of Industry
in the near future. Keywords:
Consciousness of learning; achievement pressure; development
technology; psychology; cheating behavior. 1Lớp kế toán 5 - K14, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Lớp Kế toán 1 - K14, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: hongdiem2642001@gmail.com 1. GIỚI THIỆU Giáo dục góp phần tạo nên phẩm cách con người, “nếp nhà” của một gia đình và giáo dục cũng làm nên tầm vóc của một dân tộc. Các nước có nền giáo dục tiên tiến thì đồng thời cũng là các quốc gia có nền kinh tế phát triển và có một xã hội văn minh. Thế nhưng, sự xuống cấp đạo đức trong môi trường học đường, điển hình nhất là gian lận trong học tập và thi cử ở nhiều cấp, trong những năm gần đây đã làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, đạo đức xã hội, mà còn ảnh hưởng đến phẩm giá của thế hệ tương lai và tiền đồ của đất nước. Gian lận trong học tập và thi cử không phải là câu chuyện mới, cũng không phải chỉ là “câu chuyện” của một vài quốc gia, mà là của cả nhân loại. Cùng với sự phát triển của xã hội và công nghệ tiên tiến khiến tình trạng gian lận trong học tập, thi cử không những gia tăng về quy mô mà hình thức cũng ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn. GS David Rettinger, Trường Đại học Mary Washington, Mỹ, chia sẻ: “Tình trạng gian lận tại các trường đại học, cao đẳng ngày càng nghiêm trọng. Gian lận dẫn đến băng hoại xã hội vì sản sinh ra đội ngũ chuyên gia không có năng lực trong lĩnh vực họ làm việc”. Trong học kỳ 2 năm học 2020 - 2021, trường Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM đã xử lý kỷ luật từ cảnh cáo cho đến đình chỉ thi hơn 80 sinh viên trong quá trình thi trực tuyến. Và với sự phát triển của công nghệ thì hiện nay có thêm những hình thức tinh vi hơn như các thiết bị ghi âm, ghi hình ngụy trang, tai nghe siêu nhỏ… Đó là những hành vi gian lận mang tính cá nhân, chỉ do một người thực hiện. Và nhóm thứ hai là gian lận có sự liên kết như hỏi bài, chép bài nhau, nhờ người đi thi hộ, mua bán luận văn,… Nhưng nghiêm trọng hơn là hiện nay, thay vì phê phán, có một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ đang bình thường hóa hay thậm chí còn khuyến khích, cổ vũ những hành vi sai trái đó. Mới đây trên mạng xã hội Tiktok xuất hiện loạt video hướng dẫn cách gian lận để qua mắt người coi thi. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 373
vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nhằm khám phá và đo lường được các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên từ đó đưa ra các giải pháp các khuyến nghị hợp lý nhằm hạn chế và giảm thiểu tình trạng này. 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1. Hành vi gian lận Thuật ngữ gian lận là một trong những mối quan tâm trong kiểm toán. Gian lận khác với sai sót bởi mục đích lừa dối (Rittenberg, 2005). Một mẫu số chung trong tất cả các gian lận là ý định lừa dối vì lợi ích cá nhân. Albrecht (2006) đưa ra các định nghĩa về gian lận như sau: “Gian lận là một thuật ngữ chung và bao gồm tất cả các phương tiện đa dạng mà sự khéo léo của con người có thể nghĩ ra, được một cá nhân sử dụng để giành lợi thế hơn người khác bằng cách trình bày sai sự thật. Không có quy tắc nhất định và bất biến nào có thể được đặt ra như một đề xuất chung trong việc xác định gian lận, vì nó bao gồm những cách bất ngờ, mánh khóe, xảo quyệt và không công bằng mà người khác bị lừa. Những ranh giới duy nhất xác định nó là những ranh giới giới hạn bản lĩnh của con người”. 2.2. Hành vi gian lận trong học tập và thi cử Khái niệm thể chế về gian lận hoặc đạo văn được coi là một hình thức không trung thực trong học thuật (Godden, 2001; McCabe & Pavela, 2000). Hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên có thể được định nghĩa là hành vi học tập và thi cử không phù hợp với chính sách của trường đại học, theo đó sinh viên thực hiện các hành vi không trung thực để đạt được lợi thế không chính đáng trong đánh giá của họ (Guthrie, 2009). Hiệp hội Ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ (1988) định nghĩa gian lận là "thu lợi bí mật bằng cách chuẩn bị trước các câu trả lời đúng cho các kỳ thi từ một nguồn hoặc lấy chúng trực tiếp từ một người trong kỳ thi". Do đó, gian lận có nghĩa là truy cập các nguồn trái phép trong các kỳ thi hoặc bài tập về nhà, hoặc ép buộc người khác chuẩn bị bài cho bạn, thay vì tự trả lời các câu hỏi. Nó cũng có thể liên quan đến việc lên kế hoạch bí mật truy cập các nguồn trong quá trình kiểm tra hoặc giúp người khác gian lận (Semerci & Saglam, 2005; Tan, 2001). Pavela (1978, trang 78) đã đưa ra các định nghĩa sau về các loại gian dối trong học tập: Gian lận là "cố ý sử dụng hoặc cố gắng sử dụng tài liệu, thông tin hoặc hỗ trợ học tập trái phép trong một bài tập học thuật". Bịa đặt là "sự giả mạo hoặc phát minh có chủ ý và trái phép đối với bất kỳ thông tin hoặc trích dẫn nào trong bất kỳ bài tập học thuật nào". Tạo điều kiện cho sự không trung thực trong học thuật là "cố ý hoặc cố ý giúp đỡ hoặc cố gắng giúp đỡ người khác vi phạm một điều khoản của quy tắc tổ chức về tính liêm chính trong học thuật". Đạo văn là "sự chấp nhận hoặc sao chép có chủ ý các ý tưởng, từ ngữ hoặc tuyên bố của người khác như của chính mình mà không được thừa nhận". 2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất Từ lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, nhóm tác nhận thấy đối với hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội có thể bị tác động bởi các nhân tố sau: - Thành tích: Một số tác động quan trọng: Áp lực đạt thành tích cao: Áp lực đạt thành tích cao có thể làm tăng khả năng sinh viên chọn lựa gian lận để đạt được kết quả mong đợi. Khi cảm thấy áp lực lớn để đạt thành tích cao, một số sinh viên có thể cảm thấy họ không thể đạt được điểm số mong muốn bằng cách học thực sự và chọn lựa gian lận để đạt mục tiêu đó. Cạnh tranh và so sánh: Trong một môi trường cạnh tranh, việc so sánh thành tích với những sinh viên khác có thể khiến một số sinh viên cảm thấy áp lực cần phải vượt qua và không bị tụt lại. Khi thấy rằng người khác có thành tích cao hơn, một số sinh viên có thể cảm thấy cần phải sử dụng các biện pháp gian lận để không bị tụt lại trong cuộc đua thành tích. Mong muốn đạt thành công nhanh chóng: Một số sinh viên có mong muốn đạt được thành công nhanh chóng và không muốn đối mặt với quá trình học tập và nỗ lực lâu dài. Họ có thể tin rằng việc gian lận sẽ mang lại lợi ích ngắn hạn và giúp họ đạt được kết quả mong muốn mà không cần đầu tư nhiều thời gian và công sức. Sự thiếu kiến thức và kỹ năng học tập: Thiếu kiến thức và kỹ năng học tập hiệu quả có thể làm cho việc đạt thành tích cao trở nên khó khăn đối với một số sinh viên. Trong tình huống này, gian lận có thể trở thành một phương pháp dự phòng để tránh đối mặt với khó khăn và thất bại học tập. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H1): Thành tích có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Áp lực: Loại áp lực được kiểm tra trong nghiên cứu này là áp lực mà cá nhân cảm nhận được (chẳng hạn như áp lực về thời gian và công việc) (Sarita & Dahiya, 2015). Như Ellahi, Mushtaq và Khan (2013) đã nêu, một số sinh viên gian lận do áp lực đáp ứng thời hạn thường phát sinh vào cuối học kỳ khi họ phải nộp nhiều bài tập, dự án và thuyết trình. Ma, McCabe và Liu (2013) cho rằng một học sinh gặp áp lực cao có nhiều khả năng phạm tội gian lận trong học tập như một cơ chế đối phó. Mặt khác, Lin và Wen (2007) phát hiện ra rằng những sinh viên chịu áp lực cao bởi gia đình, cam kết nhiệm vụ hoặc yếu tố thời gian có nhiều khả năng phạm tội đạo văn hơn là gian lận trong học tập. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H2): Áp lực có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Tâm lý: Tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, nó gắn liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người. Sinh viên thường là do áp lực học hành, thi cử, nhất là các em học sinh cuối cấp, chuẩn bị thi vào đại học. Những yếu tố tạo cho các em áp lực là học tập căng thẳng, tâm trạng lo sợ thi rớt, sợ thua kém bạn bè. Đồng thời, các bậc phụ huynh đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái (do uy tín gia đình, do sự hãnh diện với làng xóm…), vô tình tạo cho các em một áp lực tinh thần nặng nề. Bên cạnh đó, nhiều em tự tạo áp lực cho mình do không biết cách

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
374
KINH T
Ế
sắp xếp, phân bổ thời gian học tập và nghỉ ngơi hợp lý. Chẳng hạn như có nhiều em để gần đến ngày thi mới học dồn, học ngày, học đêm nên không đủ thời gian nghỉ ngơi. Thậm chí, có em chỉ ngủ 2 - 3 tiếng/ngày dẫn đến quá trình ghi nhớ bị giảm sút. Một số em lại không chú ý đến việc bổ sung chất dinh dưỡng mà lại sử dụng quá nhiều các chất kích thích như cà phê, thuốc lá... Từ đó, có thể dẫn đến tình trạng rối loạn lo âu, rối loạn tâm lý trong thời gian ôn thi. Thậm chí, tình trạng bệnh có thể kéo dài dù các em đã hoàn thành xong kỳ thi (do tâm lý lo lắng khi làm bài thi không tốt, sợ thi rớt...). Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H3): Tâm lý có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Ý thức: Đối với việc học bao gồm thiếu hứng thú và lười học (Smith và cộng sự, 2007). Bagraim, Goodman và Pulker (2014) nhấn mạnh rằng thái độ thuận lợi đối với hành vi sai trái trong học tập có liên quan đáng kể đến gian lận trong học tập. Nó cũng được hỗ trợ bởi Bolin (2004), người đã tuyên bố rằng sự không trung thực trong học thuật đã bị ảnh hưởng bởi sự tự kiểm soát, cơ hội nhận thức và thái độ đối với học thuật. Thái độ tích cực hay tiêu cực có thể ảnh hưởng đến việc tham gia vào hành vi không trung thực trong học tập vì gian lận được coi là một giải pháp thay thế cho sự chăm chỉ (Smith và cộng sự, 2007). Mustapha, Hussin, Siraj và Darusalam (2016) cũng báo cáo rằng thái độ đã trở thành một yếu tố dự báo quan trọng trong việc dự đoán hành vi gian lận trong học tập của sinh viên. Có thời gian nhưng không muốn học, thấy việc mình làm không ảnh hưởng đến ai, ít khi bị phát hiện và tin rằng mình sẽ không bị phát hiện. Ý thức học tập giải thích được 23.6% sự thay đổi của hành vi gian lận (Hoàng Thu Hà, Phạm Tuấn Anh và Nguyễn Hữu Vương, 2015). Ý thức học tập của sinh viên càng thấp thì mức độ gian lận của họ càng cao. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H4): Ý thức có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Phương pháp học tập: Một số học sinh theo chủ nghĩa tự nhiên trong khi những học sinh khác là về thị giác và thính giác. Các phong cách học tập như hành vi nhận thức, tình cảm và sinh lý đóng vai trò là các chỉ số tương đối ổn định về cách người học nhận thức, tương tác và phản ứng với môi trường học tập (McCabe, 1999 theo trích dẫn của Sarita, 2015). Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H5): Phương pháp học tập có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Phương pháp giảng dạy: Trong quá trình học tập, giảng viên với phương pháp giảng dạy của mình cần hành động giúp sinh viên tập trung vào môn học và giúp đỡ sinh viên tiến hành thảo luận. Mặt khác, với vai trò là người truyền đạt kiến thức mới bằng việc truyền cảm hứng, sự say mê học tập cho mỗi sinh viên thì sự ảnh hưởng của giảng viên đến sinh viên là vô cùng lớn. Vậy nên khi nhà giáo có trình độ, kiến thức vững vàng, chuyên sâu và luôn cập nhật cùng với hình ảnh, tính cách, sự nhiệt tình trong giảng dạy... thì sẽ có tác động tích cực đến thái độ học tập của sinh viên. Ngược lại nếu giảng viên có phương pháp giảng dạy không phù hợp ví dụ như giao tiếp không nói đúng trọng tâm vấn đề cần nói lại cứ diễn giải lan man, khiến người nghe khó có thể nắm bắt hết ý họ muốn nói hoặc giảng viên không giảng dạy chỉ giao bài tập, thêm nữa, tâm lý quen “đọc - chép” mỗi khi trên lớp cũng dẫn tới tình trạng thụ động của sinh viên, nếu giảng viên không đọc thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và thực tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít,thậm chí là không có gì dẫn đến sinh viên không có kiến thức trong kiểm tra hoặc thi cử gây hệ lụy sinh viên có thể quay cóp trong thi cử để được điểm số cao. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H6): Phương pháp giảng dạy có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Kỷ luật nhà trường: Khi kỷ luật không được thực thi một cách nghiêm ngặt, sinh viên có thể cảm thấy rằng hành vi gian lận là chấp nhận được và không gặp rủi ro. Điều này có thể tạo ra một môi trường không lành mạnh và khuyến khích hành vi gian lận trong học tập và thi cử. Mất niềm tin và động lực học tập: Khi sinh viên nhận thấy rằng không có hậu quả nghiêm trọng hoặc không có biện pháp xử lý đối với hành vi gian lận, họ có thể mất niềm tin vào công bằng và tính công minh của hệ thống giáo dục. Điều này có thể làm giảm động lực học tập và sự cam kết trong quá trình học tập. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H7): Kỷ luật nhà trường có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Công nghệ phát triển: Các yếu tố công nghệ như việc sử dụng internet để hoàn thành bài tập đã làm tăng khả năng xảy ra các hành vi sai trái trong học tập (Hosny & Shameem, 2014). Trên thực tế, sự phát triển của công nghệ thông qua phương tiện truyền thông xã hội đã mang lại cơ hội lưu trữ điện tử cũng như các nền tảng để chia sẻ và lưu trữ các bài kiểm tra hoặc câu trả lời cho bất kỳ ai tìm kiếm nó (Smith, Ghazali & Noor Minhad, 2007). Một nghiên cứu khác phát hiện ra rằng học sinh tích cực gian lận trong bài tập hơn là trong các kỳ thi (King & Case, 2014). Ngoài ra, internet được sinh viên sử dụng trong cuộc sống cá nhân đã giúp họ có được thông tin cần thiết cho bài tập (Anitsal, Anitsal & Elmore, 2009). Hutton (2006) cũng tuyên bố rằng việc truy cập internet dễ dàng đã tạo cơ hội cho sinh viên chia sẻ công việc theo những cách phi đạo đức. Theo đó giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: (H8): Công nghệ phát triển có tác động đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Sau khi tham khảo các mô hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận trong học tập và thi cử của sinh viên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như hình 1.

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 375
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Nghiên cứu định tính - Giai đoạn 1: Dựa vào các cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả chọn lọc và xây dựng câu hỏi cho bảng câu hỏi khảo sát. - Giai đoạn 2: Tham khảo ý kiến các chuyên gia, để hiệu chỉnh các thang đo yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. - Giai đoạn 3: Tiến hành sử dụng bảng câu hỏi chính thức đề thu thập kết quả. 3.2. Nghiên cứu định lượng - Bước 1: Xác định số lượng mẫu cần thiết - Bước 2: Xây dựng thang đo trong nghiên cứu Với nghiên cứu đang thực hiện, nhóm tác giả lựa chọn thang đo Likert bậc 5 với 5 mức lựa chọn từ 1 đến 5 tương ứng (1: hoàn toàn không đồng ý, 2: không đồng ý, 3: bình thường, 4: đồng ý, 5: hoàn toàn đồng ý). - Bước 3: Gửi bằng khảo sát đến các đối tượng khảo sát Gửi bảng khảo sát đến các sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Đảm bảo đối tượng khảo sát là phù hợp với nghiên cứu nảy, trên bảng câu hỏi nghiên cứu đều nhấn mạnh đến đặc điểm, yêu cầu của đối tượng khảo sát để loại các đối tượng không phù hợp ngay từ đầu, tránh mất thời gian và công sức. 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1. Mẫu nghiên cứu Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã thu về là 315 phiếu, trong đó có 45 phiếu không hợp lệ do trả lời cùng một mức độ cho tất cả các mục câu hỏi hoặc thiếu nhiều thông tin trong tổng số 315 phiếu thu về. Kết quả là 207 phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng để làm dữ liệu cho nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 85,71%. Dữ liệu được nhập, mã hóa, làm sạch và phân tích thông qua phần mềm SPSS 25. Mô hình bao gốm có 5 biến kiểm soát là: Giới tính, sinh viên năm, nhóm ngành, hình thức gian lận, môn học thường gian lận. - Về giới tính: Có 178 người tham gia khảo sát là nữ (chiếm 65,9%) và 92 người khảo sát là nam (chiếm 34,1%) trong tổng số 270 hồi đáp hợp lệ. - Về sinh viên năm: Có 26 người tham gia khảo sát là sinh viên năm nhất (chiếm 9,6%), 43 người tham gia khảo sát là sinh viên năm hai (chiếm 15,9%), 45 người tham gia khảo sát là sinh viên năm ba (chiếm 16,7%) và 156 người tham gia khảo sát là sinh viên năm tư (chiếm 57,8%) trong tổng số 207 hồi đáp hợp lệ. Theo khảo sát của nhóm tác giả, nhóm sinh viên năm tư chiếm tỷ trong cao nhất (57,8%), những người thuộc nhóm này đa số là các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp, có nguy cơ gian lận trong học tập và thi cử cao hơn các nhóm sinh viên khác. - Về nhóm ngành: Có 176 người tham gia khảo sát thuộc nhóm ngành kinh tế - xã hội (chiếm 65,2%), 88 người tham gia khảo sát thuộc nhóm ngành công nghệ - kỹ thuật (chiếm 32,6%) và 6 người tham gia khảo sát thuộc nhóm ngành ngôn ngữ (chiếm 2,2%) trong tổng số 270 hồi đáp hợp lệ. - Về hình thức gian lận: Có 229 người tham gia khảo sát chọn hình thức truyền thống (mang phao; ghi tài liệu ra tay, chân, bàn…) (chiếm 65,2%), 27 người tham gia khảo sát chọn hình thức hiện đại (điện thoại thông minh, đồng hồ thông minh, thiết bị hỗ trợ…) (chiếm 10,0%) và 14 người tham gia khảo sát chọn cả hai hình thức trên (chiếm 5,2%) trong tổng số 270 hồi đáp hợp lệ. Hình thức phổ biến nhất là hình thức gian lận truyền thống. - Về môn học thường gian lận: Có 94 người tham gia khảo sát chọn môn học đại cương là môn học thường xảy ra gian lận (chiếm 34,8%), 17 người tham gia khảo sát chọn môn học chuyên ngành (chiếm 6,3%) và 159 người tham gia khảo sát chọn cả hai đều là môn học hay xảy ra gian lận (chiếm 58,9%). Theo khảo sát của nhóm tác giả, môn học đại cương chiếm tỷ trọng khá cao là do tính chất môn học thiên nhiều về lý thuyết nội dung khó hiểu, cách giảng bài khô khan, dài dòng. 4.2. Kiểm tra độ tin cậy thang đo Thang đo được đánh giá thông qua các phương pháp đánh giá độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá. Việc kiểm định thang đo thông qua việc sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định mức tương quan giữa các biến quan sát. Nếu biến quan sát nào có mức tương quan với biến tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại (Hair et al., 2009). Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của thang đo thành tích, áp lực, tâm lý, ý thức, phương pháp học tập, phương pháp giảng dạy, kỷ luật nhà trường, công nghệ phát triển của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu về hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, được tiếp tục sử dụng trong phân tích mô hình. Kết quả đánh giá độ tin cậy của các thang đo cho thấy hệ số Alpha của các nhân tố đều nằm trong khoảng từ 0,6 đến 1. Hệ số tương quan biến tổng của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,3. Tuy nhiên, biến quan sát TL4, AL3, PPGD3, CNPT4 đều loại vì giá trị Cronbach's Alpha if Item

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
376
KINH T
Ế
Deleted lớn hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng. Vậy thang đo có độ tin cậy khá cao và 35/39 biến quan sát phù hợp với mô hình. 4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA Bảng 1. Bảng ma trận xoay nhân tố Biến Nhân tố 1 2 3 4 5 6 YT4 0,827 YT2 0,815 YT3 0,806 YT1 0,748 PPHT4 0,733 PPHT5 0,718 PPHT6 0,712 PPHT3 0,702 PPHT1 0,677 PPHT2 0,613 TT2 0,847 TT4 0,834 TT1 0,808 TT3 0,800 AL4 0,781 AL2 0,761 AL5 0,734 AL1 0,684 KLNT4 0,840 KLNT2 0,816 KLNT3 0,804 KLNT1 0,802 CNPT3 0,892 CNPT1 0,881 CNPT2 0,878 PPGD2 0,852 PPGD4 0,831 PPGD1 0,790 TL1 0,816 TL2 0,790 TL3 0,674 Eigenvalues 11,624 5,096 2,927 1,647 1,232 1,063 Phương sai trích (%) 37,498 53,935 63,376 68,690 72,664 76,091 (Nguồn: Thống kê của nhóm tác giả) Kết quả kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) trong bảng kiểm định KMO và Bartlett’s với sig = 0,000 và chỉ số KMO = 0,909 > 0,500 đều đáp ứng được yêu cầu. Tại các mức Eigenvalues = 1,063, phân tích nhân tố đã trích được 6 nhân tố và với phương sai trích là 76,091% (lớn hơn 50%) đạt yêu cầu. kết quả tại bảng 1 cho thấy hệ số tải nhân tố của các biến này đều lớn hơn 0,500 đạt yêu cầu. Bảng 2. Kết quả phân tích nhân tố cho thang đo hành vi gian lận Biến Nhân tố 1 HVGL4 0,872 HVGL3 0,865 HVGL2 0,828 HVGL1 0,774 Eigenvalues 2,794 Phương sai trích (%) 69,845 (Nguồn: Thống kê của nhóm tác giả) Kết quả kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) trong bảng kiểm định KMO và Bartlett’s với sig = 0,000 và chỉ số KMO = 0,781 > 0,500 đều đáp ứng được yêu cầu. Tại các mức Eigenvalues = 2.794, phân tích nhân tố đã trích được một nhân tố từ bốn biến quan sát và với phương sai trích là 69,845% (lớn hơn 50%) đạt yêu cầu. Bốn biến HVGL1, HVDL2, HVDL3, HVDL4 đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,500 đều phù hợp. 4.4. Điều chỉnh mô hình từ kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA Hình 2. Mô hình nghiên cứu chính thức sau khi điều chỉnh Theo kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA, biến phụ thuộc bị ảnh hưởng bởi 6 nhóm yếu tố chính: - Các biến quan sát YT4, YT2, YT3, YT1, PPHT4, PPHT5, PPHT6, PPHT3, PPHT1, PPHT2 hội tụ về một nhóm yếu tố YT. Nhóm nghiên cứu quyết định đặt tên cho yếu tố là này “Ý thức học tập” (X1) - Các biến quan sát TT2, TT4, TT1, TT3, AL4, AL2, AL5, AL1 hội tụ về một nhóm yếu tố TT. Nhóm nghiên cứu quyết định đặt tên cho yếu tố là “Áp lực thành tích” (X2) - Các biến quan sát KLNT4, KLNT2, KLNT3, KLNT1 hội tụ chung về nhóm yếu tố KLNT nên nhóm vẫn giữ tên là “Kỷ luật nhà trường” (X3)

