
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
61
1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu khoa học (NCKH) đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển tư duy sáng tạo, nâng cao
kiến thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng nghiên
cứu cho sinh viên. Đặc biệt, trong bối cảnh giáo dục
đại học ngày càng chú trọng đến đổi mới sáng tạo và
hội nhập quốc tế, việc thúc đẩy hoạt động NCKH
trong sinh viên trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Để
nghiên cứu thực tế mức độ tham gia NCKH của sinh
viên trong các trường đại học cần nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến ý định nghiên cứu khoa học
của sinh viên.
Dựa trên các lý thuyết nền tảng như Lý thuyết
Hành vi dự định (TPB), Lý thuyết Động cơ tự quyết
(SDT) và tổng quan các nghiên cứu trước đây, bài báo
tập trung vào việc tổng hợp, đưa ra các nhân tố có
thể ảnh hưởng đến ý định NCKH của sinh viên trong
các trường đại học. Nghiên cứu này không chỉ giúp
hệ thống hóa kiến thức về chủ đề mà còn cung cấp
nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm sau này
nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH trong sinh viên
trong các trường đại học
2. Một số khái niệm
2.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một quá trình tìm kiếm
tri thức mới hoặc kiểm chứng lại các tri thức đã có,
được thực hiện một cách có hệ thống, có phương
pháp và dựa trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm nhằm
làm sáng tỏ bản chất, quy luật vận động của sự vật,
hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. Theo Babbie
(2011), nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt
động mang tính hệ thống, trong đó con người tìm
hiểu các hiện tượng khoa học thông qua việc vận
dụng các ý tưởng, nguyên lý nhằm khám phá
những tri thức mới để lý giải bản chất của sự vật và
hiện tượng. Đồng quan điểm đó, Đặng Thị Ngọc
Phượng (2016) cho rằng NCKH là quá trình tìm
kiếm, phân tích, điều tra và kiểm nghiệm dựa trên
các tài liệu, số liệu thực nghiệm hoặc khảo sát thực
tế, nhằm phát hiện ra những yếu tố mới về bản chất
sự vật, hoặc nhằm sáng tạo ra những phương pháp,
phương tiện kỹ thuật có giá trị cao hơn. Hoạt động
này có thể được thể hiện thông qua nhiều hình
thức khác nhau như bài tập lớn, tiểu luận, bài tập
nghiên cứu, tham gia các đề tài khoa học, hoặc thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tiếp cận từ góc nhìn thực tiễn, Đào Ngọc Cảnh
(2018) nhấn mạnh rằng NCKH không chỉ là quá trình
khám phá bản chất khách quan của sự vật hiện tượng
mà còn là nền tảng để tạo ra các công cụ, phương
pháp và kỹ thuật mới góp phần vào sự phát triển kinh
tế - xã hội. Ở cấp độ rộng hơn, Armstrong và Sperry
(1994) định nghĩa NCKH là quá trình ứng dụng các
phương pháp khoa học để khám phá bản chất của
thế giới tự nhiên và xã hội, đồng thời tạo ra các
phương tiện, kỹ thuật tiên tiến hơn nhằm cung cấp
cÁc nhÂn tỐ ảnh hưỞng đẾn ý đỊnh nghiÊn cỨu KhoA học
cỦA sinh ViÊn trong cÁc trường đại học
TS. Vũ Quỳnh Vân - ThS. nGuyễn Thu hiền*
Ngày nhận: 18/3/2025
Ngày phản biện: 04/4/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm xác định và làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên
tại các trường đại học thông qua việc tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó. Kết quả nghiên cứu
góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và cung cấp minh chứng thực tiễn, làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong cùng lĩnh vực.
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học; ý định nghiên cứu; nghiên cứu khoa học sinh viên.
FACTORS INFLUENCING STUDENTS' SCIENTIFIC RESEARCH INTENTION IN UNIVERSITY
Abstract: This study aims to identify and clarify the factors influencing university students’ intention to engage in scientific research
by synthesizing and analyzing previously published studies. The findings contribute to the enhancement of the theoretical foundation
and provide practical evidence to support subsequent research in this field.
Keywords: Scientific research; research intention; student scientific research.
——————
* Trường Đại học Công đoàn

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
62
thông tin và lý thuyết phục vụ cho việc lý giải các
hiện tượng xảy ra trong thế giới xung quanh. Theo
các tác giả này, đây là một quá trình tư duy sáng tạo
cao, đòi hỏi người thực hiện phải thành thạo nhiều kỹ
năng quan trọng như tư duy phản biện, tư duy logic,
làm việc nhóm, đàm phán, cũng như các kỹ năng
trong việc chuẩn bị, thực hiện và trình bày nghiên
cứu. Trong bối cảnh giáo dục đại học, hoạt động
NCKH của sinh viên được xem là quá trình sinh viên
chủ động tìm hiểu và giải quyết các vấn đề phát sinh
trong học tập, từ đó phát triển tư duy khoa học và
năng lực học thuật.
2.2. Ý định nghiên cứu khoa học
Ý định nghiên cứu khoa học được hiểu là mức độ
sẵn sàng, cam kết và mong muốn của một cá nhân
trong việc thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học
trong tương lai. Đây là một dạng ý định hành vi, phản
ánh thái độ, niềm tin, cảm nhận và các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định tham gia vào quá trình nghiên
cứu. Dựa trên mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch
của Ajzen (1991), ý định được xem là yếu tố dự báo
gần nhất cho hành vi thực tế. Theo đó, ý định nghiên
cứu khoa học của sinh viên có thể bị chi phối bởi các
yếu tố như thái độ đối với nghiên cứu khoa học,
chuẩn mực chủ quan (tác động của môi trường, bạn
bè, giảng viên), và cảm nhận về năng lực bản thân
trong việc thực hiện nghiên cứu. Bên cạnh đó, các
yếu tố như động lực cá nhân, kinh nghiệm nghiên
cứu trước đó, hỗ trợ từ nhà trường hay cơ hội học
bổng, giải thưởng cũng góp phần quan trọng trong
việc hình thành ý định nghiên cứu. Như vậy, ý định
nghiên cứu khoa học là sự thể hiện khuynh hướng
hành vi của cá nhân đối với việc tham gia hoạt động
nghiên cứu trong tương lai.
3. Một số lý thuyết về ý định nghiên cứu khoa
học của sinh viên
3.1. Lý thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of
Planned Behavior)
Lý thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991)
mở rộng từ TRA bằng cách bổ sung một yếu tố quan
trọng là kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived
Behavioral Control - PBC), nhằm khắc phục hạn chế
của TRA khi giả định con người luôn kiểm soát được
hành vi của mình. TPB bao gồm ba yếu tố chính ảnh
hưởng đến ý định thực hiện hành vi:
Thái độ đối với hành vi (Attitude toward
behavior).
Chuẩn chủ quan (Subjective norms).
Kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived
Behavioral Control - PBC): Mức độ cá nhân tin rằng họ
có thể kiểm soát được hành vi. Nếu sinh viên cảm
thấy họ có đủ kiến thức, kỹ năng và điều kiện để tham
gia NCKH, ý định tham gia của họ sẽ cao hơn.
TPB là một trong những mô hình phổ biến trong
việc nghiên cứu ý định hành vi của con người và đã
được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục để giải
thích động cơ tham gia NCKH của sinh viên.
3.2. Lý thuyết động cơ tự quyết (SDT - Self-
Determination Theory)
Lý thuyết động cơ tự quyết (Deci & Ryan, 1985)
nhấn mạnh rằng hành vi của con người được thúc
đẩy bởi hai loại động cơ chính:
Động cơ nội tại (Intrinsic motivation): Cá nhân
thực hiện hành vi vì niềm vui, sự tò mò và mong
muốn phát triển bản thân. Sinh viên có động cơ nội
tại sẽ tham gia NCKH vì đam mê khám phá và học hỏi.
Động cơ bên ngoài (Extrinsic motivation): Cá
nhân thực hiện hành vi vì các yếu tố bên ngoài như
điểm số, danh tiếng, cơ hội việc làm hoặc áp lực từ
giảng viên.
SDT giúp giải thích tại sao một số sinh viên chủ
động tham gia NCKH trong khi những sinh viên khác
chỉ tham gia khi có sự thúc đẩy từ bên ngoài.
4. Tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định nghiên cứu khoa học của sinh
viên trong các trường đại học
4.1. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý
định nghiên cứu khoa học
Lý thuyết Hành vi Dự định (TPB) của Ajzen (1991)
là một mô hình phổ biến để giải thích ý định nghiên
cứu khoa học, trong đó thái độ đối với hành vi, chuẩn
mực chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi
đóng vai trò quyết định. Nhiều nghiên cứu thực
nghiệm đã kiểm chứng TPB, như Han & Finkelstein
Hình 1. Lý thuyết hành vi dự định (TPB)
Nguồn: Ajzen (1991)

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
63
(2013) phát hiện rằng sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và
niềm tin vào năng lực bản thân giúp giảng viên duy
trì động lực nghiên cứu lâu dài. Taylor & Bagozzi
(2017) cũng chỉ ra rằng thái độ tích cực cùng với
chính sách hỗ trợ từ tổ chức có ảnh hưởng đáng kể
đến ý định nghiên cứu của giảng viên trẻ.
Bên cạnh yếu tố lý thuyết, nhiều nghiên cứu thực
nghiệm đã làm rõ vai trò của động cơ cá nhân. Lý
thuyết động cơ tự quyết (Deci & Ryan, 1985) nhấn
mạnh rằng hành vi của con người được thúc đẩy bởi
hai loại động cơ chính: (1) động cơ bên trong - Năng
lực của bản thân và tính tự chủ, được quyền tự đưa ra
quyết định, không bị bắt ép. (2) Động cơ bên ngoài -
mối liên kết với những người cùng thực hiện hành
động, cơ hội việc làm trong tương lại hoặc sự hỗ trợ
từ giảng viên
Hình 2. Lý thuyết động cơ tự quyết
Nguồn: Deci & Ryan, 1985
Brew, Boud, Crawford & Lucas (2018) nhấn mạnh
rằng kiến thức nền tảng và kinh nghiệm nghiên cứu
trước đó giúp cá nhân duy trì hoạt động nghiên cứu.
Chemers, M. M., Zurbriggen, E. L., Syed, M., Goza, B. K.,
& Bearman, S. (2011) bổ sung rằng sự tự tin vào khả
năng nghiên cứu (self-efficacy) là yếu tố quan trọng
giúp cá nhân kiên trì với con đường khoa học.
Môi trường tổ chức cũng đóng vai trò quan trọng.
Stephan, P. (2012) cho rằng chính sách hỗ trợ nghiên
cứu, bao gồm tài trợ, cơ hội hợp tác và chương trình
khuyến khích, có thể thúc đẩy mạnh mẽ động lực
nghiên cứu. Auranen & Nieminen (2010) cho rằng Mô
hình tài trợ nghiên cứu có ảnh hưởng trực tiếp đến
động lực nghiên cứu và năng suất khoa học của
giảng viên, sinh viên. Các quốc gia có hệ thống tài trợ
nghiên cứu mạnh mẽ (như Mỹ, Đức, Anh) có tỷ lệ
công bố khoa học cao hơn đáng kể. Bland, C. J., &
Ruffin, M. T. (1992) đưa ra quan điểm một môi trường
nghiên cứu được hỗ trợ tốt (có tài trợ, cơ hội hợp tác
và chương trình khuyến khích) sẽ tạo động lực mạnh
mẽ cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những người
mới bắt đầu sự nghiệp khoa học. Việc tham gia vào
các nhóm nghiên cứu có tổ chức và được khuyến
khích công bố khoa học sẽ giúp tăng cường hiệu suất
nghiên cứu.
4.2. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý
định nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các
trường đại học
Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển tư duy sáng tạo, nâng cao kỹ
năng giải quyết vấn đề và góp phần tạo ra tri thức
mới. Đối với sinh viên, việc tham gia NCKH không chỉ
giúp họ củng cố kiến thức chuyên môn mà còn nâng
cao cơ hội nghề nghiệp và tiếp cận với môi trường
học thuật chuyên sâu. Tuy nhiên, ý định tham gia
NCKH của sinh viên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
khác nhau, có thể phân thành ba nhóm chính:
Nhóm yếu tố cá nhân: Các nghiên cứu trước đây
đã chỉ ra rằng động cơ cá nhân, năng lực nghiên cứu,
sự tự tin và kinh nghiệm học thuật có ảnh hưởng
đáng kể đến ý định tham gia NCKH của sinh viên.
Ajzen (1991) cho rằng ý định thực hiện một hành vi bị
chi phối bởi ba yếu tố chính: thái độ đối với hành vi,
chuẩn mực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi.
Trong bối cảnh NCKH, sinh viên có thái độ tích cực
đối với nghiên cứu, cảm nhận được sự ủng hộ từ bạn
bè, giảng viên, và tin vào năng lực bản thân thì khả
năng tham gia NCKH sẽ cao hơn.
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm chứng
mô hình này. Han & Finkelstein (2013) khi áp dụng
TPB để phân tích ý định nghiên cứu của sinh viên đại
học tại Hàn Quốc đã chỉ ra rằng nhận thức kiểm soát
hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định tham gia
NCKH, nghĩa là những sinh viên tin vào khả năng
nghiên cứu của mình có khả năng tham gia cao hơn.
Kết quả này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu của
Taylor & Bagozzi (2017) tại châu Âu, khi họ phát hiện
rằng thái độ tích cực đối với nghiên cứu và sự hỗ trợ
từ nhà trường có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định
tham gia NCKH của sinh viên. Spronken-Smith et al.
(2018) Nhóm tác giả nghiên cứu về vai trò của động
lực cá nhân trong quá trình học tập theo định hướng
nghiên cứu. Các tác giả kết luận rằng sự tò mò, đam
mê nghiên cứu và mong muốn khẳng định năng lực
cá nhân có tác động tích cực đến ý định nghiên cứu
của sinh viên.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Thị Kim Liên &
Trân ThiThu Hoa (2023) cũng cho thấy rằng sinh viên

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
64
nhận thức của sinh viên, sinh viên có tư duy phản
biện tốt, chủ động trong học tập và có niềm đam mê
khám phá tri thức sẽ có tỷ lệ tham gia NCKH cao hơn.
Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Yến &
cộng sự (2020) cho thấy động cơ cá nhân, đặc biệt là
sự hứng thú với nghiên cứu và mong muốn phát triển
bản thân, có ảnh hưởng đáng kể đến ý định nghiên
cứu khoa học của sinh viên.
Hình 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham
gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại
học Phan Thiết
Nguồn: Võ Thị Kim Liên & Trâ
n Thi
Thu Ho
a (2023)
Nhóm yếu tố tổ chức: Môi trường học thuật,
chính sách hỗ trợ từ nhà trường và sự hướng dẫn từ
giảng viên là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến ý định tham gia NCKH của sinh viên. Theo Bland
& Ruffin (1992), một môi trường học thuật thuận lợi,
bao gồm cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, tài trợ
kinh phí và các cơ hội hợp tác nghiên cứu, có thể
nâng cao động lực nghiên cứu của sinh viên. Brew,
A. (2006) bàn về vai trò của nghiên cứu đối với sinh
viên và cách giảng viên có thể hỗ trợ sinh viên tham
gia NCKH.
Một nghiên cứu thực nghiệm của Drennan, Clarke
& Hyde (2018) tại Châu Âu đã chỉ ra rằng mức độ hỗ
trợ tài chính của trường đại học có ảnh hưởng đáng
kể đến việc sinh viên quyết định tham gia nghiên
cứu. Sinh viên tại các trường có chính sách học bổng
nghiên cứu và tài trợ đề tài có tỷ lệ tham gia NCKH
cao hơn so với những trường không có chính sách hỗ
trợ rõ ràng. Ngoài ra, nghiên cứu của Hathaway, R. S.,
Nagda, B. A., & Gregerman, S. R. (2002) cho thấy rằng
sự hướng dẫn và đồng hành của giảng viên có tác
động lớn đến quyết định tham gia nghiên cứu của
sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm nhất và năm hai.
Tương tự, Hunter, Laursen & Seymour (2007) đã
chứng minh rằng sự hướng dẫn cá nhân từ giảng viên
giúp sinh viên có động lực theo đuổi con đường
nghiên cứu lâu dài.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Thị Kim Liên &
Trần Thị Thu Hòa (2023) được thực hiện dựa trên cơ
sở phân tích số liệu khảo sát từ sinh viên về các nhân
tố ảnh hưởng đến sự tham gia NCKH của sinh viên
Trường Đại học Phan Thiết. Kết quả nghiên cứu cho
thấy có 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia
NCKH của sinh viên theo thứ tự: (1) Nhận thức của
sinh viên về NCKH; (2) Năng lực của sinh viên về
NCKH; (3) Sự quan tâm của khoa về NCKH; (4) Giảng
viên hướng dẫn; (5) Chính sách của nhà trường.
Nhóm yếu tố môi trường nghiên cứu: Ngoài yếu
tố cá nhân và tổ chức, môi trường nghiên cứu cũng
đóng vai trò quan trọng trong việc định hình ý định
NCKH của sinh viên. Bland & Ruffin (1992) cho rằng
việc tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu và nhận
được sự hỗ trợ từ cộng đồng học thuật có thể giúp
sinh viên duy trì động lực nghiên cứu, Dolan &
Johnson (2009) cho rằng sinh viên tham gia mạng
lưới nghiên cứu khoa học có động lực cao hơn và duy
trì đam mê nghiên cứu lâu dài. Sinh viên có trải
nghiệm nghiên cứu và tham gia vào các nhóm
nghiên cứu hoặc hội nghị khoa học có nhiều khả
năng theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu. Việc có cố vấn
học thuật và đồng nghiệp hỗ trợ giúp sinh viên duy
trì động lực nghiên cứu ngay cả khi gặp khó khăn
(Thiry et al. ,2011). Trường đại học cần tạo điều kiện
về tài chính, cơ sở vật chất và cơ hội hợp tác nghiên
cứu (Zimbardi, K., & Myatt, P. , 2014); Nguyễn Thị
Khánh Phương và cộng sự (2024) cũng đã chứng
minh được rằng: sự ủng hộ của nhà trường và gia
định có ảnh hưởng đến ý định NCKH của sinh viên.
Hình 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định NCKH
của sinh viên
Nguồn: Nguyễn Thị Khánh Phương và cộng sự (2024)
Như vậy, ý định tham gia NCKH của sinh viên chịu
sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm
động lực cá nhân, năng lực nghiên cứu, sự hỗ trợ từ
tổ chức và tác động của môi trường xã hội. Các
nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng sinh
viên có thái độ tích cực đối với nghiên cứu, nhận thức
cao về năng lực bản thân và được hỗ trợ từ nhà

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
65
trường và giảng viên có xu hướng tham gia NCKH
nhiều hơn. Trong tương lai, các nghiên cứu có thể tập
trung vào việc kiểm chứng thực nghiệm các mô hình
lý thuyết như TPB và thuyết tự hiệu quả trong bối
cảnh sinh viên Việt Nam. Đồng thời, cũng cần xem
xét tác động của công nghệ số và đổi mới sáng tạo
đối với ý định nghiên cứu khoa học của sinh viên
trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Những
yếu tố như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng lưới
nghiên cứu trực tuyến có thể đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao động lực và hiệu quả nghiên cứu
của sinh viên, mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên
cứu giáo dục và đào tạo.
Dựa trên kết quả tổng quan nghiên cứu, các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định nghiên cứu khoa học của
sinh viên được thể hiện trọng bảng 1.
5. Kết luận
Nghiên cứu này đã tổng hợp và đề xuất các
nhân tố ảnh hưởng đến ý định nghiên cứu khoa học
của sinh viên trong các trường đại học. Tuy nhiên,
nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định do
chỉ dựa trên tổng quan tài liệu, nghiên cứu chưa
tiến hành khảo sát thực tế đối với sinh viên tại các
trường đại học để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đã được xác định. Do đó, các
nghiên cứu tiếp theo của nhóm tác giả có thể mở
rộng theo hướng khảo sát thực tiễn và áp dụng các
phương pháp phân tích định lượng để đánh giá cụ
thể hơn mức độ tác động của từng nhân tố trong
bối cảnh cụ thể. ❍
Tài liệu tham khảo
1. Ajzen, I. (1991), "The theory of planned behavior", Organizational
Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
2. Bland, C. J., & Ruffin, M. T. (1992), Characteristics of a productive
research environment: Literature review, Academic Medicine, 67(6),
385-397. https://doi.org/10.1097/00001888-199206000-00010.
3. Brew, A., Boud, D., Crawford, K., & Lucas, L. (2018), Navigating the
demands of academic work to shape an academic job, Studies in higher
education (Dorchester-on-Thames), 43(12), 2294-2304. https://doi.
org/10.1080/03075079.2017.1326023.
4. Chemers, M. M., Zurbriggen, E. L., Syed, M., Goza, B. K., & Bearman,
S. (2011), The role of research self-efficacy in science students’ research
motivation and career intentions, Journal of Educational Psychology,
103(1), 55-66. https://doi.org/10.1037/a0021996.
5. Dolan, E. L., & Johnson, D. (2009), Toward a holistic view of under-
graduate research experiences: An exploratory study of impact on grad-
uate/postgraduate trajectories, CBE--Life Sciences Education, 8(4),
357-373.
6. Han, J., & Finkelstein, S. (2013), The role of motivation in student
research engagement: A review and future directions, Journal of Higher
Education Studies, 45(2), 145-160.
7. Hathaway, R. S., Nagda, B. A., & Gregerman, S. R. (2002), The rela-
tionship of undergraduate research participation to graduate and pro-
fessional education pursuit: An empirical study, Journal of College
Student Development, 43(5), 614-631.
8. Hunter, A. B., Laursen, S. L., & Seymour, E. (2007), Becoming a sci-
entist: The role of undergraduate research in students’ cognitive, per-
sonal, and professional development, Science Education, 91(1), 36-74.
9. Lechuga, V. M. (2012), "Exploring student engagement in research:
Motivational factors and academic integration", Studies in Higher
Education, 37(2), 145-162.
10. Nguyễn Thị Hồng Yến & cộng sự (2020), "Các nhân tố ảnh hưởng
đến ý định nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học tại
Việt Nam", Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, 62(10), 50-58
11. Rachel Spronken‐Smith, Rebecca Walker (2010), "Can inquiry‐
based learning strengthen the links between teaching and disciplinary
research?", Studies in higher education 35 (6), 723-740
12. Taylor, S., & Bagozzi, R. P. (2017), The impact of personal motiva-
tion and perceived support on students’ research intentions, Journal of
Educational Psychology, 112(3), 321-340.
13. Thiry, H., Laursen, S. L., & Hunter, A.-B. (2011), What experiences
help students become scientists? A comparative study of research and
other sources of personal and professional gains for STEM undergradu-
ates, Journal of Higher Education, 82(4), 357-388.
14. Zimbardi, K., & Myatt, P. (2014), Embedding undergraduate
research experiences within the curriculum: A cross-disciplinary study of
the key characteristics guiding implementation, Studies in Higher
Education, 39(2), 233-250.
Bảng 1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến
ý định NCKH của sinh viên
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp

