
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
83
1. Đặt vấn đề
Năm 2022, Trường Đại học Công đoàn bắt đầu
tuyển sinh ngành Việt Nam học trình độ đại học.
Trong chương trình đào tạo ngành Việt Nam học của
Trường Đại học Công đoàn hoạt động thực tế rất
được chú trọng. Trong đó có hai học phần: “Thực tế
tuyến, điểm du lịch 1” và “Thực tế tuyến, điểm du lịch
2” là hai học phần có ý nghĩa và vai trò quan trọng
trong việc đào tạo áp dụng lý thuyết vào thực tế
nghề nghiệp, giúp sinh viên hiểu rõ những giá trị nổi
bật của tài nguyên du lịch trên tuyến, điểm, hệ thống
các cơ sở dịch vụ gắn liền với hệ thống tuyến điểm
đó. Đồng thời là nền tảng để sinh viên hình thành các
kỹ năng nghiệp vụ và góp phần tiếp cận với các môn
học chuyên ngành khác trong chương trình đào tạo.
Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp để nâng cao chất
lượng đào tạo các học phần thực tế tuyến, điểm du
lịch là một công việc hết sức thiết thực và ý nghĩa,
đóng góp quan trọng vào việc nâng cao chất lượng
giảng dạy của ngành Việt Nam học. Trong bài viết có
sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi với số
lượng 135 phiếu, phát cho sinh viên ngành Việt Nam
học, Khoa Du lịch, Trường Đại học Công đoàn đã
hoàn thành học phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 1”
và “Thực tế tuyến, điểm du lịch 2” nhằm đánh giá
mức độ hài lòng và sự hiệu quả của chất lượng giảng
dạy các học phần thực tế tuyến, điểm du lịch trong
chương trình đào tạo.
2. Thực trạng chất lượng đào tạo các học phần
thực tế tuyến, điểm du lịch cho sinh viên ngành
Việt nam học, Trường đại học Công đoàn
2.1. Chương trình và kế hoạch đào tạo
Trong chương trình đào tạo ngành Việt Nam học
(định hướng du lịch), học phần “Thực tế tuyến, điểm
du lịch 1” được thực hiện vào kỳ học thứ 3, dành cho
sinh viên năm thứ 2 với nội dung là thực tế tại các
điểm du lịch trong nước, học phần “Thực tế tuyến
điểm, du lịch 2” được thực hiện vào kỳ 6, dành cho
sinh viên năm thứ 3 với nội dung là thực tế tại các
điểm du lịch ở nước ngoài. Như vậy, sinh viên năm
thứ 3 là lớp VNH1A đã học và trải nghiệm hai học
phần này, còn sinh viên năm thứ 2 là lớp VNH2A,
VNH2B mới chỉ trải nghiệm học phần “Thực tế tuyến,
điểm du lịch 1”.
Các nội dung cơ bản của hai học phần thực tế đã
chẤt lưỢng đào tAo cÁc học PhẦn thỰc tẾ tuyẾn, điỂM Du lỊch
cho sinh ViÊn ngành Việt nAM học, trường đại học công đoàn
ThS. TRần Thị hiên*
——————
* Trường Đại học Công Đoàn
Ngày nhận: 31/3/2025
Ngày phản biện: 04/4/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Xác định giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào các học phần thực tế tuyến, điểm du lịch cho sinh viên ngành Việt Nam
học, Trường Đại học Công đoàn là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của
khoa du lịch nói riêng và Trường Đại học Công đoàn nói chung. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra ba nhóm giải pháp và có sự phân công
trách nhiệm giữa các chủ thể trong công tác nâng cao chất lượng đào tạo.
Từ khóa: Chất lượng đào tạo; thực tế tuyến, điểm du lịch; ngành Việt Nam học; Trường Đại học Công đoàn.
TRAINING QUALITY OF PRACTICAL COURSES ON TOURIST DESTINATIONS FOR STUDENTS OF VIETNAMESE STUDIES,
UNION UNIVERSITY
Abstract: Determining solutions to improve the quality of training courses on practical routes and tourist destinations for students
of Vietnam Studies at the Trade Union University is an important and practical task, contributing to improving the quality of teaching
at the Faculty of Tourism in particular and the Trade Union University in general. The research results have proposed three major
groups of solutions and have divided responsibilities among the subjects in improving the quality of training.
Keywords: Training quality; route reality; tourist destination; Vietnam studies; Union University.

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
84
được chi tiết hóa trong đề cương môn học, bao gồm
3 phần: Phần 1 là các công việc chuẩn bị trước
chuyến đi, phần 2 là các bước tổ chức thực hiện, phần
3 là tổ chức thu hoạch, viết báo cáo. Công tác tổ chức
hoạt động thực tế thường được thực hiện theo mô
hình của chương trình du lịch thông thường. Chương
trình thực tế (tour thực tế) sẽ được gửi đến sinh viên
trước, sau đó sẽ tổ chức họp đoàn, lựa chọn công
ty/doanh nghiệp du lịch, để công ty tổ chức giải đáp
các thắc mắc về chương trình du lịch và tổ chức
chương trình. Giảng viên có nhiệm vụ thông báo về
nội quy chuyến đi và hướng dẫn các nội dung, nhiệm
vụ, phương pháp học tập thực địa. Sinh viên đi thực
tế sẽ thực hiện các hoạt động quan sát, trải nghiệm
các dịch vụ du lịch từ tham quan, vui chơi giải trí, lưu
trú, ăn uống, vận chuyển. Sinh viên cũng được trực
tiếp trải nghiệm cách vận hành một chương trình du
lịch dài ngày, đồng thời có những cảm nhận và đánh
giá. Trong quá trình thực tế, sinh viên tiến hành thực
hiện các kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn được giao.
Thông qua khảo sát 135 sinh viên đã tham gia học
phần, kết quả có 90% sinh viên cho rằng: Nội dung
các chương trình thực tế bám sát nội dung môn học,
tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên hiểu sâu, hiểu rõ
hơn kiến thức được học trên lớp đồng thời có cơ hội
được tham gia vào các hoạt động lập kế hoạch, tổ
chức chuyến đi. 95% sinh viên nắm rõ yêu cầu về kiến
thức, kỹ năng, thái độ cũng như lộ trình, giai đoạn của
quá trình thực tế.
2.2. Đội ngũ giảng viên
Giảng viên phụ trách giữ vai trò then chốt trong
việc tạo nên chất lượng và hiệu quả giảng dạy của
các học phần thực tế. Giảng viên không chỉ là người
làm kế hoạch chi tiết mà còn trực tiếp tham gia vào
khâu tổ chức thực hiện chương trình thực tế của môn
học. Giảng viên vừa là người truyền tải kiến thức vừa
là người định hướng, truyền cảm hứng, kết nối lý
thuyết với thực tiễn ngành, đồng thời là cầu nối giữa
các bên liên quan tham gia vào hoạt động thực tế
môn học. Trong quá trình thực hiện hai học phần,
Khoa Du lịch thường sắp xếp giảng viên phụ trách
theo đoàn là mỗi xe có 02 giảng viên đi kèm để quản
lý và hướng dẫn sinh viên trong hoạt động thực tế.
Đội ngũ giảng viên của Khoa Du lịch hiện nay gồm 12
người, trong đó có 01 Phó Giáo Sư, 05 Tiến sĩ, 06 Thạc
sĩ. Như vậy, đội ngũ giảng viên Khoa Du lịch cơ bản
đáp ứng được về số lượng và chất lượng. Các giảng
viên luôn có tinh thần, trách nhiệm và sự nhiệt huyết
trong công việc, đặc biệt là luôn ý thức được vai trò
giảng dạy, hướng dẫn, lãnh đạo đoàn trong suốt quá
trình triển khai, tổ chức môn học. Mặc dù đa số giảng
viên có nền tảng lý thuyết tốt, song cũng có một số
giảng viên còn thiếu kinh nghiệm trong việc đào tạo
sinh viên theo các chương trình thực tế. Sự trải
nghiệm và kinh nghiệm tham gia trực tiếp trong lĩnh
vực du lịch, hoạt động cọ sát thực tiễn một chương
trình du lịch dài ngày hay tham gia phục vụ tại doanh
nghiệp du lịch của một số giảng viên Khoa Du lịch
còn khiêm tốn. Nhiều giảng viên chưa được va chạm
với chương trình du lịch outbound vì vậy gặp nhiều
khó khăn trong việc hướng dẫn sinh viên thực hiện kỹ
năng, nghiệp vụ chuyên môn, đặc biệt là đối với học
phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 2” là học phần thực
tế tại các địa điểm du lịch ở nước ngoài. Bên cạnh đó,
trình độ chuyên môn của số giảng viên đúng chuyên
ngành Việt Nam học và Du lịch chiếm tỉ lệ thấp, chủ
yếu là giảng viên ở các nhóm ngành gần. Cụ thể là
trong số 12 giảng viên của Khoa, có 02 giảng viên
đúng ngành (chiếm tỉ lệ 16,6%), còn lại là 10 giảng
viên ngành gần (chiếm 83,4%). Hơn nữa, giảng viên
có trình độ cao (tiến sĩ, trên tiến sĩ) và có khả năng
giảng dạy bằng ngoại ngữ ở Khoa còn hạn chế. Điều
này là một thách thức lớn đối với ngành Việt Nam học
nói chung và các học phần thực tế nói riêng khi mà
hiện nay sự vận động, phát triển của ngành học là rất
nhanh chóng.
2.3. Điều kiện môi trường đào tạo
Trong giai đoạn chuẩn bị trước chuyến đi, các
giảng viên phụ trách môn học tiến hành phổ biến nội
dung, mục tiêu, yêu cầu của các học phần thực tế cho
sinh viên nắm rõ. Để thực hiện được các mục tiêu và
các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là cả một
quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng bao gồm của cả
các học phần chuyên ngành khác như: học phần
“Tuyến, điểm du lịch”, “Nghiệp vụ du lịch lữ hành” -
các môn học đòi hỏi có điều kiện môi trường để thực
hành nghề nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay, Khoa Du lịch
mới thành lập trong thời gian ngắn, đồng thời có
những khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất cho nên
chưa bố trí được phòng thực hành nghề phục vụ hoạt
động giảng dạy. Chính vì vậy, việc thực hiện các hoạt
động đào tạo, rèn nghề, tập huấn trước khi thực hiện
chương trình thực tế gặp trở ngại lớn, nhất là những
kỹ năng liên quan đến quy trình vận hành, tổ chức

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
85
trong mảng nghiệp vụ về khách sạn - nhà hàng và tổ
chức sự kiện.
Trong các học phần thực tế, điều kiện thực tế ở
đây còn được hiểu là chương trình thực tế, bao gồm:
tiến độ, các địa điểm thực tế, phương tiện tham quan.
Thông qua khảo sát sinh viên đã tham gia học phần
“Thực tế tuyến, điểm du lịch 1” với nội dung là trải
nghiệm tham quan thực tế tại các địa điểm du lịch
nổi tiếng miền Trung với thời lượng 7 ngày 6 đêm,
phương tiện thực hiện là ô tô, kết quả như sau:
Bảng 2.1. Đánh giá của sinh viên về điều kiện
môi trường đào tạo học phần “Thực tế tuyến,
điểm du lịch 1”
(Nguồn: Kết quả khảo sát 4/2025)
Theo như số liệu khảo sát, đa số sinh viên đồng ý
và hài lòng về tiến độ thực hiện chương trình, điểm
tham quan và thời gian tại các điểm tham quan. Sinh
viên cho rằng điều kiện thực tế của môn học là hợp lý
để thực hiện các nhiệm vụ học tập. Một bộ phận sinh
viên rất hài lòng về điều kiện thực tế của môn học. Lý
do có thể giải thích cho kết quả này là do học phần
“Thực tế tuyến, điểm du lịch 1” được thực hiện trong
nước, tour du lịch là tour truyền thống nên tạo sự
thuận lợi nhất định trong việc triển khai tổ chức.
Thông qua khảo sát 45 sinh viên lớp VNH1A đã
tham gia học phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 2” với
nội dung là trải nghiệm tham quan thực tế tại các địa
điểm du lịch nổi tiếng tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),
thời lượng 4 ngày 3 đêm, phương tiện thực hiện là ô
tô (bảng 2.2).
Như vậy, phần lớn sinh viên tham gia học phần
“Thực tế tuyến, điểm du lịch 2” hài lòng với điều kiện
thực tế của môn học. Một số sinh viên có ý kiến về
tiến độ chương trình thực tế hơi nhanh so với sự thích
nghi học tập, trải nghiệm của sinh viên. Đối với đa số
sinh viên, đây là lần đầu tiên đi nước ngoài và thực
hiện hoạt động thực tế chuyên môn ở nước ngoài
cho nên có những bỡ ngỡ và sự chuẩn bị chưa kịp
thời. Mong muốn của sinh viên trong chuyến đi này
là các dịch vụ ăn uống, vận chuyển hành lý tại các
điểm dịch vụ cần được sắp xếp hoàn hảo, tránh làm
mất thời gian, ảnh hưởng tới tiến độ của chương
trình thực tế.
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Những mặt tích cực và nguyên nhân
- Nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của
Nhà trường, của Khoa Du lịch, sự hỗ trợ từ phía các
doanh nghiệp du lịch, với sự quyết tâm thực hiện
mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực du lịch gắn với sự
phát triển du lịch mạnh mẽ của đất nước, sinh viên
ngành Việt Nam học đã gặp nhiều thuận lợi trong
quá trình thực tế:
- Nội dung các chương trình thực tế bám sát nội
dung môn học, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên
hiểu sâu hơn về kiến thức được học trên lớp đồng
thời có cơ hội được tham gia vào các hoạt động lập
kế hoạch, tổ chức chuyến đi.
- Đối với công tác thực hành nghề cho sinh viên
ngành Việt Nam học trong các học phần thực tế, kế
hoạch thực tế được Khoa Du lịch xây dựng cụ thể, rõ
ràng. Sinh viên được hỗ trợ tư vấn trong việc đăng ký
lựa chọn mảng kỹ năng, nghiệp vụ phù hợp với năng
lực của bản thân. Các giảng viên hướng dẫn sinh viên
cách tìm kiếm, lựa chọn thông tin về các điểm đến,
lên chương trình tour với các nội dung đầy đủ nhất
(lưu trú, ăn uống, di chuyển, giá tour, hoạt động trên
tour, hoạt náo trên xe, hoạt động teambuilding. Sinh
viên còn được áp dụng những kiến thức chuyên môn,
kỹ năng nghiệp vụ đã được học tại Trường vào hoạt
động thực tế: Trực tiếp tham gia vào công việc, hóa
thân vào vị trí như một nhân viên thực thụ để hiểu về
những nhiệm vụ, tính chất và môi trường làm việc
của ngành nghề mình theo đuổi.
Bảng 2.2. Đánh giá của sinh viên về điều kiện
môi trường đào tạo học phần “Thực tế tuyến,
điểm du lịch 2”
(Nguồn: Kết quả khảo sát 4/2025)

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
86
- Đa số sinh viên có động cơ học tập tốt, xác định
đúng đắn nghĩa vụ học tập trong quá trình thực tế, ý
thức được nhiệm vụ học tập, tích cực quan sát, tìm
kiếm, phỏng vấn các bên liên quan trong chương
trình thực tế môn học.
2.4.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân
Về phía nhà trường:
- Nhà trường chưa có phòng thực hành nghiệp vụ
chuyên sâu cho ngành Việt Nam học và Du lịch. Do
Khoa Du lịch là khoa mới (thành lập năm 2021) nên sự
đầu tư cơ sở vật chất cho các ngành nghề đặc thù của
nhà trường cần có thời gian và sự chuẩn bị nhất định.
- Về kinh phí thực tế: Do tính chất đặc thù của
ngành học nên chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động
trải nghiệm, học tập cho sinh viên ngành Việt Nam
học còn rất hạn chế. Chi phí cho chuyến thực tế
tuyến, điểm du lịch trong và ngoài nước gần như là
do sinh viên tự chủ về tài chính. Điều này là một khó
khăn và thách thức rất lớn đối với sinh viên nói riêng
và Khoa Du lịch nói chung trong việc tổ chức, thực
hiện kế hoạch thực tế.
- Về thời gian tổ chức thực tế: Thời gian tổ chức
học phần “Thực tế tuyến điểm du lịch 1” vào kỳ 3,
thường tổ chức vào tháng 10,11 gặp nhiều khó khăn
về vấn về thời tiết. Thời điểm này, các tỉnh miền
Trung ở Việt Nam thường có mưa to và bão lũ, đây
cũng là mùa thấp điểm của hoạt động du lịch. Điều
này làm ảnh hưởng tới tâm trạng khi đi thực tế môn
học cũng như hiệu quả của các hoạt động nghiệp vụ
chuyên môn của sinh viên. Bên cạnh đó, trong
chương trình đào tạo, khi thực hiện học phần “Thực
tế tuyến, điểm du lịch 1” sinh viên chưa được học học
phần “Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch” và “Tuyến, điểm
du lịch”, điều này sẽ làm cản trở sinh viên đạt được
mục tiêu và chuẩn đầu ra của học phần.
Về phía sinh viên:
- Một số sinh viên chưa ý thức rõ vai trò, tính cấp
thiết của hoạt động trải nghiệm thực tế đối với việc
nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đào
tạo và đáp ứng yêu cầu xã hội nên có suy nghĩ đi thực
tế là một chuyến đi du lịch/chuyến đi chơi.
- Một bộ phận sinh viên chưa chủ động, thiếu tự
tin khi tham gia quá trình trải nghiệm thực tế, đặc
biệt là đối với học phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch
2”. Đa số sinh viên đã từng trải nghiệm chuyến tham
quan hay chương trình du lịch nội địa, tuy nhiên hầu
hết người học chưa từng xuất ngoại hoặc tham gia
tour du lịch nước ngoài, cho nên đều rất bỡ ngỡ và
chưa “quen nhịp” với lịch trình thực tế của môn học.
Vì vậy, thời gian sinh viên dành cho rèn luyện kỹ năng
thực tế chưa nhiều, thậm chí chưa tự giác thực hiện
kế hoạch trải nghiệm.
- Sinh viên còn thiếu kiến thức, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng xử lý tình huống, năng lực ngoại ngữ hạn chế
khi thực hiện công việc chuyên môn trong quá trình
thực hành môn học tại các điểm, tuyến du lịch. Qua
khảo sát cho thấy nguyên nhân của việc này là do
sinh viên nhận thấy lượng kiến thức liên quan tới các
điểm đến du lịch trong tour quá nhiều vì vậy sinh
viên khó khăn trong việc tiếp thu, lựa chọn, lĩnh hội.
Bên cạnh đó là do khả năng thích nghi với môi trường
thực địa của sinh viên chưa cao.
Về phía doanh nghiệp:
- Năng lực phục vụ của đội ngũ nhân viên doanh
nghiệp du lịch theo đoàn đôi khi chưa làm hài lòng
người học. Mặc dù những doanh nghiệp du lịch phối
kết hợp với Khoa Du lịch trong việc tổ chức tour thực
tế cho sinh viên là những doanh nghiệp có đủ điều
kiện, giấy phép hoạt động và năng lực thực hiện
chương trình du lịch nội địa, quốc tế. Tuy nhiên, đối
tượng tiếp xúc và phục vụ trực tiếp trong tour thực tế
là hướng dẫn viên và lái xe. Yêu cầu của những tour
du lịch gắn với chương trình học tập thực tế sẽ tạo ra
những áp lực nhất định cho đội ngũ nhân viên của
doanh nghiệp du lịch (đặc biệt là hướng dẫn viên
suốt tuyến).
- Sự liên kết, phối hợp giữa doanh nghiệp vu lịch
với các nhà cung cấp/đối tác cũng như cách thức tổ
chức phục vụ của đơn vị cung cấp chưa đạt được sự
kỳ vọng của sinh viên (ví dụ như dịch vụ lưu trú, ăn
uống của một số khách sạn, nhà hàng).
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào
tạo các học phần thực tế tuyến, điểm du lịch cho
sinh viên ngành Việt nam học, Trường Đại học
Công đoàn
3.1. Nhóm giải pháp từ nhà trường
- Hợp lý hóa chương trình và kế hoạch đào tạo
Xây dựng chương trình đào tạo hiện đại, phù hợp
với nhu cầu của xã hội là rất cần thiết đối với một
ngành học luôn có tính mới, cập nhật và vận động
như hiện nay. Để hoạt động thực tế của sinh viên
ngành Việt Nam học có hiệu quả cao thì chương trình
đào tạo ngành Việt Nam học cần được rà soát, điều
chỉnh phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện nay, trong

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
87
đó chú trọng đến nội dung tăng thời lượng thực
hành, thực tế, đa dạng hình thức rèn nghề cho sinh
viên. Đối với hai học phần “Thực tế tuyến, điểm du
lịch 1,2” thì cần quan tâm tới việc lựa chọn, sắp xếp
thời gian để thực hiện hoạt động thực tế sao cho phù
hợp với tình hình thời tiết, tính thời vụ du lịch cũng
như không làm ảnh hưởng tới thời gian biểu học tập
của sinh viên. Ngoài ra, cần lựa chọn tuyến, điểm du
lịch trong trong chương trình thực tế sao cho phù
hợp với yêu cầu, chuẩn đầu ra của môn học và điều
kiện nguồn lực tài chính, sức khoẻ của sinh viên. Từ
đó có phương pháp dạy thực địa thích hợp với điều
kiện đặc thù của mỗi tuyến điểm. Đặc biệt là, trong kế
hoạch đào tạo của chương trình nên có sự sắp xếp lại
thứ tự các học phần sao cho phù hợp với yêu cầu,
chuẩn đầu ra của mỗi môn học nói riêng và của
ngành học nói chung. Cụ thể là việc xem xét đưa học
phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 1” học sau “Nghiệp
vụ du lịch lữ hành”, “Tuyến, điểm du lịch” để sinh viên
được trang bị đầy đủ kiến thức, lý thuyết về tour du
lịch, tuyến, điểm du lịch và các nghiệp vụ cần thiết
phục vụ cho việc thực hành chương trình thực tế. Đối
với học phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 2” cũng cần
cân nhắc về thời điểm thực tế, bởi vì học phần đang
được tổ chức ở kỳ 6 khi mà sinh viên vừa tham gia
môn học “Giáo dục quốc phòng” và “Thực tập chuyên
ngành 2” ở doanh nghiệp du lịch. Việc bố trí nhiều
học phần thực tế, thực tập trong cùng một kỳ cũng sẽ
là khó khăn cho sinh viên trong việc sắp xếp thời gian
biểu học tập.
- Thực hiện tốt công tác tổ chức
Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường
và Doanh nghiệp du lịch trong hoạt động nâng cao
chất lượng thực tế. Khoa Du lịch nên lựa chọn doanh
nghiệp du lịch có uy tín để phối kết hợp thực hiện
chương trình thực tế. Từ đó học hỏi được kinh
nghiệm tổ chức, thực hiện tour du lịch, đồng thời
giúp sinh viên có cơ hội được cọ xát, tiếp thu kỹ năng
từ chính các nhân viên của công ty. Nhà trường cũng
cần thường xuyên tổ chức lấy ý kiến phản hồi của các
cơ quan, doanh nghiệp du lịch như tổ chức hội thảo,
bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp... để hiểu được nhu
cầu của thị trường lao động nhằm hoàn thiện
chương trình đào tạo, trang bị thêm kiến thức, kỹ
năng cho sinh viên trước khi đi thực tế. Ngoài ra, nhà
trường cần tạo điều kiện hỗ trợ về mặt kinh phí như
chi phí vé tham quan, chi phí ăn, ở để sinh viên có
động lực, hứng khởi thực hiện yêu cầu của các học
phần thực tế.
- Phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành
Căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch được giao và tình
hình thực tế của đơn vị, mỗi giảng viên cần xây dựng
kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng bằng hoạt
động trải nghiệm, đặc biệt là giảng viên trẻ. Tự giác
và chủ động tạo cơ hội cho mình hoàn thiện bản
thân, củng cố kiến thức, tích lũy kinh nghiệm.
Nhà trường cần tạo điều kiện, hỗ trợ đào tạo, rèn
luyện đội ngũ giảng viên chuyên ngành bằng hình
thức yêu cầu đi làm thực tế tại doanh nghiệp du lịch.
Cụ thể: Yêu cầu giảng viên dạy nghiệp vụ phải có
kinh nghiệm thực hành thực tế nghề nghiệp; tiêu
chuẩn bắt buộc đối với giảng viên tham quan giảng
dạy học phần “Thực tế tuyến, điểm du lịch 1, 2” phải
có thẻ hướng dẫn viên nội địa hoặc thẻ hướng dẫn
viên quốc tế. Yêu cầu giảng viên mỗi năm có ít nhất
15 ngày làm việc tại các doanh nghiệp du lịch do Nhà
trường chỉ định, thực hiện hướng dẫn du lịch cho một
tour inbound, hai tour nội địa, có đánh giá của khách
du lịch và xác nhận của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhà
trường nên thường xuyên tạo điều kiện cho giảng
viên duy trì hoặc nâng cao trình độ ngoại ngữ, khả
năng tin học và khả năng nghiên cứu khoa học trên
thị trường quốc tế.
- Xây dựng, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với
các doanh nghiệp du lịch, cơ sở đào tạo
Nhà trường, Khoa Du lịch lịch cần duy trì tốt mối
liên kết với các doanh nghiệp đã kí kết thỏa thuận và
không ngừng mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp
du lịch mới có uy tín, có thương hiệu để tạo cơ hội
cho cán bộ giảng viên, sinh viên được tham gia tập
huấn, trải nghiệm. Đây cũng chính là đơn vị hợp tác
tổ chức phục vụ chất lượng cho những chương trình
du lịch thực tế dài ngày, chương trình du lịch chuyên
biệt, hay các chương trình du lịch quốc tế mà trong
ngắn hạn Khoa Du lịch chưa đủ điều kiện tổ chức
thuận lợi.
Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia tích
cực vào việc thực hiện chương trình đào tạo, chuyển
giao công nghệ thông qua hình thức thỉnh giảng,
hướng dẫn sinh viên, tiếp nhận các chương trình
thực tập v.v...
Xây dựng mối quan hệ với các cơ sở đào tạo có uy
tín, có chất lượng để gửi cán bộ, giảng viên đi học tập
kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, hướng dẫn

