
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
89
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là
tại các khu công nghiệp (KCN), vấn đề chuyển đổi
việc làm của công nhân đã trở thành một chủ đề
đáng chú ý trong nghiên cứu xã hội học. KCN Nội Bài,
huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, không chỉ là một
trung tâm sản xuất quan trọng mà còn là nơi hội tụ
của lực lượng lao động đa dạng, không chỉ có nguồn
gốc từ lao động của huyện mà còn đến từ nhiều tỉnh,
thành phố khác; điều đó tạo nên những mối quan hệ
xã hội phong phú1. Vốn xã hội, được hiểu là các mối
quan hệ, mạng lưới kết nối và sự hỗ trợ lẫn nhau
trong cộng đồng, có thể giữ vai trò quyết định trong
quá trình chuyển đổi việc làm. Nghiên cứu này nhằm
tìm hiểu ảnh hưởng của vốn xã hội đến khả năng
chuyển đổi việc làm của công nhân tại KCN Nội Bài,
từ đó làm rõ các yếu tố xã hội tác động đến việc làm
trong bối cảnh hiện đại. Kết quả nghiên cứu không
chỉ góp phần cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên
hệ giữa vốn xã hội và việc làm, mà còn hỗ trợ các
chính sách phát triển bền vững cho công nhân tại
khu vực này.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
Vốn xã hội, với vai trò quan trọng trong việc kết
nối cá nhân và cộng đồng, đã được nghiên cứu rộng
rãi về ảnh hưởng của nó đến quá trình chuyển đổi
việc làm của công nhân. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng
vốn xã hội giúp công nhân dễ dàng tiếp cận thông tin
về cơ hội việc làm, gia tăng khả năng kết nối với các
nhà tuyển dụng và xây dựng mạng lưới hỗ trợ trong
quá trình tìm kiếm việc làm mới. Thông qua các mối
quan hệ xã hội, công nhân có thể nhận được sự
hướng dẫn, đào tạo và khuyến khích từ bạn bè hoặc
ảnh hưỞng cỦA VỐn XÃ hội đẾn
chuyỂn đổi Việc làM cỦA công nhÂn
ThS. nGuyễn Thị Minh Thúy*
Ngày nhận: 25/3/2025
Ngày phản biện: 04/4/2025
Ngày duyệt đăng: 15/4/2025
Tóm tắt: Vốn xã hội, bao gồm mạng lưới các mối quan hệ và sự kết nối trong cộng đồng, đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi
việc làm nói chung và của công nhân nói riêng. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu xã hội
học, thông qua chọn mẫu ngẫu nhiên 200 công nhân tại Khu công nghiệp Nội Bài, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, bài viết đã tập
trung phân tích và chỉ ra, khi công nhân có mối quan hệ xã hội vững chắc, họ dễ dàng tiếp cận thông tin về cơ hội việc làm, nhận được
sự hỗ trợ và khuyến khích từ bạn bè, gia đình và đồng nghiệp. Điều này giúp nâng cao sự tự tin và khả năng tìm kiếm công việc mới
của họ. Bên cạnh đó, đề xuất một số khuyến nghị đến các doanh nghiệp cần chú trọng phát triển cấu trúc vốn xã hội và cải thiện điều
kiện làm việc để giữ chân người lao động và đảm bảo phát triển bền vững.
Từ khoá: Chuyển đổi việc làm; công nhân; vốn xã hội.
THE INFLUENCE OF SOCIAL CAPITAL ON LAbOR MObILITY AMONG wORkERS
Abstract: Social capital, encompassing networks of relationships and connections within a community, plays a pivotal role in
employment transitions in general, and among workers in particular. In this study, the authors employed various sociological
research methods, including a random sample survey of 200 workers in the industrial park. The article focuses on analyzing and
demonstrating that when workers possess strong social ties, they are more likely to access job opportunity information, and to receive
support and encouragement from friends, family, and colleagues. These factors enhance their confidence and capacity to seek new
employment opportunities. Furthermore, the study proposes several recommendations for enterprises to prioritize the development
of social capital structures and improve working conditions, with the aim of retaining workers and ensuring sustainable development.
Keywords: Job transition; workers; social capital.
——————
* Trường Đại học Công Đoàn
1Hồng Tuấn (2013), “Phối hợp đảm bảo an toàn KCN Nội Bài”, Tạp chí An ninh
thủ đô”, ngày 30/10/2013, https://www.anninhthudo.vn/phoi-hop-dam-bao-
an-toan-khu-cong-nghiep-noi-bai-post184322.antd?utm_source=
chatgpt.com.

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
90
đồng nghiệp, từ đó nâng cao kỹ năng và sự tự tin
trong việc tìm kiếm những vị trí mới. Hơn nữa, vốn xã
hội không chỉ tác động đến khả năng tìm kiếm việc
làm mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định và hài lòng
trong nghề nghiệp của công nhân, góp phần vào sự
phát triển bền vững của lực lượng lao động. Các
nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh sự cần thiết phải
phát triển vốn xã hội trong cộng đồng để hỗ trợ cá
nhân trong những giai đoạn chuyển đổi nghề
nghiệp. Cụ thể, trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Thị Tường Anh và Trần Quỳnh Anh (2016) chỉ ra rằng
vốn xã hội có ảnh hưởng đến sự hài lòng trong cuộc
sống của hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam. Các yếu
tố như lòng tin xã hội, sự tham gia vào các nhóm xã
hội và hỗ trợ từ cộng đồng giúp nâng cao chất lượng
cuộc sống và khả năng phục hồi sau rủi ro của hộ gia
đình2. Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế “Đóng góp
của khoa học Xã hội và Nhân văn trong phát triển
kinh tế xã hội” (2011) của Nguyễn Tuấn Anh nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu vốn xã hội
trong bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện nay. Nghiên
cứu cho thấy rằng vốn xã hội là yếu tố then chốt giúp
cộng đồng nông thôn vượt qua khó khăn, phát triển
kinh tế và xây dựng các mối quan hệ bền vững3.
Theo tác giả Putnam, R. D, khái niệm vốn xã hội
được định nghĩa là tổng hợp các mối quan hệ xã hội
mà cá nhân hoặc nhóm có thể sử dụng để hỗ trợ
cho các mục tiêu cá nhân hoặc cộng đồng. Nó bao
gồm các mạng lưới, mối quan hệ và sự tin tưởng
trong xã hội mà con người có thể khai thác để đạt
được lợi ích4. Trong công trình nghiên cứu của GS
Nguyễn Tuấn Anh cũng có đưa ra khái niệm Vốn xã
hội là một nguồn lực được biểu hiện cụ thể qua
mạng lưới xã hội, quan hệ có đi có lại và lòng tin
giữa các chủ thể hành động, cùng với chế tài duy trì
mạng lưới xã hội, quan hệ có đi có lại và lòng tin5.
Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả dùng khái
niệm Vốn xã hội của GS Nguyễn Tuấn Anh làm công
cụ để triển khai nghiên cứu về vốn xã hội của công
nhân tại KCN Nội Bài.
Khái niệm chuyển đổi việc làm đề cập đến vấn đề
mà cá nhân thay đổi từ công việc này sang công việc
khác. Quá trình này có thể liên quan đến việc thay đổi
ngành nghề, vị trí, hay thậm chí là lĩnh vực làm việc.
Chuyển đổi việc làm diễn ra do nhiều lý do, bao gồm
thay đổi nhu cầu thị trường, sự phát triển của kỹ
năng, mong muốn của cá nhân, hoặc do điều kiện
sống. Theo quan điểm của tác giả Nicholson, chuyển
đổi công việc là một quá trình đa diện đòi hỏi cá nhân
phải điều chỉnh các kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp
của mình đồng thời điều hướng các mạng lưới xã hội
ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của họ6.
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng khái
niệm vốn xã hội và khái niệm chuyển đổi việc làm với
nghĩa những người công nhân thông qua các mối
quan hệ xã hội như mạng lưới bạn bè, người thân, các
hội/nhóm và tổ chức xã hội,... có thể nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn, khuyến khích, đào tạo kĩ năng
nâng cao kĩ năng, tay nghề,... để có sự tự tin trong tìm
kiếm cơ hội việc làm mới/ chuyển đổi việc làm của họ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết, tác giả đã sử dụng phương pháp
phân tích tài liệu thống kê, phương pháp trưng cầu ý
——————
2Nguyen Thi Tuong Anh, Tran Quỳnh Anh (2016), “Social Capital in Rural Areas
of Vietnam and Its Impact on Household’s Life Satisfaction”, Journal of Economics
and DevelopmentVol. 17, No.3, December 201560Journal of Economics and
Development, Vol.17, No.3, December 2015, pp. 60-88.
3Nguyễn Tuấn Anh (2011), “Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở
nông thôn Việt Nam hiện nay”, Hội thảo quốc tế “Đóng góp của khoa học Xã hội
và Nhân văn trong phát triển kinh tế xã hội”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Université De Nantes,
Université Angers, Université du Maine, Hà Nội, tháng 4/2011.
4Putnam, R. D. [2000]. Bowling Alone: The Collapse and Revival of American
Community. Simon & Schuster.
5Nguyễn Tuấn Anh (2021), “Vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở
nông thôn Bắc Trung Bộ”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.34.
6Nicholson, N., & West, M. A. (1988). Transitional experiences: A review and
research agenda. In M. B. Arthur, D. T. Hall, & B. S. Lawrence (Eds.), Handbook
of career theory (pp. 345-370). Cambridge University Press.
Bảng 1: Cơ cấu mẫu nghiên cứu
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của đề tài NCKH cơ sở)

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
91
kiến bằng bảng hỏi thông qua Google Driver với mẫu
ngẫu nhiên là 200 công nhân làm việc tại KCN Nội Bài,
kết hơp phương pháp phỏng vấn sâu, nhằm cung
cấp những dữ liệu đinh lương và đinh tính nhằm tìm
hiêu vêảnh hưởng của vốn xã hội đến chuyển đổi
việc làm của công nhân tại KCN Nội Bài, huyện Sóc
Sơn, Hà Nội hiện nay. Khách thể tham gia khảo sát là
công nhân lao động trong các công ty tai Khu công
nghiệp tại tỉnh Nội Bài, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
3. Ảnh hưởng của vốn xã hội đến chuyển đổi
việc làm cho công nhân (nghiên cứu tại KCn nội
Bài, huyện Sóc Sơn, hà nội)
Việt Nam được coi là một nước có nguồn lao
động dồi dào với hơn 100 triệu dân. Theo Báo cáo
của Tổng cục thống kê, trong quý IV/2024, lực lượng
lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước đạt 53,2
triệu người, cho thấy sự phục hồi nhẹ sau ảnh hưởng
của dịch bệnh. Sự gia tăng khoảng 390,1 nghìn
người so với quý trước cùng tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động đạt 69,0% cho thấy xu hướng tích cực trong
việc trở lại thị trường việc làm. Số lượng lao động có
việc làm cũng đạt khoảng 52,1 triệu người, tăng
414,9 nghìn người so với quý trước và 639,1 nghìn
người so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nền kinh tế
đang phục hồi và tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn.
Tổng kết năm 2024, số lao động có việc làm là 51,9
triệu người, phản ánh sự ổn định và phát triển của thị
trường lao động trong bối cảnh phục hồi kinh tế7.
Những con số này không chỉ mang lại hy vọng cho
người lao động mà còn là tín hiệu tích cực cho thấy
sự phát triển kinh tế hiện tại.
Khu công nghiệp Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, TP
Hà Nội, được ra đời theo quyết định số 545/TTg ngày
05/10/1994 của Thủ tướng Chính Phủ, với diện tích
trên 115 ha. KCN Nội Bài có khoảng 40 công ty, chủ
yếu là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, với
khoảng trên 16 nghìn công nhân lao động8.
Theo dữ liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, trình
độ học vấn của công nhân tại KCN cũng khá cao so với
mặt bằng chung của cả nước. Tỉ lệ công nhân có trình
độ phổ thông là 57,5% (tốt nghiệp trung học cơ sở và
trung học phổ thông); trình độ trung cấp, cao đẳng là
14% (bảng 1). Với trình độ học vấn tương đối cao như
vậy, đây là điều kiện tốt để công nhân có những vị trí
công việc với mức lương phù hợp, nhưng cũng là
thách thức với một số công ty muốn giữ chân công
nhân; với tỉ lệ công nhân có trình độ đại học hoặc sau
đại học, họ không chỉ tìm kiếm việc làm đơn thuần mà
còn hướng đến các vị trí quản lý hoặc kỹ thuật có
chuyên môn cao, có thu nhập tốt tai các công ty trong
khu công nghiệp. Theo chia sẻ của ông Đ (tổ trưởng
Công đoàn) “Công ty chúng tôi có nhiều vị trí công
việc khác nhau, mỗi vị trí đòi hỏi trình độ của công
nhân. Có những công nhân tốt nghiệp cấp 3, được
công ty đào tạo ngắn hạn rồi làm việc tốt, nhưng cũng
có những vị trí yêu cầu công nhân có trình độ Đại học,
kĩ sư” (Nam, 42 tuổi, Công ty Sakura Hồng Minh).
Khi tìm hiểu về thâm niên làm việc tại công ty của
công nhân tại KCN Nội Bài, nhóm nghiên cứu thu
được kết quả sau:
Biểu đồ 1. Thâm niên làm việc tại công ty
của công nhân
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của đề tài NCKH cơ sở)
Chúng ta hiểu rằng, thâm niên làm việc không chỉ
phản ánh mức độ gắn bó của công nhân với công ty
mà còn chỉ ra sự ổn định và cam kết của nhân viên đối
với tổ chức. Một đội ngũ công nhân có thâm niên lâu
dài thường cho thấy một môi trường làm việc tích
cực, nơi mà nhân viên cảm thấy được đánh giá và có
cơ hội phát triển. Qua biểu đồ trên cho thấy, tỉ lệ công
nhân lao động đang làm việc tại công ty dưới 5 năm
chiếm 44,5%, từ 5 năm đến dưới 10 năm chiếm
25,5%, chỉ có 7% tỉ lệ công nhân làm việc tại công ty
từ 15 đến dưới 20 năm; và có 3,5% tỉ lệ công nhân làm
việc tại công ty trên 20 năm. Với những công nhân
gắn bó lâu năm với công ty (có thâm niên làm việc),
thường cho thấy sự gắn bó, phản ánh sự đãi ngộ của
công ty với công nhân. Theo quan điểm của chị V
(công nhân lắp ráp): “Năm 2008, tôi đã làm việc tại
công ty này. Hiện nay, mặc dù đơn hàng của công ty
giảm, nhưng công ty vẫn có những chính sách ưu tiên
——————
7Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý IV và
năm 2024”, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/
thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2024/
8Thảo Ngân, “Hà Nội sẽ có chính sách riêng để công nhân lương 7 triệu/tháng
mua nhà ở xã hội”, Tạp chí online, https://mekongasean.vn/ha-noi-se-co-
chinh-sach-rieng-de-cong-nhan-luong-7-trieuthang-mua-nha-o-xa-hoi-
519.html.

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 38 thaáng 4/2025
92
với những công nhân đã có sự gắn bó với công ty
trong thời gian dài” (Nữ, 43 tuổi, công ty Yamaha
Moto Việt Nam).
Khi tìm hiểu về số lần chuyển đổi công việc, mức
độ nhóm nghiên cứu thu được dữ liệu sau:
Bảng 2. Số lần chuyển việc và mức độ yêu thích với
công việc hiện nay của công nhân tại KCn nội Bài
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của đề tài NCKH cơ sở)
Thông qua dữ liệu trên, cho chúng ta thấy, tỉ lệ
chuyển việc (nhảy việc) của công nhân hiện nay khá
cao. Số công nhân đã từng chuyển việc ít nhất 1 lần
chiếm trên 40%; số công nhân chuyển việc 3 lần trở
lên chiếm 21%. Điều đó cho thấy, cùng với sự biến
đổi của xã hội, thị trường lao động năng động, cũng
tạo điều kiện cho công nhân tiếp cận những công
việc mới với những cơ hội tốt hơn.
Sự hài lòng trong công việc của công nhân có thể
dẫn đến việc tăng cường động lực làm việc, giúp họ
cống hiến nhiều hơn và đạt hiệu suất cao hơn. Trong
nghiên cứu trên chỉ ra, tỉ lệ yêu thích với công việc
hiện tại chỉ chiếm 24%, còn đa số công nhân lựa chọn
mức yêu thích là bình thường với công việc của họ.
Điều này cho thấy rằng các công ty có thể cần xem
xét lại những chính sách đãi ngộ, cải tiến môi trường
làm việc và tạo điều kiện để nhân viên phát triển bản
thân và nghề nghiệp. Để nâng cao sự hài lòng và
động lực làm việc, các chiến lược khuyến khích, đào
tạo, và phát triển nghề nghiệp có thể đóng vai trò
quan trọng trong việc cải thiện tình hình hiện tại.
Khi tìm hiểu về lý do công nhân quyết định
chuyển đổi việc làm, nhóm nghiên cứu thu được dữ
liệu sau:
Qua dữ liệu trên cho thấy, thang đo về “thu nhập”
là lý do chính mà công nhân đưa ra khi quyết định
chuyển việc. Tỷ lệ cao này cho thấy rằng vấn đề tài
chính vẫn là mối quan tâm hàng đầu đối với người
lao động. Công nhân thường tìm kiếm những công
việc có thu nhập tốt hơn để cải thiện chất lượng cuộc
sống. Điều này cũng phản ánh áp lực kinh tế mà
nhiều công nhân phải đối mặt trong bối cảnh chi phí
sinh hoạt gia tăng.
Môi trường làm việc cũng đứng ở vị trí cao trong
bảng lý do chuyển đổi việc làm, chiếm 59,5%. Điều
này cho thấy tầm quan trọng của một môi trường
làm việc tích cực, an toàn và thân thiện đối với sự hài
lòng của công nhân. Một môi trường kém có thể
dẫn đến sự bất mãn và thúc đẩy người lao động tìm
kiếm cơ hội tốt hơn. Lý do “Khoảng cách địa lý” và
“thay đổi địa điểm sinh sống” cũng chiếm tỉ lệ khá
cao khi công nhân chuyển đổi công việc của mình.
Cả hai lý do này cho thấy rằng yếu tố địa lý có ảnh
hưởng lớn đến quyết định nghề nghiệp của công
nhân. Các công nhân có thể gặp khó khăn về di
chuyển, từ đó họ phải tìm kiếm các vị trí thuận tiện
hơn trong công việc. Dựa trên dữ liệu trên cho thấy,
lý do chuyển đổi việc làm của công nhân không chỉ
phản ánh những mối quan tâm của công nhân về
thu nhập và điều kiện làm việc, mà còn chỉ ra các
yếu tố xã hội như mối quan hệ giữa công nhân với
môi trường làm việc, sự khuyến khích của bạn bè.
Đây có thể là cơ sở để những nhà quản lý doanh
nghiệp, đặc biệt tại KCN Nội Bài tạo ra một môi
trường làm việc tốt hơn, nhằm giữ chân nhân viên
và nâng cao hiệu suất lao động. Các doanh nghiệp
cần phải nỗ lực cải thiện điều kiện làm việc và hệ
thống đãi ngộ để giữ chân lao động, từ đó góp phần
vào sự phát triển bền vững của công ty trong bối
cảnh thị trường lao động cạnh tranh.
Nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu về những sự hỗ
trợ công nhân khi họ chuyển đổi việc làm.
Bảng 3. Lý do công nhân chuyển đổi việc làm
Bảng 4. những hỗ trợ công nhân khi chuyển đổi
việc làm
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của đề tài NCKH cơ sở)
(Nguồn: Dữ liệu khảo sát của đề tài NCKH cơ sở)

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
93
Bảng dữ liệu trên cho thấy, khi công nhân chuyển
đổi việc làm, sự hỗ trợ mà họ nhận được nhiều nhất
chính là sự động viên, khuyến khích, tin tưởng của
người thân, bạn bè, đồng nghiệp. Điều này phản ánh
vai trò quan trọng của nguồn động viên từ những
người xung quanh, từ đồng nghiệp đến gia đình,
trong việc quyết định chuyển đổi nghề nghiệp. Việc
có một môi trường ủng hộ sẽ giúp công nhân tự tin
hơn trong việc tìm kiếm và thích nghi với công việc
mới. Sự hỗ trợ về “thông tin và cơ hội về việc làm” cho
thấy công nhân khi chuyển đổi việc làm đã nhận
được sự hỗ trợ về nguồn thông tin. Họ cần biết rõ về
các cơ hội việc làm, lộ trình phát triển nghề nghiệp,
cũng như thông tin chi tiết về các công ty mà họ có ý
định tham gia. Việc thiếu thông tin có thể khiến họ
cảm thấy không chắc chắn trong quyết định chuyển
việc. Sự hỗ trợ về tài chính đối với công nhân khi
chuyển việc cũng rất quan trọng, chiếm tỉ lệ 43% ,bởi
khi công nhân đưa ra quyết định chuyển việc, họ có
thể phải đối mặt với những khó khăn tài chính trong
giai đoạn chuyển tiếp. Vì vậy, sự hỗ trợ tài chính có
thể bao gồm các khoản tiền từ bạn bè, người thân,
các hội nhóm, sự trợ cấp, phí đào tạo hoặc chính sách
nghỉ việc linh hoạt của công ty để công nhân có thời
gian tìm kiếm việc làm mới. Các doanh nghiệp cần
xem xét các yếu tố này để cung cấp những hỗ trợ phù
hợp, từ đó giúp công nhân tự tin hơn trong quá trình
tìm kiếm và chuyển đổi việc làm. Việc tạo ra một môi
trường trợ giúp công nhân trong quá trình chuyển
đổi việc làm sẽ không chỉ giúp nâng cao sự hài lòng
và động lực làm việc của công nhân trong KCN mà
còn góp phần vào sự phát triển bền vững của lực
lượng lao động trong khu vực. Đây chính là các
nguồn vốn xã hội.
4. Kết luận
Nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn xã hội đến việc
chuyển đổi việc làm của công nhân tại KCN Nội Bài đã
chỉ ra rằng vốn xã hội đóng vai trò thiết yếu trong
việc định hình khả năng và quyết định chuyển nghề
của lực lượng lao động. Vốn xã hội, được hiểu là các
mối quan hệ và mạng lưới kết nối trong cộng đồng,
tạo ra một cơ sở vững chắc cho công nhân trong việc
tiếp cận thông tin việc làm, khả năng nhận được sự
hỗ trợ và khuyến khích từ bạn bè, gia đình, và đồng
nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng sự động viên tinh
thần từ các mối quan hệ xã hội là yếu tố nổi bật nhất,
với 59,5% công nhân cho biết họ nhận được sự
khuyến khích trong quá trình tìm kiếm việc làm mới.
Hơn nữa, khi xem xét các lý do chuyển đổi việc
làm, “thu nhập” vẫn là nguyên nhân đầu tiên (68,5%),
tiếp theo là môi trường làm việc (59,5%) và cơ hội
thăng tiến (32%). Điều này phản ánh mong muốn
của công nhân về việc cải thiện chất lượng cuộc
sống thông qua công việc ổn định và có thu nhập
cao. Các yếu tố xã hội như khoảng cách địa lý và sự
thay đổi địa điểm sinh sống cũng cực kỳ quan trọng,
cho thấy mối liên hệ giữa điều kiện sống và quyết
định việc làm.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp tại KCN Nội Bài nói riêng cần chú ý đầu
tư vào việc cải thiện môi trường làm việc, nâng cao
chính sách đãi ngộ và xây dựng một mạng lưới hỗ trợ
tích cực cho công nhân. Điều này không chỉ giúp giữ
chân người lao động mà còn tăng cường sự phát
triển bền vững cho cả doanh nghiệp và lực lượng lao
động trong khu vực. Sự kết hợp giữa cải thiện điều
kiện làm việc và việc phát triển vốn xã hội sẽ tạo nên
một nền tảng vững chắc cho hiệu suất lao động và sự
phát triển nghề nghiệp trong bối cảnh thị trường
luôn biến động. ❍
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Tuấn Anh (2021), “Vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia
đình ở nông thôn Bắc Trung Bộ”, Sách chuyên khảo, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội.
2. Nguyen Thi Tuong Anh, Tran Quỳnh Anh (2016), “Social Capital in
Rural Areas of Vietnam and Its Impact on Household’s Life Satisfaction”,
Journal of Economics and Development, Vol. 17, No.3, December
201560, Journal of Economics and Development, Vol.17, No.3,
December 2015, pp. 60-88
3. Lê Ngọc Hùng (2008), “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội
qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu con người số 4
(37). 2008. Tr 45-54.
4. Thảo Ngân, “Hà Nội sẽ có chính sách riêng để công nhân lương 7
triệu/tháng mua nhà ở xã hội”, tạp chí online, https://mekongasean.
vn/ha-noi-se-co-chinh-sach-rieng-de-cong-nhan-luong-7-trieu
thang-mua-nha-o-xa-hoi-519.html
5. Hồng Tuấn (2013), “Phối hợp đảm bảo an toàn KCN Nội Bài”, Tạp chí
An ninh thủ đô”, ngày 30/10/2013, https://www.anninhthudo.vn/
phoi-hop-dam-bao-an-toan-khu-cong-nghiep-noi-bai-post184322.
antd?utm_source=chatgpt.com
6. Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm
quý IV và năm 2024”, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-
thong-ke/2025/01/ thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-
quy-iv-va-nam-2024/
7. Putnam, R. D. [2000], Bowling Alone: The Collapse and Revival of
American Community, Simon & Schuster.
8. Nicholson, N., & West, M. A. (1988), Transitional experiences: A
review and research agenda, In M. B. Arthur, D. T. Hall, & B. S.
Lawrence (Eds.), Handbook of career theory (pp. 345-370). Cambridge
University Press.
9. Tristan Claridge (2015), “Putnam On Social Capital - Democratic Or
Civic Perspective”, https://www.socialcapitalresearch.com/putnam-
on-social-capital-democratic-or-civic-perspective/

