LIÊN KT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIP TRONG VIC GII QUYT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
268
N GII VI ĐAM MÊ KINH DOANH
NGAY T KHI CHN HC NGÀNH KINH T
ThS. Nguyễn Minh Diễm Quỳnh
Trường Đại hc An Giang
1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ
1.1. Thực trạng chung
Vốn thời gian gắn bó, tham gia giảng dạy các lớp đào tạo chuyên ngành về kinh
tế, tác giả nhận thấy đa phần học sinh, sinh viên học viên của khối ngành y chủ yếu
đều nữ. Niềm đam kinh doanh đến với các em không chỉ bắt đầu từ lúc đặt câu hỏi
cho Hội đồng vấn tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên
nghiệp, không chỉ định hướng đi theo con đường mẹ, cha hay người thân trong gia
đình định sẵn. Ý thức, nguyện vọng của các em đã được định hình và tích lũy dần ngay từ
lúc còn học sinh của trường phổ thông giai đoạn trước khi m thủ tục đăng chọn
lựa ngành, nghề.
Sự cần mẫn, tỉ mỉ và chu đáo là một trong những tố chất thành công cho nữ giới dấn
thân vào lĩnh vực kinh tế. Đam mê kinh doanh không có nghĩa phải là khởi sự kinh doanh
đối với bất kỳ một chủ đầu tư mà có thể là người tham gia hành nghề trong tổ chức kinh tế
như nhân viên bán hàng, kế toán, tiếp thị…. Đó là điều kiện thuận lợi, kênh thông tin hữu
hiệu thiết thực, cách gián tiếp để học hỏi, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm thực tiễn sau khi
tốt nghiệp ra trường.
Đến với môi trường kinh doanh hiện thực hóa các ý tưởng đã được định hình không
chỉ áp dụng cho riêng nữ giới. Biến nghĩ suy trong m tưởng thành hành động cụ thể. Ý
chí cùng quyết tâm cao của nữ giới đã dần hình thành n phẩm chất, y tiến dần cùng với
thời gian. Kiến thức các em tiếp thu được từ nhà trường, kinh nghiệm với các công
việc đã qua sẽ là hành trang vững chắc để các em thỏa đam mê thực hiện.
Nữ giới ngày nay không đơn thuần là hình ảnh người phụ nữ chỉ lo vun vén gia đình
hay tham gia đảm trách các mảng “mềm” ng việc của hội lúc nào cũng đứng sau
nam giới. Sự an phận, cam chịu giới hạn quanh quẩn việc nhà không mặc định đương
nhiên thay cho tính năng động và bản lĩnh trên thương trường của nữ giới ở giai đoạn hiện
nay. Xét khía cạnh kinh tế, để đạt được mục tiêu đề ra trong khởi sự kinh doanh, nữ giới
đã phải không ngừng phấn đấu từng ngày bằng sự cố gắng trau dồi và học hỏi. Tự tin, sáng
tạo quyết m cao yếu tố thành ng trong quá trình khởi nghiệp. Đồng thời với nó,
các mối quan hệ do nữ giới tạo ra cũng mang nhiều thuận lợi trong khi yếu tố cạnh tranh
của thương trường luôn thúc đẩy doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm đối tác với
K YU HI THO KHOA HC
269
khách hàng.
Mặt trái của vấn đề đôi lúc đã xảy ra cho nữ giới. Họ chính người gánh chịu thiệt
thòi không may mắn, âm thầm phải chấp nhận nghịch cảnh. Họ dám đương đầu với
những mất mát bởi hạnh phúc cá nhân; hy sinh luôn cả gia đình chỉ vì đam mê kinh doanh
mà không nỡ lòng bỏ ngang khi quyết tâm theo đuổi. thể minh chứng cho trường hợp
với những mối quan hệ ngoại giao trong công việc, cần có sự hiện diện bên ngoài kịp thời
của nữ giới, họ thường bị chi phối nhiều không chủ động được về mặt thời gian khi
trước mắt họ là bao lo toan nặng gánh của gia đình mà không được sự cảm thông hay chia
sẻ. Cái giá mà họ đánh đổi đôi khi lại rất đắt. Thế nhưng, chỉ vì đam mê, vì con đường dấn
thân của khởi nghiệp với đích đến của sự thành công họ quyết tâm theo đuổi. Người
phụ nữ sẵn sàng không ngại khó y đành lòng chấp nhận bị ruồng rẫy từ bỏ của gia đình
chỉ định kiến vị thế của phụ nữ, không chu toàn thời gian chăm lo quán xuyến việc
nhà mà họ đã không thể cùng lúc gánh vác nhiều việc để đảm đương.
Người làm kinh doanh giỏi sẽ phải dự liệu luôn cả tình huống đối mặt với nghịch
cảnh y, biết rằng, đối với nữ giới, đa phần đều chọn gia đình điều quan trọng nhất
để làm điểm dừng cho hạnh phúc đồng nghĩa với bao ước mơ về hoài bão tương lai tự mình
đã khép lại. Mặc vậy, phần đông nữ giới vẫn luôn tha thiết mong đợi sự đồng cảm, vị
tha thấu hiểu của người thân trong gia đình để họ không bị buộc vào tình thế chấp
nhận quyền lựa chọn một trong hai khi đặt lên bàn cân đong đo giữa công việc và gia đình
mà họ chỉ có thể được đứng về một phía.
Tất cả những điều đó, ngay từ nhỏ, lúc n là học sinh, nữ giới thể đã nắm bắt
được các thông tin qua quá trình nhận thức. Những hạn chế hay thiếu sót từ cuộc sống gia
đình một khi nữ giới chọn hướng kinh doanh để tích cực theo đuổi với đam mê cũng lẽ
thường tình. Thực trạng y xảy ra ở hầu hết c địa phương ngày một gia tăng theo từng
giai đoạn. Bởi lẽ, môi trường năng động, sáng tạo trong kinh doanh đòi hỏi nữ giới phải
nhanh nhẹn, tận dụng thời cơ và không thể chần chừ để kịp thời nắm bắt.
Đó thách thức ngiới đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, với những thông tin thu thập được, các em đã hình
dung được các vấn đề của thời cuộc nhưng vẫn không từ bỏ nguyện vọng đam để
quyêt tâm theo đuổi khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, tùy ở từng lĩnh vực hoạt động kinh tế
và địa bàn kinh doanh, nữ giới luôn muốn phát huy hết năng lực sáng tạo của mình khi nền
tảng triết lý sâu xa của những điều mà họ cần là người thấu hiểu.
1.2. Mục tiêu của chương trình đào tạo đại học cho sinh viên khối ngành kinh tế
Một khi đam muốn thực hiện ý tưởng kinh doanh, nối tiếp những ý tưởng đã
được định hình trên ghế tại mái trường phổ thông, khi đó, nữ giới thuộc đối tượng y đã
tích cực tự tìm hiu, nghiên cứu, tra tìm những thông tin từ sở đào tạo chuyên ngành
kinh tế nhằm lĩnh hội mục tiêu của sở đào tạo. Theo đó, mục tiêu chung của chương
trình đào tạo đại học cho sinh viên tốt nghiệp khối ngành kinh tế khả năng ứng dụng
LIÊN KT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIP TRONG VIC GII QUYT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
270
kiến thức đại cương, kiến thức sở về kinh tế học kiến thức chuyên ngành tài chính
doanh nghiệp, tài chính kế toán, quản trị kinh doanh, marketing, kinh tế quốc tế để xây
dựng, đánh giá, lựa chọn các kế hoạch kinh doanh và triển khai dự án kinh tế, khởi sự kinh
doanh trên phương diện tài chính, kế toán quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, sinh viên
cũng hình thành được các knăng nhân, kỹ năng nghề nghiệp năng lực thực hành
nghề, rèn luyện đạo đức, tác phong để khởi khởi nghiệp thành công.
Tùy từng chuyên ngành cụ thể về lĩnh vực kinh tế như kế toán tài chính, kế toán doanh
nghiệp, kinh tế quốc tế, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng hay marketing thì mục
tiêu cụ thể của sinh viên tốt nghiệp các ngành y sẽ kiến thức, knăng phẩm
chất như:
- Kiến thức bản về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, quốc phòng, giáo dục thể
chất và các kiến thức cốt lõi, những mô hình, công cụ, phương pháp để quản trị, giải quyết
các vấn đề tài chính doanh nghiệp, kinh tế học, toán kinh tế, quản trị học, pháp luật về
kinh tế.
- Tự cập nhật kiến thức, xử lý công việc độc lập, tư tưởng chính trị vững vàng, tuân
thủ pháp luật đạo đức kinh doanh; làm việc nhóm, giao tiếp, sdụng ngoại ngữ
tổ chức thực hiện công việc; năng lực y dựng, thực hiện, phân tích đánh giá về mặt
tài chính, kế toán, các hoạt động của doanh nghiệp hay phương án kinh doanh, quan hệ
kinh tế quốc tế và dự án kinh tế, có kế hoạch huy động vốn và vay vốn ngân hàng để khởi
nghiệp.
23
1.3. Những phẩm chất cần có đối với sinh viên khối ngành kinh tế
Do đặc thù của mỗi ngành học, mỗi địa phương hay khu vực đối với sinh viên kinh
tế, bên cạnh những phẩm chất chung điều kiện cần thì những phẩm chất riêng yếu tố
mang tính quyết định cần được lĩnh hội ở các em ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
được xem là điều kiện đủ để khởi sự kinh doanh, bao gồm các vấn đề thể hiện như sau:
- duy khởi nghiệp: không đơn thuần học kinh tế để bắt đầu làm việc tại một
công ty kinh doanh nào đó mà vấn đề thể hiện ở nhà trường sẽ trang bị, cung cấp cho sinh
viên kiến thức nền tảng bản để người học cái nhìn toàn diện, thúc đẩy sự tập trung,
khả năng sáng tạo ra cái mới trong lĩnh vực, ý tưởng kinh doanh.
- Trí thông minh hội khả năng thể quản lý và xử lý tình huống với môi trường
làm việc mang tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Điều này đòi hỏi chủ đầu phải
người có trí tuệ để tự suy xét và ra quyết định sau này trước những tình huống phức tạp sẽ
phát sinh.
- Khả năng lãnh đạo yếu tố không thể thiếu khi ng dụng vào môi trường kinh
doanh. Trong trường hợp này, mỗi sinh viên cần ý thức bản thân không chỉ là một cá nhân
23
Đại học An Giang, (2017). Chương trình đào tạo ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh
K YU HI THO KHOA HC
271
độc đáo mà còn phải có kỹ năng để dẫn dắt, cân bằng các nhu cầu của tập thể.
- Khả năng kết nối với cộng đồng được hiểu là tinh thần tương trợ, tương thân, quan
tâm, sẻ chia nhiều hơn với cuộc sống, các hoạt động liên quan đến cộng đồng. Nếu còn
sinh viên tphẩm chất y sẽ được thể hiện qua sự tham gia nhiệt nh những hoạt động
tình nguyện, những chiến dịch để thúc đẩy sự phát triển, vì lợi ích chung của cả cộng đồng.
- Khả năng phân tích knăng thu nhận thông tin, phân tích, tính toán, thống kê,
đưa ra chiến lược, mục tiêu bằng sự thích thú, đam mê để đảm bảo việc tự chủ và dấn thân
vào môi trường kinh doanh
24
một cách có hiệu quả.
2. CÁC YÊU CẦU VỀ NĂNG LỰC VÀ NHỮNG KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI NỮ
GIỚI ĐAM MÊ KHỐI NGÀNH KINH TẾ
2.1. Yêu cầu về năng lực cơ bản đối với sinh viên chọn ngành kinh tế
Trong thời kđổi mới, việc phát triển toàn diện năng lực của sinh viên điều cần
thiết để theo kịp xu hướng của xã hội và và bắt kịp tình hình của thế giới. Trong đó, những
vấn đề cần được quan tâm như: khả năng tư duy, trình độ ngôn ngữ, sự tự tin luôn phải đi
đầu, hòa mình vào cộng đồng là một trong những yếu tố dần được hình thành năng lực phát
triển toàn diện ở mỗi sinh viên.
duy sáng tạo luôn là tố chất cần thiết mỗi sinh viên nhằm đảm bảo người học
luôn luôn sáng tạo, không bị rập khuôn bởi những nguyên tắc, tiêu chuẩn cũ kỹ. Hòa nhập
môi trường bằng sự ng tạo sẽ giúp sinh viên trở nên đột phá trong các ý tưng. Sự sáng
tạo cần mọi nơi, mọi lúc, mọi khía cạnh ngay từ trong công việc, học tập cuộc sống.
Khả năng tư duy tốt sẽ giúp năng lực của sinh viên trở nên tốt hơn.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp với người nước ngoài trong thời kỳ hội nhập. Sinh
viên thế hệ mới ngoài tiếng mẹ đẻ thì cần biết thêm ít nhất một ngôn ngữ khác mang tính
phổ thông Tiếng Anh. Việc thêm ngôn ngữ nước ngoài là hành trang để sinh viên tiếp
cận với nền văn hóa, kiến thức của thế giới rộng mở hội nghề nghiệp của bản thân
một cách căn bản và toàn diện hơn.
Năng lực sinh viên n được thể hiện bằng sự tự tin, năng động, sáng tạo và thực tiễn
để đương đầu với những khó khăn phía trước. Thiếu sự tự tin đồng nghĩa với việc mất đi
rất nhiều hội của bản thân không phải lúc nào cũng có được. Dẫu biết rằng kiến
thức, chuyên môn có thể chưa đạt được ở trình độ cao nhưng chắc chắn sự tự tin phải luôn
dẫn đầu để khẳng định bản thân sinh viên dám nghĩ, m làm, khám phá ra những điều
rất mới.
Ngoài những knăng về trình độ chuyên môn thể hiện năng lực của sinh viên, việc
phát triển toàn diện ng lực sinh viên còn được thể hiện bằng c hoạt động. Trong đó,
hoạt động cộng đồng mang tính nhân văn theo truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam
24
. Phương Anh,(truy cp ngày 21/6/2016), https://thanhnien.vn › Giáo dc.
LIÊN KT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIP TRONG VIC GII QUYT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
272
vừa đem lại lợi ích thiết thực tích cực cho sinh viên, vừa tăng sự trải nghiệm thực tế, giao
lưu với bạn bè và đối tác các khu vực
25
.
Đó chỉ là những vấn đề mang tính luận chung. Tuy nhiên, y thuộc vào hoàn cảnh,
điều kiện của từng vùng miền khả năng thích nghi của sinh viên có thể hội nhập được
với nền kinh tế còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, tố chất dẫn đến thành công
chính ý chí quyết tâm của người học, của sự nhận thức mỗi sinh viên. Sự hỗ trợ
thường xuyên, vấn của người thầy trong trường hợp này sẽ chất xúc tác để giúp các
em vững bước hơn trong quá trình theo đuổi đam mê khởi nghiệp.
2.2. Những kỹ năng kinh doanh của nữ giới cần được trang bị và củng cố ở cơ sở
đào tạo khối ngành kinh tế.
Không nằm ngoài những tố chất cần trong kinh doanh nói chung, nữ giới cần
những knăng duy đặc biệt, thể tự khẳng định mình, ơn lên đảm nhiệm những
chức vụ lãnh đạo, quản các đơn vị kinh doanh hay chủ thể kinh tế. Các knăng đó
bao gồm:
2.2.1 Tự tin và dám chấp nhận
Bản tính nữ giới thường hay cẩn trọng, mọi quyết định và hành động đều phải chi tiết
và mang tính chín chắn trước khi hành động. Điều này có mối liên quan chặt chẽ với năng
lực chấp nhận thực tế đầy thử thách. Nữ giới biết rằng việc chấp nhận thay đổi để tạo nên
đột phá mới . Sự cẩn trọng của nữ giới trong kinh doanh thể hiện chỗ sẽ không bỏ tiền
vốn, thời gian và nguồn lực vào những dự án mà một khi họ không am hiểu hay chưa được
tường tận.
2.2.2. Biết nắm bắt thời cơ
Phụ nữ thường giỏi trong tính toán các giá trị lợi ích. Tố chất thành công trong kinh
doanh của nữ giới đều hiểu rằng bản thân cần từ bỏ lợi nhuận nhỏ để tranh thủ những
hội lớn hơn trong sự nghiệp. Đa phần họ đều người nguyên tắc: Muốn m kinh doanh
thì trước hết phải đầu tư, nếu không chịu mất mát sẽ chẳng có thu về. Góc nhìn của người
đầu thường không thiển cận mà là rất xa. Họ theo đuổi lợi ích lớn thuộc về tương lai chứ
không phải khoản lợi ích nhỏ của từng giai đoạn. Họ vẫn biết quy luật của thị trường.
Thương trường chiến trường; hội trong tầm tay nữ giới luôn cần phải dang tay
nắm bắt.
2.2.3. Bền bỉ về ý chí
Trên con đường khởi nghiệp, người kinh doanh luôn gặp phải khó khăn, đòi hỏi ý
chí bền bỉ để kiên nhẫn vượt qua. Thành công hay chiến bại có khi tính được chỉ bằng gang
tấc trong phân loại, quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp. Sự kiên định của nữ giới là
phương cách khắc phục vượt mọi khó khăn để bước tới thành ng. lẽ đó, ởng
25
zsstritezuct.net/doi-moi-phat-trien-toan-dien-nang-luc-sinh-vien/, truy cập ngày 9/4/2018