
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
149
ĐÁNH GIÁ CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG ĐỐI VỚI KỸ NĂNG CỦA
SINH VIÊN TỐT NGHIỆP KHỐI NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI
NHÂN VĂN TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY
TS. Nguyễn Duy Mộng Hà
TS. Cao Thị Châu Thủy
Nguyễn Thị Vân Anh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
TÓM TẮT
Bài viết tổng quan về kỹ năng (KN), những bối cảnh tác động đến yêu cầu về KN của
sinh viên tốt nghiệp (SVTN) hiện nay và tìm hiểu vai trò của nhà tuyển dụng (NTD) trong
việc phát triển chương trình đào tạo (CTĐT). Từ đó, tìm hiểu thực trạng về mức độ đáp
ứng KN của SVTN khối ngành khoa học xã hội nhân văn (KHXHNV) hiện nay so với mức
độ yêu cầu về KN của NTD – cụ thể SVTN tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân
Văn, Đại học Quốc Gia – Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-TPHCM)
được khảo sát, đánh giá. Một số đề xuất nhằm góp phần giúp sinh viên (SV) khối ngành
KHXHNV nâng cao được KN và đáp ứng các yêu cầu KN của thị trường lao động trong
thời kỳ hiện nay được trình bài trong bài viết.
Từ khóa: kỹ năng, yêu cầu, đáp ứng, sinh viên, sinh viên tốt nghiệp, thị trường lao
động, nhà tuyển dụng.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, KN của mỗi chủ thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trong công việc và
cuộc sống của một cá nhân. Tuy nhiên, một bộ phận SV hiện nay chưa nhận thức được đầy
đủ vai trò và tầm quan trọng của việc tích lũy, trang bị KN. Trong khi đó, việc tuyển chọn
được những nhân viên có KN tốt chính là yếu tố được NTD ưu tiên hàng đầu khi tuyển
chọn nhân viên trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, xã hội tri thức và cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) bùng nổ hiện nay. Các vị trí công việc ngày nay không chỉ
đòi hỏi người lao động có kiến thức tốt mà còn phải có KN thích ứng với sự thay đổi, có
năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh trong công việc nhiều hơn. Để đáp ứng
được những yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động về KN của người lao động, các
tổ chức nhà trường phải luôn cải tiến, phát triển chương trình đào tạo. Việc khảo sát lấy ý
kiến của NTD cũng ngày càng được các cơ sở giáo dục quan tâm, đóng vai trò quan trọng
trong việc điều chỉnh, cải tiến CTĐT và hoạt động đào tạo. Vậy mức độ đáp ứng của SVTN
các ngành KHXHNV, cụ thể ở tại trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-TPHCM đối với yêu

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
150
cầu của NTD về các nhóm KN ở mức độ nào? Cần có những đề xuất, giải pháp nào để cải
thiện, phát triển KN cho SV ở ĐH KHXH&NV, ĐHQG-TPHCM để đáp ứng được yêu cầu
của các NTD. Đó là những vấn đề được bài viết giải quyết.
1. TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG
Theo từ điển Giáo dục học, KN là “Khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động
phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành
động cụ thể hay hành động trí tuệ”. (Từ điển Giáo Dục Học. 2013)
Ngoài định nghĩa khái niệm KN trình bày trên thì KN còn được định nghĩa trên nhiều
bình diện khác nhau, trong bài viết này nhóm tác giả sử dụng khái niệm KN được hiểu như
sau: KN là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện
nhất định để đạt được một chỉ tiêu nhất định. Các KN có thể là KN mềm, KN nghề nghiệp
và KN sống. Khi học, làm việc ở những nghề khác nhau thì sẽ có những KN nghề nghiệp
khác nhau nhưng đối với nhóm các KN sống và KN mềm là những KN cơ bản thì bất cứ
ai dù làm lĩnh vực gì, nghề nghiệp gì cũng nên có và cần phải có.
Để phân loại KN thì cũng có nhiều cách phân loại khác nhau, trong giới hạn bài viết
này nhóm tác giả phân loại KN thành hai nhóm: KN cứng (KNC) và KN mềm (KNM).
Theo đó, KNC là những kiến thức và thực hành có tính chất kỹ thuật, chuyên môn nghề
nghiệp, tập hợp các khả năng để một người có thể hoàn thành một loại tác vụ nghề nghiệp
chuyên môn. KNM là một thuật ngữ chỉ những KN liên quan đến tính cách con người,
không mang tính chuyên môn, được xem như khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa
nhập, tương tác với xã hội. KNM hình thành một phần do bẩm sinh, nhưng hầu hết là qua
quá trình rèn luyện, thực hành trải nghiệm của những tình huống trong nhà trường và
cuộc sống.
Vai trò của KN ngày càng được chứng minh có sức ảnh hưởng lớn đến sự thành công
trong sự nghiệp và cuộc sống của một người. Bởi KN sẽ giúp bạn bổ trợ, phát huy những
kiến thức chuyên môn nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra hiệu quả cao trong công việc.
Thực tế cho thấy có nhiều người rất giỏi chuyên môn, nhưng họ chưa thành công như mong
đợi hoặc thậm chí thất bại trong công việc và cuộc sống vì họ thiếu hoặc chưa quan tâm
đến các KN cần thiết trong công việc, trong việc giao tiếp ứng xử,... Khi cuộc sống ngày
càng phát triển, môi trường làm việc ngày càng trở nên năng động với tính cạnh tranh cao
thì KN là một trong những đòi hỏi quan trọng của NTD.
2. VAI TRÒ CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG
TRÌNH ĐÀO TẠO
Với đặc trưng “sản phẩm” – lực lượng lao động của giáo dục đào tạo là để phục vụ
cho xã hội, thì việc lấy ý kiến đánh giá của NTD để phát triển CTĐT là một vấn đề cần
thiết, ngày càng được các cơ sở giáo dục quan tâm và trở thành một quy định của Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo mà các cơ sở giáo dục cần phải thực hiện. Ý kiến phản hồi và yêu cầu của

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
151
NTD đối với công việc mà SVTN đang đảm nhận và mức độ đáp ứng yêu cầu của SVTN
là kênh thông tin chính thức và đáng tin cậy để Nhà trường có thêm cơ sở xác định khả
năng đáp ứng của SVTN trong công việc hiện tại theo nhu cầu của thị trường lao động;
Nhà trường xác định được yêu cầu của NTD đối với công việc mà SVTN của trường đang
đảm nhận. Các khoa/bộ môn có thêm cơ sở để rà soát, điều chỉnh CTĐT theo định kỳ và
có minh chứng cho Báo cáo tự đánh giá cấp CTĐT và theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA. Trong
những năm qua, các cơ sở giáo dục đại học đã có những cải tiến CTĐT dựa theo các ý kiến
đóng góp của NTD, đây là hoạt động thường niên ở các tổ chức nhà trường đại học.
Việc lấy ý kiến phản hồi của NTD trong việc phát triển chương trình và hoạt động
đào tạo (CT&HĐ ĐT) hiện nay thường tham gia theo 2 cách là tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp. Cụ thể: (1) Hình thức trực tiếp (Đóng góp ý kiến về chuẩn đầu ra, đóng góp ý
kiến về CT&HĐ ĐT thông qua các buổi tọa đàm việc làm, trả lời phỏng vấn trực tiếp, điền
phiếu khảo sát,..); Hình thức gián tiếp thông qua các kênh thông tin tuyển dụng, phản hồi
chất lượng SVTN, cung cấp các yêu cầu đối với SVTN thông qua các buổi tập huấn, giới
thiệu việc làm,…
3. BỐI CẢNH XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN YÊU CẦU VỀ KỸ NĂNG CỦA SINH
VIÊN TỐT NGHIỆP KHỐI NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN HIỆN NAY
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu
thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay. Những phát triển mạnh mẽ về
khoa học và công nghệ đã góp phần đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới.
Các xu hướng phát triển đó không chỉ diễn ra ở lĩnh vực thương mại mà còn ở tất cả các
lĩnh vực khác, tạo ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh
giao lưu kinh tế giữa các nước, tạo thuận lợi cho sự phát triển của đất nước như tạo điều
kiện kết hợp tốt nhất nguồn lao động trong nước và quốc tế, mở rộng không gian để chiếm
lĩnh vị trí phù hợp, góp phần khai thác tối đa lợi thế của các nước tham gia.
Bên cạnh đó, tại thời điểm này một cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra, nó
được xem như một bước tiến mới mà nhân loại đang hướng đến – CMCN 4.0. Cuộc CMCN
4.0 được đánh giá mang lại những lợi ích to lớn cho nhân loại trong việc sử dụng tối đa
công nghệ giúp các tổ chức dễ dàng kiểm soát hoạt động, khắc phục được nhiều rủi ro,
giảm sức lao động và tăng năng suất,…Và cuộc CMCN 4.0 cũng tạo ra những đổi mới về
xu thế việc làm, tuyển dụng như: chú trọng phát triển lao động ứng dụng tri thức; lấy tri
thức làm trọng; lấy tri thức làm đầu khi khởi nghiệp sáng tạo; phát triển KN tư duy; khuyến
khích người lao động tự tạo việc làm và khởi nghiệp sáng tạo; Từ tuyển dụng đã qua đào
tạo sang tuyển dụng có thể đào tạo được; Từ đào tạo dựa vào nội dung sang học để học
tiếp; Chú trọng đào tạo công dân toàn cầu và tạo cơ hội việc làm. (Nguyễn Chí Trường.
2018).
Với đặc thù của khối ngành KHXHNV chủ yếu là các ngành học lấy con người làm
đối tượng nghiên cứu trên mọi mặt về văn hóa, xã hội, lịch sử,… sẽ giúp cho người học có

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
152
một cái nhìn thấu đáo và toàn diện về con người trong từng giai đoạn lịch sử thời đại. Nhờ
đó, người học có sự hiểu biết về sự hình thành, tiến trình phát triển của con người; nắm
được kiến thức về lịch sử nhân loại qua từng thời kì; nắm được bản chất, tâm lý, nhu cầu
của con người ở mỗi trường hợp khác nhau, nắm vững khung pháp lí luật pháp, đường lối
chính trị; kiến thức về văn học, văn hóa, chữ viết, kiến thức về truyền thông, du lịch,…Với
hệ thống các kiến thức đã tiếp thu được, SVTN khối ngành KHXHNV có thể đảm nhận
được đa dạng các loại hình công việc, tại các ban ngành chuyên trách như: cơ quan nghiên
cứu ngôn ngữ; dịch thuật tiếng; biên tập, phóng viên, bình luận viên báo đài; làm việc ở
các cơ quan bảo tồn, bảo tàng, cơ quan văn hóa; đi giảng dạy; làm công việc văn phòng ở
các cơ quan văn hóa và kinh tế, làm việc ở các cơ quan nhà nước, các cơ quan quốc tế,…
(dt.hcmussh.edu.vn. Chuẩn đầu ra trình độ đại học, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-
HCM. 2015).
Qua những xu hướng phát triển của thế giới và trong nước, chúng ta có thể thấy được
bối cảnh hiện nay ưu tiên vào việc phát triển tri thức, KN tư duy, KN thích ứng thể hiện
qua sự chủ động linh hoạt của người lao động trong việc tự học tập, làm việc. Nhóm tác
giả nhận thấy những chuyển biến trong xu hướng phát triển đã tác động đến sự thay đổi về
yêu cầu của thị trường lao động đối với nguồn nhân lực, trong đó yêu cầu về KN ngày càng
được đề cao. Cụ thể, trong thời kỳ hiện nay các NTD ưu tiên tuyển chọn các ứng viên có
những KN về: KN chuyên môn; KNM (giao tiếp ứng xử, KN làm việc nhóm, KN thích
nghi, KN tư duy); và hai KN không thể thiếu trong thời kỳ hội nhập cùng với sự phát triển
mạnh của công nghệ thông tin hiện nay là KN ngoại ngữ và KN tin học. Với những yêu
cầu của thị trường hiện nay thì các SVTN các ngành KHXHNV có lợi thế lớn vì hiện nay
ngay cả các ngành kỹ thuật công nghệ cũng đòi hỏi các KN thuộc về khoa học xã hội, mà
kiến thức đó thì các SVTN khối ngành KHXHNV được đào tạo. Như theo bảng mô tả
khung trình độ quốc gia Việt Nam (Kèm theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg) ở mục văn
bằng đại học quy định chung về chuẩn đầu ra cho người tốt nghiệp khóa đào tạo phải có
KN: KN cần thiết để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp; kỹ năng dẫn dắt khởi nghiệp,
tạo việc làm cho mình và cho người khác; kỹ năng phản biện phê phán; kỹ năng đánh giá
chất lượng công việc; kỹ năng truyền đạt và có năng lực ngoại ngữ bậc 3/6 theo khung
năng lực ngoại ngữ của Việt Nam.
4. THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ KỸ NĂNG CỦA SINH VIÊN SAU KHI
RA TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG ĐH KHXH&NV, ĐHQG-TPHCM
Trường ĐH KXH&NV, ĐHQG-TPHCM là một trong những trường đào tạo về khối
ngành KHXHNV với định hướng phát triển nghiên cứu. Để SV ra trường có thể bắt nhịp
và đón đầu trước những sự thay đổi thì Nhà trường hàng năm thực hiện khảo sát NTD về
chất lượng SVTN, qua kết quả phản hồi của NTD nhà trường sẽ thực hiện những điều
chỉnh, cải tiến trong CTĐT. Cứ định kỳ hai năm một lần Ban chỉ đạo lấy ý kiến phản hồi
của các bên liên quan của Nhà trường phối hợp với Phòng Khảo Thí và Đảm bảo Chất

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
153
lượng và cán bộ phụ trách liên lạc với NTD của các khoa/bộ môn, tổ chức khảo sát lấy ý
kiến phản hồi của NTD về sản phẩm đào tạo của trường. Nhà trường thực hiện kế hoạch
khảo sát NTD về chất lượng SVTN thông qua các hình thức lấy phiếu khảo sát như: Trực
tiếp gửi Phiếu khảo sát cho NTD tham gia hội nghị NTD; Gửi thư qua email đến những
NTD không tham gia hội nghị NTD và những NTD nơi có SVTN của trường hiện đang
làm việc; Qua đường bưu điện, phiếu phản hồi của NTD được gửi về địa chỉ văn phòng
của khoa/bộ môn; Trao đổi trực tiếp với NTD qua điện thoại và điền đầy đủ thông tin vào
phiếu; Online thông qua hỗ trợ của phần mềm google docs.
Bảng 1: Tình hình việc làm và mức độ phù hợp với chuyên ngành được đào tạo
Tiêu chí thống kê
2016
2015
2014
2013
2012
Tình hình việc làm SVTN sau 12 tháng
Có việc làm
96.39%
95.30%
96.96%
96.69%
97.33%
Chưa có việc làm
3.61%
4.70%
3.04%
3.31%
2.67%
Mức độ phù hợp với chuyên ngành được đào tạo
Đúng và gần ngành
đào tạo
79.72%
89.31%
88.19%
86.80%
84.04%
Trái chuyên ngành
đào tạo
20.28%
10.69%
11.81%
13.20%
15.96%
Qua số liệu thống kê ở bảng 1 trên chúng ta có thể thấy tỷ lệ SVTN ở trường ĐH
KHXH&NV, ĐHQG-TPHCM hàng năm chưa tìm được việc làm sau 1 năm tốt nghiệp
chiếm 1 tỉ lệ thấp. SVTN làm việc ở những vị trí công việc trái ngành chiếm tỉ lệ từ 10%
trở lên qua mỗi năm.
Nội dung thường xuyên được Nhà trường lấy ý kiến từ các NTD là:
- Đánh giá chung về chất lượng của SVTN: Những điểm mạnh và hạn chế mà
người lao động, thông tin về SVTN đang làm việc tại cơ quan; Yêu cầu của NTD
đối với công việc mà SVTN đang đảm nhận và mức độ đáp ứng yêu cầu công
việc của SVTN đối với các nội dung:
+ Về kiến thức của sinh viên tốt nghiệp,
+ Về kỹ năng/khả năng của sinh viên tốt nghiệp.
+ Về phẩm chất/tố chất của sinh viên tốt nghiệp.
Trong giới hạn bài viết nhóm tác giả chỉ đề cập đến phản hồi của NTD về KN của
SVTN ở 2 nhóm ý kiến: Yêu cầu của NTD và mức độ đáp ứng yêu cầu của SVTN trong
hai năm, năm 2015 và 2017 nhằm so sánh về mức độ yêu cầu và mức độ đáp ứng có sự
thay đổi hay tương đồng như thế nào qua các năm. Kết quả khảo sát được thống kê theo
bảng sau:

