
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
111
TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC TUYỂN DỤNG
SINH VIÊN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG*
Nguyễn Phương Liên
Nguyễn Thị Phương Nhung
Trần Nguyễn Hải Ngân
Nguyễn Trần Hải Linh
Khoa Kinh tế và quản trị - Trường Đại học Hoa Sen
TÓM TẮT
Sinh viên ra trường có thể được tuyển dụng ngay, luôn là mối quan tâm hàng đầu của
các trường đại học, cao đẳng không chỉ tại Việt Nam mà cả trên thế giới. Chính vì vậy, mà
bài báo này tập trung vào việc tóm tắt tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài “Các
yếu tố ảnh hưởng đến việc tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng” để tìm ra
thực trạng thế giới đang quan tâm đến lĩnh vực này như thế nào và thấy rõ xu hướng nhà
tuyển dụng đánh giá cao những phẩm chất nào của sinh viên vừa mới tốt nghiệp.
Bằng việc đọc và khái quát tóm tắt các bài báo trong vòng 2 thập niên vừa qua, nhóm
chúng tôi đã phát hiện hầu hết các nhà tuyển dụng kể cả châu Âu hay châu Á đều cho rằng
thuộc tính cá nhân là quan trọng nhất với tất cả các ngành. Ví dụ như sinh viên có nhiệt
huyết, đam mê, sự sẵn sàng học hỏi, khả năng sử dụng tiếng Anh hay tinh thần làm việc
đội nhóm và tính kỷ luật cao. Ngoài ra, các yếu tố quyết định chất lượng sinh viên để tỷ lệ
sinh viên được tuyển dụng cao được chia thành 3 nhóm: Các yếu tố về phía nhà trường như
chương trình đào tạo, vai trò người Thầy và vai trò người học. Các yếu tố về phía nhà tuyển
dụng như việc hợp tác với các trường, việc đặt ra yêu cầu hay kỳ vọng cao quá. Yếu tố cuối
cùng là vai trò quản lý nhà nước ví dụ như khi nhà nước chi ngân sách cho giáo dục nhiều
hơn hay quy định gia tăng tỷ lệ giảng viên trên sinh viên nhiều hơn cũng làm gia tăng chất
lượng dạy học, do đó tăng tỷ lệ sinh viên được tuyển dụng nhiều hơn.
Hy vọng với những phát hiện này có thể phần nào giúp cho các nhà hoạch định chính
sách giáo dục cũng như các nhà làm công tác quản lý giáo dục và các nhà tuyển dụng cùng
phối hợp giúp gia tăng chất lượng sinh viên tốt nghiệp và tỷ lệ sinh viên được tuyển tại
Việt Nam cao hơn.
Từ khoá (Keywords): các yếu tố, tuyển dụng sinh viên, tổng quan lý thuyết.
1. GIỚI THIỆU
Tỷ lệ thành công trong việc tuyển dụng sinh viên các trường đại học – cao đẳng luôn
là mối quan tâm hàng đầu của bản thân sinh viên, gia đình sinh viên, các cơ sở giáo dục và

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
112
của cả xã hội. Có một việc làm đúng với chuyên ngành đào tạo và đúng mong ước của bản
thân luôn đặt ra sự quan tâm đối với sinh viên và các bên có liên quan. Hiện tại, bức tranh
ngành nghề và nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học – cao đẳng
hiện nay đã có nhiều thay đổi, trong đó nhu cầu các doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi cao
hơn về chất lượng đối với sinh viên ra trường không chỉ thành thạo kiến thức chuyên môn,
mà còn giỏi các nhóm kỹ năng mềm, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu công nghệ thông tin
và có một thái độ làm việc nghiêm túc. Vì vậy, không phải tất cả các sinh viên tốt nghiệp
ra trường đều có việc làm ngay, số lượng sinh viên ra trường ngày càng tăng nhưng số sinh
viên đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các công ty tổ chức còn hạn chế. Bản thân các
tổ chức sau khi tuyển dụng xong lại phải tốn chi phí đào tạo lại cho sinh viên khi họ chuẩn
bị bắt đầu công việc vì họ cho rằng kỹ năng thực hành công việc và kiến thức đào tạo tại
các trường đại học – cao đẳng còn nhiều khoảng cách.
Ngoài ra, cơ cấu ngành nghề thay đổi theo sự phát triển kinh tế nói chung đặc biệt bị
ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi sự đổi mới liên tục của các bên có
liên quan như người dạy (thầy/cô đứng lớp) đưa ra các phương pháp mới, cập nhật kiến
thức liên tục; người học (bản thân sinh viên) tăng cường rèn luyện các kỹ năng, kiến thức
chuyên môn nghiệp vụ; nhà trường thay đổi chương trình đào tạo, kết hợp học phải luôn đi
đôi với hành; Nhà nước cần đưa ra các chiến lược, chính sách và định hướng có liên quan
đến các sinh viên tại các trường đại học – cao đẳng trong cả nước. Thông qua nhận thức
sâu sắc về vấn đề tuyển dụng này, các cơ sở đào tạo có thể tìm nhiều giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo. Bản thân người học cũng sẽ năng động hạn chế khuyết điểm bản
thân, rèn luyện kỹ năng xin việc làm. Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến việc tuyển dụng
sinh viên đại học – cao đẳng từ lâu luôn được quan tâm bởi người dạy, người học và xã
hội. Để thu hút và giữ chân sinh viên, trường đại học – cao đẳng phải xác định và đáp án
mong đợi của sinh viên. Các nhân tố lấy sinh viên làm trung tâm, môi trường đào tạo và
hiệu quả dạy học tác động tích cực đến cách sinh viên thoả mãn đến quá trình giáo dục của
họ. Chiến lược tuyển dụng nhấn mạnh đến khía cạnh khác nhau của kinh nghiệm đào tạo
sinh viên hơn là chiến lược giữ chân sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất
lượng cao trong bối cảnh mới.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tổng hợp các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến
việc tuyển dụng sinh viên đại học – cao đẳng thông qua việc tổng quan các nghiên cứu
trước đây đã nghiên cứu về vấn đề này. Các nhân tố được đưa ra xem xét bao gồm nhóm
nhân tố thuộc tính cá nhân, nhóm các yếu tố có hiểu biết sâu sắc về kiến thức ngành nghề,
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sinh viên và quyết định tuyển dụng,
Các yếu tố tác động đến sự hợp tác giữa các tổ chức giáo dục và doanh nghiệp và các
yếu tố liên quan đến nhà nước nhằm gia tăng tỷ lệ sinh viên đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
Trước những thách thức và sự thay đổi nhu cầu tuyển dụng trong tình hình mới đòi
hỏi các cơ sở đào tạo và sinh viên, các bộ ban ngành liên quan đến công tác giáo dục cần

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
113
có cách nhìn mới về vấn đề tuyển dụng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên. Bài
nghiên cứu tập trung đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi: (i) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc
tuyển dụng sinh viên các trường đại học - cao đẳng đã được các nghiên cứu chỉ ra là gì?
(ii) Bàn luận các giải pháp nâng cao tỷ lệ tuyển dụng thành công sinh viên xét dưới góc độ
người học (sinh viên), cơ sở đào tạo (nhà trường), và Nhà Nước là gì?
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đây
về vấn đề này để đưa ra đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất cho hướng nghiên cứu
trong tương lai gần, cần ứng dụng mô hình các nhân tố này áp dụng cho một khu vực địa
lý cụ thể hoặc sinh viên tại các trường đại học - cao đẳng cụ thể. Bài nghiên cứu có các
điểm hạn chế chưa tổng quan được nhiều các nghiên cứu trong nước, chưa thực hiện cụ thể
nghiên cứu ứng dụng trên một cơ sở đào tạo cụ thể, đối tượng sinh viên cao đẳng – đại học
hoặc một vùng địa lý cụ thể. Nhóm tác giả hi vọng trong tương lai sẽ dần thực hiện các
mục tiêu trên.
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Hai thập niên gần đây đã có khá nhiều các nghiên cứu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi
các nhà tuyển dụng mong muốn gì ở sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học?
Hầu hết các học giả đều sử dụng kỹ thuật khảo sát trực tiếp từ nhà tuyển dụng với
bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên các tiêu chí đã được Jackson (2010) tổng hợp. Chỉ
có một nghiên cứu thực hiện phân tích định lượng với bộ số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp
tại Hàn Quốc để chỉ ra vai trò của chi tiêu chính phủ với tỷ lệ tuyển dụng sinh viên khi tốt
nghiệp (Lee, Woo & Chung, 2015).
Thông qua việc tổng quan tài liệu, bài báo này nhận thấy trong các nghiên cứu trước
đây, những suy nghĩ về “có khả năng nhận được việc” (employability) thường xuyên bị
nhầm lẫn với “thành công trong tìm việc” (employment outcome). “Thành công trong tìm
việc” có nghĩa là sinh viên tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc tìm kiếm được công
việc với một mức lương cao (Burke và cộng sự, 2016; Zegwaard và McCurdy, 2014). Ở
Úc, Vương quốc Anh và New Zealand, việc ghi nhận tình trạng tìm được việc làm của sinh
viên sau khi tốt nghiệp một vài tháng dần được sử dụng như là một công cụ ghi nhận thành
công trong tìm việc của sinh viên sau tốt nghiệp (Rowe và Zegwaard, 2017). Ngược lại,
“có khả năng nhận được việc” (employability) chủ yếu là khái niệm về các kỹ năng và các
thuộc tính cá nhân được coi là quan trọng bởi ngành nghề và cần thiết cho sinh viên tốt
nghiệp để đảm bảo tìm được việc làm (Bridgstock, 2009; Holmes, 2013; Jackson, 2016).
Cả hai thuật ngữ này cũng luôn được tranh luận. Cho dù bất kỳ thuật ngữ nào được sử
dụng, việc nên xem xét một cách tổng thể sinh viên tốt nghiệp cần được cả hai là “có khả
năng nhận được việc” và “sẵn sàng làm việc” để tăng cơ hội việc làm là điều cần xem xét
nhất (Sachs, Rowe, & Wilson, 2017). Các khái niệm về việc làm đã mở rộng trong những
năm gần đây, từ tập trung vào hầu hết các kỹ năng kỹ thuật và các thuộc tính được cho là
bắt buộc bởi sinh viên tốt nghiệp để họ được coi là “sẵn sàng làm việc”, với khái niệm rộng

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
114
hơn bao gồm “mở rộng quan hệ” (Bridgstock, 2017) và “cá tính của bản thân” (Zegwaard,
Campbell, & Pretti, 2017). Ngoài ra, các nghiên cứu cho thấy kết quả việc làm bị ảnh
hưởng đáng kể bởi các yếu tố khác như tầng lớp xã hội, giới tính và dân tộc (Rowe
Zegwaard, 2017), loại hình tổ chức giáo dục đã học và các khóa học đã hoàn thành, nguồn
gốc gia đình và lối sống (Hakim, 2002), và các giá trị cá nhân (Brown & Crace, 1999)."
Thông qua việc tổng quan tài liệu, có thể thấy xu hướng các nhà tuyển dụng đánh giá
cao và yêu cầu nhiều nhất chính là nhóm các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân của sinh
viên cụ thể như bên dưới.
2.1 Nhóm các thuộc tính cá nhân
Nhóm các thuộc tính cá nhân ảnh hưởng đến tuyển dụng sinh viên mà nhóm rút ra
được bao gồm các thuộc tính đến từ bên trong người học (sinh viên) bao gồm các yếu tố
đa dạng về nhiệt huyết và đam mê, mức sẵn sàng học hỏi, khả năng sử dụng ngoại ngữ,
tinh thần đồng đội, tính kỷ luật, định hướng phục vụ khách hàng, khả năng quản lý tư duy
phản biện, giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng với công việc, nhận thức về văn hoá, điểm
học tập của sinh viên gồm điểm đầu vào, điểm tốt nghiệp, điểm tiếng anh, xếp loại bằng
tốt nghiệp, mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa, tham gia các khóa học kỹ năng mềm
và đi làm thêm đều tác động đến tỷ lệ thành công trong tuyển dụng việc làm. Đây là nhóm
yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tuyển dụng sinh viên ra trường. Cụ thể như sau:
Jackson & Chapman (2012) thực hiện khảo sát 211 các nhà tuyển dụng và 156 người
làm giáo dục tại các trường kinh doanh đã nhận thấy doanh nghiệp và các trường kinh
doanh đều cho rằng sinh viên tốt nghiệp các trường kinh doanh tại Úc còn thiếu các kỹ
năng quản lý như tư duy phản biện, giải quyết vấn đề.
Holtkamp, Jokinen, & Pawlowski (2015) sử dụng kỹ thuật nghiên cứu Delphi phỏng
vấn những chuyên gia từ Phần Lan, Canada, và Đức với trình độ từ tốt nghiệp trung học
phổ thông cho đến tiến sĩ và đảm nhận các vị trí cấp cao cho đến vị trí nhân viên hỗ trợ đã
phát hiện rằng những công việc đòi hỏi tính sáng tạo cao yêu cầu kỹ năng mềm cao, còn
công việc mang tính chất kỹ thuật thì không yêu cầu kỹ năng mềm cao. Nhóm tác giả cho
thấy với công việc thiết kế phần mềm, kiểm tra phần mềm thì khả năng thích ứng, cũng
như nhận thức về sự khác biệt văn hóa giúp cho sinh viên thành công hơn trong công việc.

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
115
Hình 1. Nhóm các thuộc tính cá nhân mà doanh nghiệp cho là quan trọng nhất
Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu đi trước.
Hình 1. cho thấy hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra việc nhà tuyển dụng luôn đòi hỏi
sinh viên phải có nhiệt huyết, đam mê công việc nhiều nhất, kế đến là khả năng phối hợp
và làm việc với các đồng nghiệp trong tinh thần đội nhóm phải cao, tiếp theo là sự sẵn lòng
học hỏi, năng lực giải quyết vấn đề cũng như khả năng thích ứng với yêu cầu công việc
(Hodges & Burchell, 2003; Jameson và cộng sự, 2016; Le, McDonald & Klieve, 2018;
Fletcher & Harrington, 2018).
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu khác của Lê Phương Lan và cộng sự (2015) đã nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của sinh viên Đại học Ngoại thương
sau khi tốt nghiệp đã có kết luận về số điểm đầu vào, điểm tốt nghiệp, điểm tiếng anh, xếp
loại bằng tốt nghiệp đều có tác động cùng chiều tới xác suất có việc làm của sinh viên sau
khi tốt nghiệp. Bên cạnh đó, những sinh viên trong quá trình đi học có tham gia hoạt động
ngoại khóa, tham gia các khóa học kỹ năng mềm và đi làm thêm trước khi tốt nghiệp, thì
xác suất mà sinh viên đó có việc làm sẽ cao hơn sinh viên không tham gia hoạt động trên.
2.2 Nhóm các yếu tố về hiểu biết kiến thức về đặc thù ngành nghề
Các nghiên cứu tập trung vào khảo sát yêu cầu cho các nhóm ngành nghề như dưới
đây và tất cả các tác giả đều khẳng định rằng nhà tuyển dụng có yêu cầu sinh viên tốt
nghiệp có kiến thức hiểu biết sâu sắc về đặc thù ngành nghề nhưng không phải là quan
trọng nhất (Hodges & Burchell, 2003; Jackson, 2010; Holtkamp, Jokinen & Pawlowski,
2015; Paisey & Paisey; 2010 và Spanjaard, Hall & Stegemann, 2018).
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%
25.00%
Nhiệt
huyết và
đam mê
Sẵn sàng
học hỏi
Khả năng
sử dụng
tiếng Anh
/ ngoại
ngữ
Tinh thần
đội nhóm
Tính kỷ
luật
Định
hướng
phục vụ
khách
hàng
Giải quyết
vấn đề,
quản lý
Khả năng
thích ứng
với công
việc
Nhận
thức về
văn hóa
Tỷ lệ các nghiên cứu xác nhận yêu cầu kỹ
năng với sinh viên tốt nghiệp của các nhà
tuyển dụng

