
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
287
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO
“NHÀ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP” CHO CHUYÊN NGÀNH
NHÀ HÀNG - KHÁCH SẠN TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
ThS. Phan Thị Thanh Hằng
ThS. Nguyễn Tấn Danh
Khoa QTKD – Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại
TÓM TẮT
Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước, yếu tố cốt lõi của việc đào tạo nhân lực du lịch, trong đó có nhân lực Nhà hàng –
Khách sạn (NH-KS) là đào tạo gắn liền với yêu cầu thực tiễn, đào tạo đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của xã hội. Việc áp dụng mô hình liên kết đào tạo “Nhà trường – Doanh nghiệp” dựa
trên việc thiết lập mối quan hệ giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp
kinh doanh trong lĩnh vực NH-KS được xem là yêu cầu quan trọng được đặt ra hiện nay.
Lực lượng lao động trình độ trung cấp, cao đẳng được đào tạo các kiến thức, kỹ năng cơ
bản, ý thức đạo đức tại nhà trường và được tham gia các lớp học thực hành trực tiếp tại các
doanh nghiệp, từ đó góp phần phát triển và rèn luyện các kỹ năng nghề nâng cao, tác phong
làm việc trong suốt thời gian đào tạo của chương trình. Bài viết tập trung nghiên cứu việc
áp dụng mô hình liên kết đào tạo “Nhà trường – Doanh nghiệp” tại các cơ sở đào tạo và đề
xuất một số giải pháp nhằm áp dụng mô hình này trong đào tạo nhân lực NH-KS tại các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp đạt hiệu quả cao.
Từ khóa: nhà trường - doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhà hàng - khách sạn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của du lịch Việt Nam thời gian gần đây kéo theo nhu cầu về nhân lực
phục vụ ngành ngày càng gia tăng. Theo thống kê từ Tổng cục Du lịch, mỗi năm ngành du
lịch và NH-KS cần 40.000 lao động nhưng chỉ có khoảng 20.000 lao động tốt nghiệp từ
các cơ sở đào tạo trên cả nước. Trong số này nhân sự được đào tạo chính quy và sử dụng
được trong ngành cũng rất ít khi chỉ có khoảng 4.000 người. Trong khi đó, thống kê của
Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam cho thấy, nhu cầu lao động đến năm 2022
của ngành du lịch với hơn 4 triệu lao động và hơn 1,6 triệu việc làm trực tiếp. Điều này
cho thấy nhu cầu nguồn nhân lực trong du lịch Việt Nam cả hiện tại và trong tương lai rất
lớn. Tuy nhiên, tình trạng phổ biến hiện nay là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
NH-KS còn thiếu lao động lành nghề. Sau khi tuyển dụng lao động vừa tốt nghiệp ở các
cơ sở đào tạo, nhiều doanh nghiệp phải tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một trong số đó chính là công tác đào

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
288
tạo chưa có sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, chương trình học vẫn nặng lý thuyết,
chưa phù hợp với sự phát triển đa dạng với thực tế sản xuất của doanh nghiệp. Theo kết
quả khảo sát của mạng tuyển dụng trực tuyến JobStreet.com (11/2016), chỉ có 22% người
lao động chuyên ngành nhà hàng – khách sạn cho rằng kiến thức học được ở trường hỗ trợ
họ rất nhiều khi đi làm, số còn lại đều cảm thấy không đủ cho công việc và cần đào tạo
thêm. Vì vậy, công tác đào tạo của nhà trường đòi hỏi phải có sự gắn kết giữa lý thuyết và
thực tiễn để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Việc đào tạo kết hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp đã được nhiều nước trên thế
giới áp dụng thành công như Mô hình kép của Đức, Áo và Thụy Sỹ; Mô hình đào tạo linh
hoạt của Na Uy; Mô hình đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp địa phương của Nhật
Bản. Ở nước ta, một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tầm quan trọng của hoạt động
đào tạo kết hợp với doanh nghiệp. Tuy đây vẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ nhưng hết
sức cần thiết ở Việt Nam, đặc biệt là ngành NH-KS. Do vậy, một nghiên cứu về mô hình
đào tạo theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực NH-
KS là cần thiết. Thêm vào đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Giới thiệu tổng quan về giáo dục nghề nghiệp
Thuật ngữ giáo dục nghề nghiệp chính thức được sử dụng khi Luật Giáo dục nghề
nghiệp được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày
1/7/2015. Luật mới ra đời thay thế cho Luật Dạy nghề trước đây đã hình thành được hệ
thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp,
trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho
người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản
xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo
đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường
làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao
động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau:
- Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn
giản của một nghề;
- Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc
của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành
hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm
việc theo nhóm;

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
289
- Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc
của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành
hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc,
hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.
2.2. Khái quát về đào tạo chuyên ngành NH-KS trình độ trung cấp, cao đẳng
a) Đào tạo chuyên ngành NH-KS trình độ trung cấp
Chương trình đào tạo chuyên ngành NH-KS trình độ trung cấp với thời gian đào tạo
từ 1,5 đến 2 năm nhằm trang bị cho người học có kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực
hành về các nghiệp vụ cơ bản của khách sạn như: lễ tân, buồng, ăn uống và kiến thức, kỹ
năng về giám sát.
Bên cạnh kiến thức, kỹ năng chung và chuyên sâu, chương trình đào tạo còn trang bị
cho người học đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, phong cách chuyên nghiệp
và sức khỏe tốt để có khả năng độc lập hoặc làm việc theo nhóm tại bộ phận lễ tân, buồng
hoặc nhà hàng. Khi có cơ hội thăng tiến người lao động có thể đảm nhận các vị trí giám sát
tại bộ phận lễ tân, buồng, nhà hàng tại các nhà hàng và khách sạn có quy mô vừa và nhỏ.
b) Đào tạo chuyên ngành NH-KS trình độ cao đẳng
Chương trình đào tạo chuyên ngành NH-KS trình độ cao đẳng với thời gian đào tạo
từ 2,5 đến 3 năm nhằm trang bị cho người học có kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực
hành về các nghiệp vụ cơ bản của nhà hàng - khách sạn như: lễ tân, nhà hàng, buồng, ăn
uống, phục vụ tiệc, hội nghị hội thảo. Bên cạnh kiến thức, kỹ năng chung và chuyên sâu,
chương trình đào tạo còn trang bị cho người học đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức
kỷ luật, phong cách chuyên nghiệp và sức khỏe tốt;
Hoàn thành chương trình đào tạo, người học có khả năng làm việc độc lập và làm
việc theo nhóm tại bộ phận lưu trú, ăn uống hoặc hội nghị hội thảo; có thể đảm nhận các
vị trí giám sát, quản lý tại các nhà hàng, khách sạn vừa và lớn khi có cơ hội thăng tiến.
Trong phạm vi bài viết này, đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành NH-KS trình độ
trung cấp, cao đẳng có thể được hiểu “là đào tạo người lao động cho lĩnh vực NH-KS có
sức khỏe, đạo đức nghề nghiệp và tôn trọng luật pháp; có kỷ luật lao động và tác phong
công nghiệp; có kiến thức chuyên môn cơ bản và kỹ năng thực hành nghề thành thạo; có ý
thức phục vụ cộng đồng và phát triển bản thân”.
2.3. Khái niệm về mô hình Nhà trường – Doanh nghiệp
Mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp được hiểu như là những giao
dịch giữa các trường học và các tổ chức sản xuất kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên. Đẩy
mạnh việc hợp tác này và khai thác giá trị của nó có thể giúp nhà trường tháo gỡ những khó
khăn về tài chính và giúp các doanh nghiệp đạt được hoặc duy trì ưu thế cạnh tranh trong
thị trường năng động ngày nay, đồng thời đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia
và đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động (Carayon, 2003; Gibb & Hannon, 2006).

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
290
Có thể định nghĩa trực tiếp hay gián tiếp, có tính chất cá nhân hay tổ chức giữa Nhà
trường và các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai: hợp tác trong nghiên
cứu và phát triển, kích thích sự vận động năng động qua lại của giảng viên, sinh viên và
các nhà chuyên môn đang làm việc tại các doanh nghiệp; thương mại hóa các kết quả
nghiên cứu; xây dựng chương trình đào tạo; tổ chức học tập suốt đời; hỗ trợ các nỗ lực
sáng nghiệp và quản trị tổ chức.
Như vậy, mô hình Nhà trường – Doanh nghiệp là sự liên kết giữa các trường với các
doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề mà các Trường đào tạo. Mô hình
liên kết đào tạo giữa Nhà trường và Doanh nghiệp là hết sức cần thiết đối với các trường
Đại học – Cao đẳng vì khi gắn kết với doanh nghiệp, không chỉ dừng lại ở vấn đề tìm chỗ
thực hành, thực tập cho sinh viên hay xin học bổng, mà còn giúp việc đào tạo của trường
gắn liền với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, tăng cơ hội việc làm cho sinh viên sau
khi tốt nghiệp.
Mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là điều có ý nghĩa rất quan trọng.
Sự hiệp lực giữa Nhà trường với các doanh nghiệp được coi là động lực cốt yếu của những
xã hội và những nền kinh tế dựa trên tri thức. Thành công của mối quan hệ hợp tác này có
thể là kết quả nâng cao chất lượng đào tạo và triển vọng việc làm tương lai cho HSSV.
2.4. Mô hình đào tạo gắn nhà trường với doanh nghiệp của một số nước trên thế giới
a) Mô hình đào tạo kép của CHLB Đức
Mô hình đào tạo kép đã được áp dụng tại các Đức, Áo, Thụy Sỹ và đem lại những
thành công nhất định. Đây là mô hình đào tạo gắn nhà trường với doanh nghiệp đem lại
hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Mô hình đào tạo sẽ áp dụng theo
phương thức kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Doanh nghiệp được phép tham gia vào
hoạt động đào tạo nghề thông qua các quy định của nhà nước được thể hiện cụ thể trong
luật dạy nghề. Theo đó, học sinh - sinh viên (HSSV) sẽ được trang bị các kiến thức và kĩ
năng cơ bản tại các trường nghề, sau đó họ được rèn luyện và phát triển kĩ năng nghề
nghiệp tại các cơ sở sản xuất. Mô hình đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để đào
tạo nghề, như: Phần Lan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ.
b) Mô hình đào tạo linh hoạt của Na Uy
Với mô hình đào tạo linh hoạt 2+2 gắn nhà trường với doanh nghiệp, Na Uy đã áp
dụng rất thành công trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề dành cho học sinh, sinh
viên. Theo đó, người học sẽ có thời gian là 2 năm để trang bị các kiến thức lý thuyết nền
tảng. Trong khoảng thời gian này, người học có 50% thời gian học ở trường và 50% thời
gian học ở doanh nghiệp.
Sau khi tốt nghiệp tại các trường, học sinh, sinh viên phải trải qua 2 năm học việc tại
doanh nghiệp trước khi chính thức tham gia vào thị trường lao động. Mô hình đào tạo nghề
của Na Uy được dựa trên mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục
(Bộ Giáo dục, Viện Giáo dục) với Liên đoàn lao động (LO) và Liên đoàn giới chủ Na Uy

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
291
(NHO). Xuất phát điểm từ lý do các xí nghiệp sản xuất rất quan tâm và ủng hộ người học
đến thực tập tại nhà máy. Do đó, doanh nghiệp và thị trường lao động rất tin tưởng vào
chất lượng đào tạo của các trường khi áp dụng theo mô hình này.
c) Mô hình đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương của Nhật Bản
Với mô hình của người Nhật, người học sẽ được trang bị kiến thức về đạo đức, kỉ
luật, tác phong công nghiệp, và đào tạo năng lực nghề nghiệp ở mức độ cơ bản. Sau đó,
doanh nghiệp có trách nhiệm đào tạo bổ sung cho người học về năng lực làm việc chuyên
sâu, phù hợp với nhu cầu đặc điểm sản xuất của chính doanh nghiệp đó. Mô hình cho thấy,
việc đào tạo nguồn nhân lực có sự tham gia của ba bên, bao gồm: nhà trường, doanh nghiệp,
cơ quan chức năng làm cầu nối. Do vậy, công tác đào tạo của nhà trường luôn đáp ứng
được nhu cầu của doanh nghiệp bởi sự phù hợp với nhu cầu và đặc điểm sản xuất. Tuy
nhiên, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả phí cho cơ quan chức năng cầu nối để lưu trữ
thông tin về nhu cầu nhân lực và công tác đào tạo bổ sung.
Hình 1. Mô hình đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp địa phương của Nhật Bản
Từ các mô hình đào tạo của các nước đã áp dụng thành công chỉ rõ việc đào tạo nguồn
nhân lực cho xã hội không phải chỉ là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, mà còn sự giúp
sức của bản thân các doanh nghiệp sử dụng lao động và cơ quan quản lí nhà nước. Vì vậy,
nhà trường và doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực dựa trên
sự hỗ trợ của cơ quan quản lí nhà nước sẽ tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực trình độ nghề ở bậc trung cấp, cao đẳng.
3. QUY TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH NH-KS THEO MÔ HÌNH NHÀ TRƯỜNG –
DOANH NGHIỆP
Từ những mô hình trên, nghiên cứu này đề xuất quy trình đào tạo cho chuyên ngành
NH-KS được xây dựng theo mô hình kết hợp giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và cơ
quan quản lý như sau:
- Năm học thứ nhất, học sinh sinh viên (HSSV) được học tại các trường, các cơ sở

