K YU HI THO KHOA HC
335
MT S VN Đ LÝ LUN VÀ THC TIN CA VIC
LIÊN KT GIA CƠ S ĐÀO TO DOANH NGHIP
TRONG GIAI ĐON HIN NAY
PGS. TS. Trần Mai Ước
Chánh Văn phòng, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
TÓM TẮT
Nhìn từ góc đtổng ththì mối quan hệ giữa sở đào tạo và doanh nghiệp một
loại quan hệ hỗ tương, cộng sinh. Tuy nhiên, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là hai thể chế
khác biệt, những mục tiêu khác nhau, cho nên không thể nào có sự hài lòng đạt được
một cách dễ dàng và đơn giản. Bài viết đi vào phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản
liên quan đến góc độ luận thực tiễn của việc liên kết giữa sở đào tạo doanh
nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, nhu cầu xã hội, phối hợp, đào tạo.
1. Bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang dần “phẳng” hơn thì nguồn nhân lực
chất lượng cao là yếu tố cực k quan trọng để đạt năng lực cạnh tranh cao đối với các doanh
nghiệp (DN). Có thể nói rằng, nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới
hiệu quả hoạt động sinh sản xuất kinh doanh của DN, chi phối đến “thế “lực” của DN,
một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định chìa khóa thắng lợi trong cạnh tranh kinh
tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậu trong giáo dục - đào tạo mà trực tiếp là đào tạo đại
học đối với phát triển kinh tế nói chung cùng nặng nề. Do vậy, chủ trương liên kết
giữa cơ sở đào tạo với các DN theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu
cầu của DN, đối tượng nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói một cách
nôm na chuyển từ “đào tạo cái mình có” sang “đào tạo cái hội (cụ thể đây
DN) cần” theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế”
33
và việc vận dụng các nguyên tắc của thị trường trong đào tạo và sử dụng là cần thiết.
không những giải quyết nhanh chóng vấn đề nguồn nhân lực có chất lượng cho DN,
mà còn trở thành một động lực to lớn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở
đào tạo, nhấttrong bối cảnh hội nhập toàn cầu trước xu thế của cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 hiện nay.
Vấn đề đào tạo theo nhu cầu hội thực sự trở thành một vấn đề cấp thiết với Việt
Nam không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai. Khái niệm đào tạo theo nhu cầu xã hội
33
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế hội 2011 - 2020, Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, trang 48.
LIÊN KT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIP TRONG VIC GII QUYT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
336
còn nhiều tranh luận và chưa đi đến thống nhất, chúng tôi cho rằng, đào tạo theo nhu cầu
xã hội phương thức đào tạo mà ở đó với ba trục chính cần phải trả lời là:
Đào tạo cái gì
34
;
Đào tạo như thế nào
35
;
Đào tạo bao nhiêu
36
, được định hướng bởi nhu cầu đào tạo xã hội.
Và, để tìm được câu trả lời chuẩn xác những câu hỏi trên phải căn cứ vào nhu cầu xã
hội, hay nói chính xác nhu cầu của hội sẽ là cái mốc để giáo dục - đào tạo dõi theo
điều chỉnh phương thức hoạt động của mình cho phù hợp.
Về cơ bản, hiện nay, trên thị trường, đang tồn tại 2 loại hình đào tạo theo nhu cầu của
xã hội. Một là, đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: tức là căn cứ vào nhu cầu hiện
tại của thị trường đang thiếu lao động trong những ngành nghề gì thì đào tạo những ngành
nghề đó và việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào tạo ngắn hạn. Ưu điểm
của loại hình đạo tạo này là đáp ừng ngay được nhu cầu lao động của thị trường, tuy nhiên
nhược điểm lớn những lao động được đào tạo ra thường tay nghề không cao
nên sau một thời gian làm việc nếu không sự bổ sung kiến thức thì dễ bị đào thải do
không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của công việc. Hai là, đào tạo đáp ứng nhu cầu
tương lai của thị trường: theo hình thức này thì căn cứ vào tình hình phát triển hiện tại của
nền kinh tế trong nước và xu thế phát triển của thế giới để đưa ra những dự đoán về những
ngành nghề sẽ phát triển trong tương lai. Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các
lớp đào tạo dài hạn, những lao động được tạo ra từ đây thường trình độ cao; khả năng
học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ, thích ứng với sự thay đổi
nhanh. Tuy nhiên cũng nhược điểm là do thời gian đào tạodài nên đòi hỏi việc dự
báo phải có tính chính xác cao để tránh sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Cả thực tiễn và lý luận đều chứng minh rằng, đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai
trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Đây không phải một phương
thức đào tạo mới trên thế giới hiện nay, song đối với Việt Nam thì đây còn là một bài toàn
khó cần phải giải quyết kịp thời để nhanh chóng tạo ra nguồn nhân lực tốt đáp ứng nhu cầu
đòi hỏi trước mắt vàu dài của xã hội. Để thể thực hiện tốt công tác đào tạo theo nhu
cầu xã hội, chúng tôi cho rằng, việc phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các
sở đào tạo và các doanh nghiệp một trong những “cú hích”, nhất trong bối cảnh hội
nhập toàn cầu đang là xu thế phổ biến như hiện nay.
2. Xu thế vận động, phát triển của cuộc ch mạng công nghiệp 4.0 đang tất yếu
34
Nhằm xác định cụ thể hội cần những con người trong những lĩnh vực hoạt động gì, trình độ, kỹ năng ra sao.
Để tránh gây lãnh phí thời gian và tiền bạc thì việc điều tra, nghiên cứu, nắm bắt được nhu cầu xã hội trong tương lai
gần và xa
35
Hướng đến tìm ra được để đào tạo có hiệu quả cao t phải có mộtch thức, phương thc đào tạo như thế o cho đúng.
36
Để xác đnh c th s ợng đào tạo trong mi ngành ngh ý nghĩa rt quan trọng, tránh được tình trng tht
nghip do tha nhân lc khu vc này và thiếu nhân lc khu vc khác do không d báo được hết nhu cu xã hi.
K YU HI THO KHOA HC
337
khách quan, trước xu thế cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường và hội nhập, các DN
rất cần đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu, thích
ứng nhanh với yêu cầu sản xuất, kinh doanh, vậy DN thực sự kvọng các sở đào
tạo. Với cách đơn vị cung cấp nguồn nhân lực, sở đào tạo cũng luôn phải cạnh
tranh về chất lượng sản phẩm đào tạo. Sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo với DN bởi vậy là tất
yếu khách quan, diễn ra theo quy luật cung - cầu. Trong thực tế, mối quan hệ hợp tác
này thể diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt, chúng tôi cho rằng, về bản
được thể hiện qua một số nét chính như sau:
Sự hợp tác giữa sở đào tạo với DN trong việc triển khai y dựng mục tiêu
nội dung đào tạo theo quy chế của Bộ GD & ĐT và theo nhu cầu của xã hội. Mặt khác, khi
xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phải xét đến tính đặc thù của DN là nơi sẽ tiếp nhận
sinh viên sau khi tốt nghiệp.
DN đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo như: Kinh phí, tài liệu, máy móc
thiết bị, các chuyên gia, thợ bậc cao, tạo điều kiện cho sinh viên đến thực tập… Bên cạnh
đó, DN cũng hợp tác trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo sử dụng lao động qua việc
hoạch định chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo với DN, để từ đó xác định nhu cầu đào
tạo: số lượng, k năng, thái độ nghề nghiệp, chuyên ngành đào tạo, môn học, hình thức
đào tạo…
Ngoài ra, để mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học với DN được tốt, cần đảm bảo
một số nguyên tắc sau:
Sự hợp tác phải đảm bảo mục tiêu đào tạo đề ra, không m ảnh hưởng đến quy
trình đào tạo của sở đào tạo cũng như tiến độ sản xuất, kinh doanh của DN, mà trái lại
nó góp phần vào sự phát triển của hai đơn vị, có lợi cho cả hai đơn vị;
Sự hợp tác phải đảm bảo tính giáo dục, nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và
năng lực cho người học, không quá thiên về lợi ích kinh tế mà quên đi tính giáo dục.
Sự hợp tác phải đảm bảo yếu tố vừa sức với giảng viên sinh viên trong quá
trình đào tạo
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và hội trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho
rằng, chủ yếu được thể hiện trên bốn nhóm hoạt động chủ yếu sau:
Kết hợp nghiên cứu (Engaged research): tổ chức hợp tác nghiên cứu chuyển
giao công nghệ giữa nhà trường và xã hội
Chia sẻ kiến thức (Knowledge sharing): tổ chức cung cấp, trao đổi thông tin hay
quan điểm giữa nhà trường và xã hội.
Dịch vụ (Service): tổ chức vấn, cung cấp các dịch vụ chuyên môn cho hội;
tạo điều kiện để hội tiếp cận các nguồn tài nguyên của nhà trường (ví dụ thư
viện, bảo tàng, sân bãi phục vụ thể thao,…); tham gia các chương trình, dự án phát
LIÊN KT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIP TRONG VIC GII QUYT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
338
triển cộng đồng, …
Giảng dạy (Teaching): tổ chức giảng dạy, đào tạo theo nhiều hình thức và bậc học
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội về trang bị kiến thức, kỹ năng, nhu cầu
học tập suốt đời.
Hình 1. Mô hình kết hợp sinh viên đồng thời là người lao động
Nguồn: http://tchdkh.org.vn/khcn-trung-uong/4209-cac-phuong-thuc-gan-ket-hoat-dong-dao-tao-
cua-truong-dai-hoc-voi-doanh-nghiep.html
Chúng ta đều biết rằng, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đã đang trở
thành những đòi hỏi cấp bách đối với ngành giáo dục Việt Nam, trong đó có sứ mệnh của
cơ sở đào tạo. Sự gắn kết hoạt động đào tạo của nhà trường và DN, là một quá trình tương
tác không thể tách rời. Điều này tạo ra cơ hội và thách thức mới về đánh giá và hỗ trợ học
tập tại nơi làm việc, về cơ hội tiếp cận và nội dung của chương trình học, vai trò của người
dạy và quan hệ của họ với người lao động và người sử dụng lao động, cũng như về vai trò
của DN trong việc cung cấp các hội hình học tập trong quá trình học tập suốt
đời... Sự hợp tác giữa sở đào tạo DN sẽ mang lại các lợi ích cho tất cả các n
liên quan.
Về phía DN, việc tham gia vào quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư phát triển,
sẽ giúp DN thêm quyền hội lựa chọn các “sản phẩm” lao động chất ợng cao,
đáp ứng được yêu cầu, giảm bớt thời gian và chi phí đào tạo lại. Bên cạnh đó, DN cũng có
thêm cơ hội quảng bá hình ảnh của mình với xã hội...
Về phía cơ sở đào tạo, sự hợp tác sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo “đầu
ra” cho sinh viên và nhất là góp phần phát triển và trọng dụng nhân tài cho đất nước. Điều
này ng sẽ giúp nhà trường tăng tính tự chủ hơn về tài chính sử dụng hiệu quả vốn
đầu tư...
Về phía sinh viên, sự hợp tác sẽ cho phép họ tự “ngộ” ra chính bản thân mình, tự
điều chỉnh nhận thức, nâng cao động lực học tập kiến thức, kỹ năng chuyên môn thực
tiễn cuộc sống, tăng hội tìm việc m. Ngoài ra, hiệu quả đầu xã hội trong giáo dục
nói riêng, trong đầu phát triển nói chung cũng sẽ tăng n, giảm bớt tình trạng thất nghiệp,
K YU HI THO KHOA HC
339
nâng cao sức cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển theo hướng kinh tế tri thức và bền vững.
Hình 2. Mô hình kết hợp giữa giảng viên và người sử dụng lao động
Nguồn: http://tchdkh.org.vn/khcn-trung-uong/4209-cac-phuong-thuc-gan-ket-hoat-dong-dao-tao-
cua-truong-dai-hoc-voi-doanh-nghiep.html
Về phía hội, sự kết hợp y chắc chắn sẽ tránh được tình trạng đào tạo tràn lan
dẫn đến “vênh” nhu cầu của thị trường lao động. Khi sinh viên được thực hành tại DN cũng
đồng nghĩa với việc các em được n luyện và tiếp cận với môi trường sản xuất kinh doanh
thực tiễn, qua đó có thể lựa chọn việc làm phù hợp hơn. Ngoài ra, việc gắn kết DN còn tạo
động lực đcác sđào tạo phải luôn ng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm cạnh tranh
lẫn nhau, từ đó tạo ra sự năng động, linh hoạt cho các sở đào tạo, tăng thu nhập tài chính
cho chính bản thân sở đào tạo. Đối với DN, điều y sẽ đảm bảo nguồn nhân lực phục
vụ cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt khi các đơn hàng gia tăng. DN cũng thể cắt
giảm các chi phí đào tạo lại cho người lao động, từ đó làm tăng lợi ích tài chính.
Trong quá trình đó, những thách thức mà các sở đào tạo gặp phải trong quá trình
gắn kết với DN sẽ là:
Vượt lên cái tôi của mỗi cơ sở đào tạo, nhà trường cần mạnh dạn chỉ ra những yếu
kém trong quá trình đào tạo của mình, với phương châm: không né tránh, hướng đến mục
đích giúp cho sinh viên tốt hơn khi tốt nghiệp ra trường có thể bắt tay vào công việc ngay.
Cần tính đến yếu tố quản trị rủi ro, bởi vì nền kinh tế luôn biến động và DN thể
thay đổi quy sản xuất. Do đó, ràng sở đào tạo luôn phải điểm tựa mới các DN
khác chứ không thể trông chờ vào một DN. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các cơ sở đào tạo
hiện nay cần phải chủ động thay đổi, phải đi m các DN chứ không thể thụ động chờ
DN như trước kia.