
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
23
1. Đặt vấn đề
Quy hoạch điều chỉnh xây dựng vùng Thủ đô
Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,
theo đó đến năm 2050 có khoảng 70% dân số
sống trong các đô thị. Đô thị hóa (ĐTH) là hiện
tượng tất yếu và diễn ra ngày càng nhanh. Trong
giai đoạn 2011-2024, quá trình ĐTH ở Thành phố
Hà Nội diễn ra mạnh, nhanh. Tỷ lệ ĐTH của Hà Nội
năm 2024 trên 46,6%. Quỹ đất nông nghiệp giảm
khoảng 23-24 vạn ha. Nếu tính 1 ha đất nông
nghiệp tạo việc làm cho 4 lao động thì đã có
93-95 vạn lao động mất việc làm. Thu nhập của
người dân nông thôn chỉ bằng khoảng 56% mức
trung bình của cả thành phố. Phát triển ĐTH đi
liền với phải chuyển quỹ đất nông nghiệp sang
cho mục đích phát triển đô thị và phi nông
nghiệp, theo đó rất nhiều người dân sống ở nông
thôn mất tư liệu sản xuất và phải chuyển đổi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác họ phải
tìm sinh kế mới để duy trì, cải thiện cuộc sống của
mình. Nếu không giải quyết vấn đề việc làm và
tăng thu nhập cho người dân nông thôn thì dễ
dẫn tới xuất hiện dòng di chuyển lao động và dân
cư từ khu vực ngoại thành vào khu vực nội thị, gây
bất ổn cho sự phát triển bền vững của thành phố.
Trong bối cảnh này, phát triển sinh kế bền vững là
hướng giải quyết hài hòa những tác động của quá
trình ĐTH nhưng đồng thời cũng đảm bảo đời
sống sinh kế ổn định, bền vững cho người dân
vùng ngoại thành Hà Nội.
2. nội hàm phát triển sinh kế bền vững
Quan điểm về sinh kế bền vững (Sustainable
Livelihood) được bắt nguồn từ phát triển bền
vững được giới thiệu bởi Ủy ban Brundtland về
Môi trường và Phát triển vào năm 1987, coi sinh
kế bền vững như một cách thức để liên kết giữa
yếu tố kinh tế xã hội và sinh thái với các chính
sách và thể chế. Theo Robert Chambers và
PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG VÙNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI:
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Trần Thị KiM Liên*
Ngày nhận: 20/01/2025
Ngày phản biện: 20/02/2025
Ngày duyệt đăng: 24/3/2025
Tóm tắt: Quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hà Nội đã và đang diễn ra mạnh, nhanh trong giai đoạn 2011-2024. Điều này khiến quỹ
đất nông nghiệp ở Hà Nội giảm sút, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh kế của người dân vùng ngoại thành Hà Nội. Trên cơ
sở nghiên cứu thực trạng phát triển sinh kế bền vững vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm
phát triển sinh kế bền vững theo các mô hình sinh kế, nhằm giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn
ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn tới.
Từ khóa: mô hình phát triển; sinh kế bền vững; nông thôn; ngoại thành Hà Nội
SUSTAINABLE LIVELIHOOD DEVELOPMENT IN THE RURAL OUTSKIRTS OF HANOI: ISSUES TO BE ADDRESSED
Abstract: The urbanization process in Hanoi has been taking place rapidly and intensively during the period from 2011 to 2024. This
has led to a decline in agricultural land in Hanoi, significantly affecting the livelihoods of people in the rural outskirts of the city. Based
on a study of the current situation regarding sustainable livelihood development in these rural areas, this article proposes several
solutions to foster sustainable livelihoods through various livelihood models. These solutions aim to address employment issues and
increase income for rural residents in Hanoi's outskirts in the coming period.
Keywords: development model; sustainable livelihood; rural areas; Hanoi outskirts.
* Trường Đại học Công đoàn

Gordon Conway (1992) cho rằng: Một sinh kế
được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và
phục hồi sau những căng thẳng và các cú sốc, duy
trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn vốn của
mình, tạo ra cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ
tiếp theo; đóng góp lợi ích ròng cho sinh kế khác
ở cấp địa phương và toàn cầu và trong ngắn hạn
và dài hạn. Như vậy, quan điểm của các học giả
đều coi sinh kế là bền vững khi nó có thể tồn tại,
phát triển trong tương lai mặc dù chịu tác động
của những biến động lớn, tiếp tục là “sinh kế” cho
thế hệ sau. Từ các quan điểm về sinh kế bền vững,
trong nghiên cứu này cho rằng sinh kế bền vững
là việc sử dụng các nguồn lực cần thiết để thực
hiện các chiến lược sinh kế nhằm đạt được các kết
quả mong muốn và ít tác động đến các yếu tố môi
trường, kinh tế và xã hội.
Thuật ngữ phát triển bền vững xuất hiện lần
đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược
bảo tồn Thế giới (được công bố bởi Hiệp hội Bảo
tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc
tế - IUCN) với nội dung đơn giản: “Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát
triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu
cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi
trường sinh thái học. Như vậy, có thể hiểu phát
triển sinh kế bền vững là phát triển sinh kế có
hiệu quả trong thời gian tương đối dài và có chiều
hướng tiến bộ ổn định. Đồng thời sự phát triển
này phải gắn với tăng trưởng xanh trong từng
lĩnh vực sinh kế. Phát triển sinh kế bền vững được
biểu hiện ở các khía cạnh, như: (i) Sinh kế có hiệu
quả cao, tương đối ổn định trong thời gian dài;
(ii) Ít hoặc không bị ảnh hưởng tiêu cực từ biến
đổi khí hậu và từ thay đổi của thị trường; (iii)
Không gây tác động tiêu cực cho các loại hình kế
mưu sinh khác cũng như không gây ảnh hưởng
tiêu cực cho các loại hình sinh kế khác.
Phát triển sinh kế bền vững được thể hiện rõ
nét qua khung sinh kế của DFID (1998) (hình 1)
Các thành phần của khung sinh kế DFID bao
gồm: (i) Vốn sinh kế; (ii) Cấu trúc và các quy trình
thực hiện; (iii) Chiến lược sinh kế; (iv) Kết quả sinh
kế; (v) Bối cảnh dễ bị tổn thương.
3. Thực trạng phát triển sinh kế bền vững
nông thôn ngoại thành hà nội
Vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội có sẵn
các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát
triển sinh kế bền vững. Trong thời gian qua, Các
cấp ủy Đảng và Chính quyền từ thành phố tới
huyện, xã đã cố gắng đưa ra nhiều chủ trương
mới, nhiều chính sách mới để xây dựng nông thôn
mới gắn với phát triển sinh kế của người dân vùng
ngoại thành Hà Nội (bảng 1).
hình 1: Khung sinh kế bền vững của DFiD Nguồn: Carney (1998)
24
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Phát triển sinh kế bền vững của vùng nông
thôn ngoại thành Hà Nội được triển khai đa dạng
thông qua các mô hình trong các lĩnh vực như
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, du lịch, tiểu thủ
công nghiệp (TTCN).
Đối với lĩnh vực trồng trọt: Các mô hình trồng
trọt được phát triển theo hướng chủ yếu, gồm có:
Hợp tác xã (HTX) sản xuất hữu cơ (lúa gạo, rau củ
quả); Trang trại, hộ gia đình phát triển nông sản
sạch (lúa gạo, rau củ quả); Trang trại, HTX gắn với
doanh nghiệp để phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ nhìn chung chưa được phát triển
mạnh (bảng 2)
Đối với lĩnh vực chăn nuôi: Một số mô hình
sinh kế tiêu biểu được phát triển mạnh mẽ, như:
Trang trại, gia trại gắn với cơ sở chế biến thịt, sữa
và tiêu thụ sản phẩm; Trang trại, gia trại gắn với lò
mổ gia súc và tiêu thụ sản phẩm; Hộ gia đình nuôi
cá gắn với tiêu thụ cá (bảng 3).
Việc chăn nuôi theo các mô hình này bước đầu
đã đạt những thành tựu nhất định bên cạnh một
số khó khăn về chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc
hay sự tham gia của các doanh nghiệp lớn, v.v.
Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn
Hà Nội, trong giai đoạn 2015-2024, thành phố đã
xây dựng được 141 chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ
2
Bảng 1: Tổng hợp các chính sách phát triển sinh kế bền vững ở vùng nông thôn ngoại thành
hà nội
25
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
26
sản phẩm nông nghiệp. Các chuỗi đã thu hút
được nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại,
hộ nông dân tham gia mang lại hiệu quả kinh tế
cao hơn cho các bên liên kết. Tuy nhiên, sau một
thời gian hoạt động, đến năm 2024, có 13 chuỗi
ngừng hoạt động và thêm 17 chuỗi được thành
lập mới. Tuy vậy, so với tiềm năng và lợi thế của
Thủ đô, kết quả trên chưa tương xứng.
Đối với lĩnh vực lâm nghiệp: Hiện nay, Hà Nội
có hơn 11.000ha rừng đặc dụng, gần 5.822ha
rừng phòng hộ, 10.332ha rừng sản xuất và diện
tích đất lâm nghiệp chưa thành rừng là hơn
7.538ha phân bố ở 7 huyện, thị xã. Ở vùng ngoại
thành, tại khu vực đất lâm nghiệp đang phát triển
hai mô hình sinh kế phổ quát là: Phát triển lâm
nghiệp bền vững theo chuẩn mực EU kèm theo
quản lý rừng bền vững và Phát triển nông - lâm
kết hợp (bảng 4).
Bảng 4: Tổng hợp phát triển mô hình sinh kế
đối với lĩnh vực lâm nghiệp
3
Bảng 2: Tổng hợp phát triển mô hình sinh kế
bền vững đối với lĩnh vực trồng trọt
3
Bảng 3: Tổng hợp phát triển mô hình sinh kế
bền vững đối với lĩnh vực chăn nuôi
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
4
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
27
Bên cạnh các mô hình lâm nghiệp đơn thuần -
chỉ trồng cây lâm nghiệp, có thể nói các mô hình
sản xuất lâm nghiệp còn lại ở vùng ngoại thành
Hà Nội chủ yếu là các mô hình “Nông lâm kết
hợp”. Hiện nay, trên địa bàn thành phố chủ yếu có
các mô hình phát triển kinh tế dựa vào cây ăn quả
và cây chăn nuôi là nhiều nhất (12/43 mô hình),
tiếp đến là phát triển kinh tế dưới tán rừng dựa
vào cây dược liệu/gia vị (6/43 mô hình). Thu nhập
trên mỗi héc ta đất lâm nghiệp chỉ đạt 10 - 15
triệu đồng/năm, thấp hơn rất nhiều so với các
hoạt động kinh tế khác cũng đang đặt ra nhiều
vấn đề với ngành lâm nghiệp Thủ đô. Việc trồng
rừng tại địa phương vẫn mang nặng tư tưởng phủ
xanh đất trống đồi trọc, quảng canh với một số
loài cây như keo, bạch đàn cho thu hoạch trong
ngắn hạn nên giá trị sản xuất, hiệu quả kinh tế từ
rừng còn thấp. Điều đó cho thấy sinh kế từ lĩnh
vực lâm nghiệp chưa được khai thác đảm bảo
cuộc sống của người dân.
Đối với lĩnh vực du lịch: Một số mô hình sinh
kế trong lĩnh vực du lịch phát triển phổ biến trong
thời gian gần đây, gồm: (i) Phát triển mô hình
Homestay gắn với làng nghề, khu sinh thái và
trang trại sinh thái nông nghiệp; (ii) Phát triển du
lịch nghỉ dưỡng kết hợp khu sinh thái; (iii) Phát
triển du lịch văn hóa, tâm linh (bảng 5).
Sinh kế trong lĩnh vực du lịch nhìn chung có xu
hướng gia tăng ở hầu hết các chỉ tiêu. So với làm
nông nghiệp đơn thuần, khi các hộ gia đình đầu
tư phát triển du lịch sinh thái, mở các homestay
đã khiến thu nhập của họ tăng lên gấp nhiều lần,
sinh kế được đảm bảo và phát triển.
Đối với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp: Hiện tại,
ở các vùng ngoại thành của Hà Nội có nhiều mô
hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) khác
nhau. Các mô hình này đa dạng về tính cộng
đồng (tính chất làng nghề), chủng loại sản phẩm,
chuỗi giá trị, phương thức tổ chức sản xuất, chủ
sở hữu,... Các mô hình sinh kế trong lĩnh vực
TTCN, bao gồm: (1) Làng nghề; (2) Cụm công
nghiệp làng nghề; (3) Mô hình sản xuất tiểu thủ
công nghiệp không tập trung (Bảng 6).
Hệ thống làng nghề Hà Nội tạo ra doanh thu
hơn 20.000 tỷ đồng mỗi năm và có sự tăng
trưởng, phát triển ổn định cả về doanh thu, giá trị
sản xuất, xuất khẩu... Cùng với doanh thu lớn, sự
phát triển của các làng nghề cũng giúp cải thiện
thu nhập cho người lao động. Con số này hiện đạt
bình quân 5 - 6 triệu đồng/người. Mức thu nhập
này nhìn chung còn thấp và không đồng đều
nhưng vẫn cao hơn so với lao động thuần nông.
Mặc dù, các mô hình phát triển sinh kế bền
vững vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội đã có
tương đối đa dạng, song hiệu quả các mô hình
này đem lại cho người dân vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng của thủ đô và chưa đáp ứng được
đời sống sinh kế của người dân. Dường như mô
hình sinh kế đều tự phát và chưa được đánh giá
để rút kinh nghiệm. Thêm vào đó, sự tương tác
giữa các mô hình chưa được chú ý và chưa được
làm tốt. Các mô hình tồn tại và hoạt động tương
5
Bảng 5: Tổng hợp phát triển mô hình sinh kế
đối với lĩnh vực du lịch
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

