
1556
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ
GÓP PHẦN VÀO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Diên(1), Phan Thị Thanh Bình(2), Hoàng Thị Thu Hoài(3)
TÓM TẮT:
Pht trin kinh t s đc xem l biện php ti u nhằm hiện thực ho kht vọng pht trin đất
nc Việt Nam hùng cờng, thnh vng, trở thnh mt nc pht trin, theo đnh hng x hi chủ
nghĩa. Kinh t s cũng l không gian cho đổi mi sng tạo vì nó mở ra cc loại hình kinh doanh v
tiêu dùng mi. Chuyn đổi s v pht trin kinh t s tạo ra ba xu th ln, ba xu th ny đều đóng
góp vo sự pht trin bền vững: Phi trung gian ho, phi tập trung ho v phi vật chất ho. Hiện
nay, kinh t s l mt trong ba trụ ct chính trong chuyn đổi s quc gia v đóng vai trò quan trọng
trong pht trin nền kinh t, kinh t s đc coi l mt đng lực v trụ ct chính trong pht trin
kinh t. Trong bi cảnh đó, việc nắm bắt v hiu rõ những xu hng, thch thức v cơ hi của kinh
t s l vô cùng quan trọng đ hng ti mục tiêu pht trin bền vững. Bi vit ny đa ra mt s
thực trạng kinh t s, những thuận li v khó khn tồn tại v mt s giải php đ pht trin kinh t
s hng ti mục tiêu pht trin bền vững ở Việt Nam hiện nay.
Từ khoá: Kinh t s, chuyn đổi s, pht trin bền vững.
ABSTRACT:
Digital economic development is considered the optimal measure to realize the desire to develop
a strong and prosperous Vietnam, becoming a developed country, with a socialist orientation. Digital
economy is also a space for innovation because it opens up new types of business and consumption.
Digital transformation and digital economic development create three major trends, all of which
contribute to sustainable development: decentralization, decentralization and dematerialization.
Currently, the digital economy is one of the three main pillars in national digital transformation
and plays an important role in the development of the economy, the digital economy is considered a
driving force and main pillar in economic development. In that context, grasping and understanding
the trends, challenges and opportunities of the digital economy is extremely important to move
towards the goal of sustainable development. This article presents some digital economic realities,
advantages and difficulties that exist and some solutions to develop the digital economy towards the
goal of sustainable development in Vietnam today.
Keywords: Digital economy, digital conversion, sustainable development.
1. Trường Đại học Nghệ An. Email: tranthidien@naue.edu.vn.
2. Trường Đại học Nghệ An.
3. Trường Đại học Nghệ An.

1557
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
1. Kinh tế số và phát triển bền vững
Hiện nay, kinh tế số có nhiều bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Công nghệ kỹ thuật số đã hỗ trợ cuộc sống của người dân và người tiêu dùng, giúp nâng cao năng
suất của người lao động và doanh nghiệp, đồng thời giúp người dân có thể tiếp cận nhanh các dịch
vụ từ Chính phủ (Dahlman & cộng sự, 2016). Trên thế giới, có nhiều định nghĩa khác nhau về kinh
tế số. Theo IMF (2018), số hoá hoạt động kinh tế là sự kết hợp dữ liệu và Internet vào các quy trình
sản xuất sản phẩm, các hình thức mới của tiêu dùng hộ gia đình và chính phủ. Dahlman & cộng sự
(2016) cho rằng kinh tế số là sự hợp nhất của một số công nghệ chung và các hoạt động kinh tế - xã
hội thông qua Internet và các công nghệ liên quan, bao gồm cơ sở hạ tầng (đường băng thông rộng,
bộ định tuyến), các thiết bị (máy tính, điện thoại thông minh), các ứng dụng (Google, Salesforce)
và chức năng (Internet vạn vật, phân tích dữ liệu, điện toán đám mây). Nghiên cứu của Bukht and
Heeks (2017) đưa ra quan điểm, kinh tế số là một phần của sản lượng kinh tế từ các công nghệ kỹ
thuật số với mô hình kinh doanh dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ kỹ thuật số; bao gồm lĩnh vực kỹ
thuật số cộng với các dịch vụ nền tảng và kỹ thuật số mới nổi. Các nghiên cứu về kinh tế số đã đưa
ra các khái niệm có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên cũng có những góc nhìn khác nhau. Đây cũng
là thách thức trong việc thống nhất cách đo lường hoạt động kinh tế số.
Tại Việt Nam, chuyển đổi số quốc gia bao gồm 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội
số đã được thúc đẩy phát triển. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng
đến năm 2030 đã thể hiện rõ quan điểm thúc đẩy phát triển các trụ cột, trong đó có kinh tế số. Năm
2020, với nhiều chiến lược chính sách chuyển đổi số quốc gia, đánh dấu năm khởi động nhận thức
về chuyển đổi số. Năm 2021 là năm bắt đầu triển khai, trải nghiệm về chuyển đổi số trong bối cảnh
đại dịch. Năm 2022 thực hiện tăng tốc chuyển đổi số quốc gia. Năm 2022, Chiến lược Quốc gia phát
triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt. Chiến lược
đã xác định nội dung của kinh tế số bao gồm kinh tế số công nghệ thông tin (ICT) (công nghiệp công
nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông), kinh tế số nền tảng (nền tảng số, các hệ thống trực tuyến kết
nối giữa cung và cầu và các dịch vụ trực tuyến trên mạng) và kinh tế số ngành. Tuy nhiên, nền kinh
tế số Việt Nam đang ở giai đoạn mới phát triển, trong khi điều kiện về thể chế, chính sách, hạ tầng,
nguồn lực,… chưa đồng bộ và đầy đủ. Do đó, cần có các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
số ở Việt Nam hiện nay để hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Phát triển bền vững nhằm mục tiêu tạo ra một sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi
trường và công bằng xã hội.
Có ba trụ cột chính của phát triển bền vững:
Kinh t: Tăng trưởng kinh tế bền vững nhằm mục tiêu tạo ra sự phồn thịnh và ổn định kinh tế
mà không làm kiệt quệ các tài nguyên thiên nhiên và dẫn đến hậu quả tiêu cực về lâu dài.
X hi: Công bằng xã hội và việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng, đảm bảo mọi người có
quyền tiếp cận với giáo dục, y tế và cơ hội làm việc trong một xã hội ổn định và công bằng.
Môi trờng: Bảo vệ và bảo tồn môi trường cho tương lai, bao gồm việc giảm thiểu ô nhiễm, bảo
tồn đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

1558
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Phát triển kinh tế bền vững là sự tăng tiến nhanh, an toàn và có chất lượng về mọi mặt của nền
kinh tế (như quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế,…). Quá trình phát triển này đòi hỏi các
chủ thể trong hệ thống kinh tế có cơ hội tiếp cận các nguồn lực và chia sẻ nguồn tài nguyên thiên
nhiên một cách bình đẳng. Các chính sách không chỉ tập trung mang lại lợi ích cho một số ít mà phải
tạo ra sự thịnh vượng cho tất cả mọi người; đồng thời bảo đảm trong một giới hạn cho phép của hệ
sinh thái, không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.
Mục tiêu của phát triển bền vững mà Việt Nam đạt ra đến năm 2030, là phát triển đất nước trở
thành nước có nền công nghiệp hiện đại, thu nhập đạt mức trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh
tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới, tạo tiền đề vững chắc đưa nước ta trở thành nước phát triển,
thu nhập cao, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc vào năm 2045, thể chế, bộ máy quản lý
hiện đại, có tính cạnh tranh cao, hiệu lực, hiệu quả. Nền kinh tế phát triển nhanh nhưng đảm bảo
tính độc lập và bền vững [Ban chấp hành Trung ương Đảng - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 2021 -2030].
2. Phát triển kinh tế số ở Việt Nam - một số thực trạng cần quan tâm
2.1. Cơ hội phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia được đánh giá có môi trường chính trị, xã hội ổn định, cùng với nền tảng
kinh tế vĩ mô được củng cố vững chắc, có dân số trẻ, nhanh nhạy trong nắm bắt công nghệ, nằm
trong tốp đầu các quốc gia có tốc độ tăng trưởng về số người dùng Internet, điện thoại thông minh,
và sử dụng mạng xã hội. Kinh tế số ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia. Phát triển kinh tế số gắn với mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ cần đi theo hướng
tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời tạo cơ hội bứt phá
cho nền kinh tế, trong đó, kinh tế số và chuyển đổi số vừa là mục tiêu vừa là giải pháp.
Việt Nam cũng được đánh giá là một nền kinh tế năng động với khoảng 700 nghìn doanh nghiệp
tư nhân. Dân số Việt Nam với gần 100 triệu người đang trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”, được
đào tạo tốt, học toán tốt và lao động chăm chỉ;
Người dân Việt Nam thích ứng nhanh với sự thay đổi, ứng dụng công nghệ trong cuộc sống và
công việc. Ở khu vực ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát
triển kinh tế số ở mức cao, với hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin đảm bảo, phủ sóng rộng, mật
độ người dùng tương đối cao. Hiện nay, có khoảng hơn 90% dân số đang sử dụng điện thoại thông
minh, gần 70% số người xem video và nghe nhạc thường xuyên trên các thiết bị di động, có đến
80% số thuê bao đang sử dụng 3G, 4G hoặc 5G,… mạng 3G, 4G hiện đã phủ sóng 95% cả nước,
hiện đang triển khai 5G - đây là một nền tảng quan trọng của nền kinh tế số ở Việt Nam (Bộ Thông
tin và Truyền thông, 2022).
C
hính phủ cũng thể hiện rõ những định hướng, nổ lực và quyết tâm hành động mạnh mẽ trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, nhiều chủ trương, chính sách được ban hành thể hiện rõ quyết tâm
của Chính phủ Việt Nam trong chiến lược phát triển nền kinh tế số như: Luật công nghệ cao được ban
hành năm 2009,
năm 2010, ban hành Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020,
Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ chính trị năm 2014 về: Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ
thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 52-NQ/TW, năm
2019 của Bộ Chính trị về: Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cách mạng công nghiệp

1559
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
lần thứ 4, đặt mục tiêu: kinh tế chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030. Nghị quyết số 01/NQ-CP,
năm 2019 của Chính phủ về: nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm 2019, các nhiệm vụ quan trong được đặt ra như: thúc đẩy phát triển kinh tế số, xây dựng các
giải pháp phát triển nhân lực quốc gia đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xây
dựng đề án chuyển đổi số quốc gia, …
Chỉ thị số 01/CT-TTg, năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp
công nghệ số Việt Nam chỉ rõ các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cần đi đầu, tạo đột phá trong
thực hiện chiến lược “Make in Viet Nam”. Các doanh nghiệp cần phấn đấu để từng bước làm chủ
công nghệ, chủ động chế tạo các sản phẩm, thiết kế, sáng tạo các dịch vụ, giải pháp, mô hình kinh
doanh mới.
Việt Nam đang đẩy mạnh việc xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số, nền hành chính đang
được cải cách mạnh mẽ theo hướng số hoá và ngày càng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số.
Thúc đẩy tinh thần kinh doanh, phát triển các thành phố thông minh, thúc đẩy và hỗ trợ các cơ sở
khởi nghiệp đặc biệt là các khởi nghiệp về công nghệ thông tin, công nghệ số, điện tử,... Chính phủ
cũng đặt ra nhiều mục tiêu phát triển giai đoạn 2025 - 2045 như: Đến năm 2025, Về xếp hạng về chỉ
số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) đứng thứ 3 trong khối ASEAN; về xây dựng hạ tầng số phấn đấu
đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN, internet băng thông rộng phủ 100% các xã, phường; về
kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP, năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm; hoàn thành các
mục tiêu chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã
hội; đến năm 2030: về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp hạng nhóm 40 nước dẫn đầu thế
giới; phủ sóng toàn quốc mạng di động 5G; mọi người dân được truy cập internet băng thông rộng
với chi phí thấp; kinh tế số chiếm trên 30% GDP. Đến năm 2045, hướng tới mục tiêu phát triển Việt
Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp,
đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á; có năng suất lao động cao, có đủ năng lực
làm chủ và áp dụng công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, môi trường, quốc
phòng, an ninh (Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 52-NQ/TW).
Với quyết tâm chính trị, nền tảng thể chế và công nghệ ở mức khá tích cực, đây là cơ sở để Việt
Nam tự tin về khả năng chuyển đổi thành công từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số.
Để chủ động phát triển kinh tế số và tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chúng ta cần
đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước,
các tổ chức chính trị - xã hội. Hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng thiết
yếu; phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển nguồn nhân lực các ngành
và công nghệ ưu tiên, tăng cường hội nhập quốc tế; thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội,… Đồng thời, bảo đảm việc làm, ổn định
thu nhập, hỗ trợ an sinh và tái hoà nhập xã hội cho những tầng lớp yếu thế, dễ bị tổn thương, cũng
như tăng cường bảo vệ môi trường sống trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
2.2. Một số đóng góp từ nền kinh tế số cho mục tiêu phát triển bền vững
Theo tính toán, nền kinh tế số đang chiếm khoảng 15% GDP toàn cầu; dự đoán đến năm 2030,
tỉ lệ này sẽ là 30%. Tại Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 52-NQ/TW đã

1560
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
xác định phát triển kinh tế số là trụ cột, nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược trong tiến trình chuyển đổi
số quốc gia và đề ra mục tiêu vào năm 2025, kinh tế số Việt Nam sẽ chiếm 20% GDP và tăng lên
30% vào năm 2030.
Kinh tế số đem đến những thay đổi toàn diện và sâu sắc trong từng lĩnh vực của cuộc sống,
thay đổi đối với tất cả các chủ thể trong xã hội. Do đó, tất cả các bên liên quan đều cần thay đổi, điều
chỉnh phù hợp nhằm tận dụng, thúc đẩy và tham gia hiệu quả nhất vào nền kinh tế số, giảm thiểu các
vấn đề tiêu cực hướng tới thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Phát triển kinh tế số là cơ hội để Việt Nam thu hẹp khoảng cách với các nước đang phát triển.
Kinh tế số là một nền kinh tế hoạt động chủ yếu dựa trên công nghệ, công nghệ số. Việt Nam là quốc
gia được đánh giá có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh ở khu vực trong những năm gần đây. Chuyển
đổi số là một trong những chiến lược quan trọng được Chính phủ Việt Nam triển khai rộng khắp trên
tất cả các lĩnh vực từ quản lý đến thương mại, ngân hàng, giáo dục, y tế, giao thông, giải trí, du lịch,
nông nghiệp,… Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 505/QĐ-TTg, ngày 22/4/2022,
về Ngày Chuyển đổi số quốc gia, lấy ngày 10 tháng 10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia.
Theo thống kê đến tháng 4/2024 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam hiện có hơn
45.000 doanh nghiệp hoạt hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó có 11.200 doanh
nghiệp làm phần mềm. Tính đến hết năm 2023, Việt Nam có khoảng trên 1.500 doanh nghiệp công
nghệ số Việt Nam đi ra nước ngoài với ước tính doanh thu của thị trường nước ngoài hiện nay
khoảng 7,5 tỷ USD. Việt Nam có hơn 50 công ty Fintech cung cấp dịch vụ thanh toán tiền gửi và
tiền điện tử. Trong kinh doanh nội dung số, công nghiệp quảng cáo trực tuyến đạt doanh thu 590
triệu USD năm 2023, doanh thu trò chơi trực tuyến đạt khoảng 900 triệu USD. Các doanh nghiệp
vận tải cũng ra mắt nhiều ứng dụng để cạnh tranh với Grab, Uber, như: FastGo, Be, VATO... (Bộ
Công thương 2022a).
Thương mại điện tử là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh mẽ và vượt bậc, góp phần
quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số hiện nay. Đến nay, thương mại điện tử đã thực
sự bùng nổ và đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của các kênh bán hàng truyền thống, những cái tên:
Amazon, ebay được coi là những “ông lớn” trong ngành.
Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (Vecom), nhận định, năm 2015 là năm cuối của
giai đoạn phổ cập, từ năm 2016 ngành thương mại điện tử của Việt Nam sẽ chuyển sang giai đoạn
phát triển nhanh và ổn định. Cũng theo khảo sát của Vecom, năm 2019, thương mại điện tử đạt
trên 32% về tốc độ tăng trưởng. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2023, quy mô thị trường
thương mại điện tử bán lẻ tăng thêm khoảng 4 tỷ USD (tăng 25%) so với năm 2022, đạt 20,5 tỷ USD
và dự báo sẽ tăng 34% lên 29 tỷ USD vào năm 2025. Các lĩnh vực dịch vụ khác cũng có những tăng
trưởng mạnh mẽ như: Quảng cáo trực tuyến tăng gần 50% lên 1,6 tỷ USD và dự kiến tăng lên 34%
lên 7 tỷ USD năm 2025. Kết quả này nhấn mạnh thương mại điện tử ngày càng khẳng định là cấu
phần quan trọng của nền kinh tế số tại Việt Nam (Bộ Công Thương).
Phát triển kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng, Việt Nam cần tận dụng được
những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết như
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự
do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)

