Dy và hc tiếng Anh theo phương pháp Natural Approat
Natural Approat∫ là mt công trình nghiên cu kh năng giao tiếp bng ngôn ng,
rút ngn quá trình hình thành ngôn ng t nhiên của con người, loi b hết tt c
nhng cái sai làm mt nhiu thi gian và ch thc hin mt chui quá trình đúng,
giúp một người t ch không diễn đạt được ý mình đến kh năng diễn đạt lưu loát.
Phương pháp này thông qua hai quá trình độc lập nhau, đó là quá trình “np”
quá trình “khai thông”.
Quá trình “np”
Natural Approatmô phỏng phương pháp “nạp” t nhiên vào vic hc ngôn ng.
Quá trình ghi nh ca một người tsinh ra thông qua việc nghe đã np” vào b
nh toàn b nhng câu t thiết yếu để giao tiếp và nhng thông tin này đã “dp”
vào nhng vùng nh nhiu lần đến nỗi đã biến thành “h ngôn ng tim n”
(Potential Language Systemh ngôn ng còn ch s hướng dn mith hình
thành) và ch ch s ng dn để to ra lô-gíc ca lời nói. Phương pháp “nạp”
ngôn ng y là quá trình “kích hot tim thc”, ghi thông tin vào các vùng nh
ngn hn, trung hn và dài hn. ng lp li nhiu ln, thông tin càng ghi sâu vào
b nhi hn. Đến khi vic nạp đã đến giai đoạn đủ, chúng ta s không bao gi
quên na.
Tuy nhiên, vic np” t nhiên kéo i nhiu năm trời. T lúc mi sinh ra cho đến
khith giao tiếp được như một em hc lp mt, các em cũng chỉ giao tiếp
được dạng cơ bản và h thng t vng n quá sơi. Nhiều nhà ngôn ng hc
và nghiên cu ngôn ng cũng ca ngợi quá trình hc t nhiên này, nhưng chỉ
phỏng đơn thuần quá trình này thì s dn đến mt tht bi v thời gian. Đó là ca
k, quá trình này cũng chỉ có th to ra “h ngôn ng tim n” mà thôi.
Chúng ta hãy xem cách một người Vit t c sinh ra cho đến khi có th giao tiếp
tm được (cho đến năm hc lp 1 chng hn). H thng ngôn ng được np vào
đầu mt cách t nhiên qua nhiều năm tháng. Cuối cùng, h thng u t bản đã
được hình thành và em này được cho là nói tiếng Việt lưu loát” như nhiều nhà
phân tích ngôn ng kết lun. Nhưng thật s thì cho đến khi hc hết đại hc mt
sinh viên còn cn phi hc k năng giao tiếp thì mới nói được tiếng Việt lưu loát,
diễn đạt được ý ca mình. Cho đến giai đoạn này, ngôn ng ch hình thành dưới
dng “tim n” mà thôi – nghĩa là nghe thì hiểu, nhưng diễn đạt thì không được.
Phương pháp Natural Approat∫ cũng mô phỏng quá trình np” t nhiên này nhưng
thông qua phương pháp “cưỡng bc” – nghĩa ngưi hc phi lp lii hc, câu
t chun bn x vi s ln nhất đnh s to ra mt hiu qu tương đương với q
trình np t nhiên, nhưng thời gian thì rút ngắn hơn nhiều. Nhiều người cho rng,
vic chn một môi trường nói tiếng Anh t nhiên như câu lc b nói tiếng Anh,
hay giao tiếp vi giáo viên bn x… s tương đương với quá trình này. Nhưng đây
là s sai lm. C hai cách đều s dng chung tt nhiên” không có nghĩa là nó
ging nhau. Mt quá trình t nhiên t mi sinh ra cho đến biết nói cơ bản cũng đã
trải qua hàng năm trời, nhưng cũng sẽ ch dng li kh năng cơ bản nếu như
không mất thêm vài năm nữa để luyn tập có hướng dn. Còn quá trình nghe nói t
nhiên như hình thc câu lc b, giao tiếp tn lp… là mt quá trình rt ngn,
lượng thông tin “np” không nhiu và tính lp li không cao, làm mt nhiu thi
gian hơn mà vẫn không s dụng được ngôn ng. Không cn nói bng chng
chúng ta ai cũng trải qua hơn chục m học theo kiểu này, trường Tây có, ta có, mà
vn b” tiếng Anh.
Phương pháp “lặp cưỡng bc” là quá trình lp li nhng cu trúc văn nói chuẩn
bn x cn thiết trong giao tiếp để to dng “h ngôn ng tim n”. H ngôn ng
tim n này hơn hẳn h ngôn ng t nhiên ca mt em bé vì nó còn thông qua quá
trình chn lc có hiu biết và định hướng. Khi được hướng dnkhai thông” thông
qua “k năng giao tiếp bng ngôn ng” (Language Communnication Skill), h
ngôn ng tim n s kết ni lô-gic vi kiến thc và kinh nghim ca tng người để
truyền đạt thành li nói.
Quá trình “np ngôn ng” cũng sẽ hình thành nên “quán tính ngôn ng”. Nên nh
rng, nhng t sai, câu sai, âm sai mà chúng ta đang sở hu cũng do quá trình đọc
sai, nói sai, nghe sai nhiu ln mà thành. Hãy nh li thi gian đầu hc mt t mi,
chúng ta không biết đọc kiu nào cho chuẩn xác, đôi khi nhấn ch này, đôi khi chỗ
khác. Nhưng dần dn, khi đã xác định mt kiu đọc mình cho là đúng và liên
tục đọc và nói t đó, câu đó, chúng ta đã hình thành nên một quán tính. Nhưng do
việc xác đnh ng âm ng điệu sai nên đã to ra mt qn tính sai.
Khi quán tính hình thành, có nghĩa là tim thức đã được kích hoạt, điều khin q
trình “t so khp” (Auto Matching) vi nhng gì mắt quan sát được, tai nghe được
và t báo cho não b nhng thông tin phn hi cn thiết mà không cn s can thip
ca b nh. Nh vậy, người hc có th chuyn đổi t hình thc suy nghĩ và tìm
kiếm trong b nh sang hình thc quán tính – th bt nhanh thành li nói trong
khi b não còn mãi mê tìm kiến thc cho nhng gì cn diễn đạt bng ngôn ng.
Điều này cũng tương tự như việc lái xe. Thi gian đầu hc lái, chúng ta phi tp
trung tinh thn rt cao độ mà vic lái xe vn không theo ý muốn. Nng khi mọi
th tr thành quán tính, chúng ta đôi khi vừa lái xe, va suy nghĩ miên man mà xe
vẫn được điều khiển tn tru. Đó là quá trình tim thức điều khiển hành động.
Chúng ta đôi khi cũng chọn cách là hc thuc lòng bài hc. Nhưng để thuc lòng,
chúng ta ch cn lp li một câu nào đó khoảng 15-20 ln là thuộc. Nhưng thuộc
lòng như thế ch giúp chúng ta nh được trong phm vi khong vài tun l ri quên
hoàn toàn bài hc. Nếu đã qn bài hc hay ch nh mơ hồ thì bn không có cách
nào chc chn khi nghe hoàn toàn không có cách nào chn đúng câu từ để nói
nhanh được. Tuy rng trong khi viết hay dch có s gi ý ca t điển và có thi
gian suy nghĩ thì bn có th hiu được, nhưng khi nghe nói thì hoàn toàn không
th.