B NÔNG NGHIP VÀ PHÁT TRIN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN HÀ NI
ĐỀ CƯƠNG BÀI GNG
CÔNG NGH SN XUT BÁNH KO
Ngh: Chế biến thc phm
NĂM 2025
( Lưu hành nội bộ )
BÀI M ĐẦU: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BÁNH KẸO
1. Giới thiệu chung
Nghệ thuật làm nh kẹo đã ra đời cách đây từ rất lâu. Theo những nguồn sử
liệu Ai Cập cổ đại thì nghệ thuật làm bánh kẹo đã tồn tại cách đây khoảng 3500 m.
Lúc đó người ta m bánh kẹo dựa trên thành phần nguyên liệu chính mật ong hoặc
dùng nước mía thô cho bốc hơi.
Đến thế kỉ XVI, ngành sản xuất đường ra đời tại Persia đặt nền tảng cho ngành
sản xuất bánh kẹo sau này. Tiếp sau đó, ngành mía đường tiếp tục phát triển lan
rộng trên toàn thế giới kéo theo ngành bánh kẹo bắt đầu phát triển nhưng chỉ qui mô
nhỏ không đa dạng về chủng loại. Khi ngành sản xuất đường bắt đầu đi vào lĩnh
vực thương mại thì công nghệ m bánh kẹo cũng bắt đầu phát triển mạnh. Người ta
biết cho thêm vào bánh kẹo các thành phần khác nữa để tạo ra nhiều chủng loại bánh
kẹo phong phú và đa dạng.
Cùng với sự phát triển của hội, mức sống của con người ngày càng nâng cao
nhu cầu về bánh kẹo ngày một tăng. Bánh kẹo không chỉ được làm qui gia
đình còn qui công nghiệp dần giữ một vị trí quan trọng trong nền ng
nghiệp thế giới.
Nhu cầu về bánh kẹo không chỉ để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng về
hương vị giải trí còn giá trị dinh ỡng một số mục đích khác (cung cấp
vitamin, kháng sinh…).
Kỹ thuật sản xuất bánh kẹo của nước ta trong thời gian gần đây phát triển nhanh
chóng. Trong thời k gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO hiện nay, các nhà sản
xuất bánh kẹo đang đứng trước nhiều cơ hội mới cũng như gặp phải những thách thức,
cạnh tranh không nhỏ. Chính thế, xu hướng chung hiện nay y dựng nhà máy
sản xuất bánh kẹo quy mô, chất lượng sản phẩm cao đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng.
2. Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ bánh kẹo trên thế giới và trong nước
2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bánh kẹo trên thế giới
Đối với các c nn kinh tế phát trin, thu nhập đời sng của người dân
cao thì bánh kẹo được coi như một loi thc phm thông dng. Bánh kẹo được s
dng trong tt c các ngày l như l Giáng sinh, l T ơn, Valentin… mặt hu
hết trong mọi gia đình, đặc biệt là các gia đình có tr nh. Trên thế gii, bánh ko thc
s là nn công nghip ln mnh vi các sn phm hết sc phong phú và cht lưng sn
phm rất cao đóng một vai trò không th thiếu trong nn công nghip thc phm nói
chung. Cũng như các mặt hàng khác trong khi thc phm, sn phm bánh ko cht
ng cao ca các tập đoàn lớn đang tiến ti đặt cơ sở để sn xut và tiêu th sn phm
tại các nưc có nn công nghip bánh kẹo kém hơn, trong đó có Việt Nam. Đối vi thế
gii, Vit Nam vn còn m mt nn công nghip bánh ko non tr, không nhiu
nhà máy hay công ty có dây chuyn sn xut hiện đại đng bộ…
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bánh kẹo tại Việt Nam
Theo tng cc thống năm 2005, dân s nước ta đông thứ 15 trên thế gii
(hơn 83 triệu người) chính mt th trưng tiêu th rt rng ln. Đời sng ca mi
tng lớp nhân dân đang ngày càng được ci thin kéo theo nhu cu tiêu th các mt
hàng thc phẩm tăng theo trong đó bánh ko. Nh s phát trin kinh tế, hi,
chính tr ổn định bánh ko gi đây không còn bị coi như một loi sn phm xa x
nữa đã trở thành nhu cầu thường nht của người dân đặc bit bánh ko được s
dng rt nhiu trong các dp l hi, Tết, cưi hi, liên hoan…
Ngành bánh ko tc độ tăng trưởng khong 2%/ năm, khi vc Châu Á, đặc
bit Vit Nam tc độ tăng trưng cao hơn. Lượng tiêu th bánh ko ca Vit
Nam còn thp so vi nhiu c, ch đạt mc 1,2 kg/ người/ năm. Xu hưng tiêu dùng
các sn phm bánh ko cao cp dinh dưỡng, cht ng, uy tín, tin dng li
cho sc kho
Ngun nguyên liu ca ta không ch rt di dào, phong phú giá thành ca
nguyên liu trong nước đều thấp hơn nhiều so vi trên thế giới. Thêm vào đó lực
ợng nhân công đông đảo, giá thuê lao động thấp hơn so vi nhân công các c
khác. Đây những li thế cnh tranh rt ln cho các nhà sn xut ca ta trong giá
thành sn phm.
Tn dng những ưu thế trên cùng vi s thay đổi tích cực các chế qun
của nhà nước, ngành bánh kẹo đã những bước tiến mnh m, ch động đầu mở
rng, xây dng phát trin sn xut. Hin nay th phn các sn phm bánh ko sa
xut trong nưc đang ln dn, hin đang gi mc 70%. Trong s này, bên cnh các tên
tui lâu năm như Kinh Đô, Bibica, Hi , Vinabico… thì các doanh nghiệp nước
ngoài như Orion Food, Perfetti, Van Melle… cũng đã khng định được v thế ca
mình. Hin ti, 4 DN ngành bánh kẹo đã niêm yết CTCP Kinh Đô (KDC), CTCP
Chế biến thc phm Kinh Đô miền Bc (NKD), CTCP Bibica (BBC), CTCP Bánh ko
Hải Hà (HHC) đều nhng DN quy ln nhất trong ngành, đã khẳng định được
thương hiệu ca mình ti th trưng Vit Nam các doanh nghiệp y đều đang nỗ
lc nghiên cu, phát triển đ nâng cao chất lưng sn phẩm, đồng thời tăng cưng hp
tác liên kết để nâng cao kh năng cạnh tranh. Vài nét lược v mt s công ty sn
xut bánh ko ln ca Vit Nam (theo ngun internet):
Công ty c phn bánh ko Hi Hà: thành lập năm 1960, một trong nhng
công ty sn xut bánh ko ln mnh uy tín nht trên th trưng Vit Nam hin
nay. Công sut: 20.000 tấn/năm.
Hình 37. Mt s sn phm bánh ko ca Công ty c phn bánh ko Hi
Công ty bánh ko Hi châu: thành lp 02/09/1965 vi 7 y chuyn sn xut
hiện đại gn 100 chng loi mt hàng phong phú. Chuyên sn xut bánh - ko - bt
canh. Tng doanh thu sn phm hàng hoá: 160 t VNĐ/năm. Công suất tng sn
phm: 20.000 tấn/năm.
Công ty Kinh đô: thành lập năm 1993 nhưng với s phát trin nhanh chóng
mc tiêu chiếm lĩnh th trường trong nước, công ty Kinh Đô đã phát trin h thng
phân phối các đại trên khp 61 tnh thành. Công sut sn xut sn phm ko: 40
tn/ngày ~ 14.600 tấn/năm.
Hình 38. Mt s sn phm bánh ko của Công ty Kinh đô
Công ty c phn Bibica: các sn phẩm đa dạng được sn xut trên dây
chuyn hiện đại, ch yếu nhp t châu Âu. Công sut sn xut tng sn phm bánh
ko: 15.000 tấn/năm.
Công ty c phn Tràng An: thành lp 04/1975, tin thân nghip ko
Ni trc thuc S Công nghip Hà Ni. T 1/10/2004 là Công ty c phn Tràng An.
Hình 39. Mt s sn phm bánh ko ca Công ty C phn Tràng An
- Sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm 2008 vào khoảng 476.000 tấn, đến năm
2012 sẽ đạt khoảng 706.000 tấn; tổng giá trị bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam
năm 2008 khoảng 674 triệu USD, năm 2012 sẽ là 1.446 triệu USD.
- Tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam trong giai
đoạn từ năm 2008-2012 tính theo USD ước tính khoảng 114,71%/năm, trong khi con
số tương tự của các nước trong khu vực như Trung Quốc là 49,09%; Philippines
52,35%; Indonesia 64,02%; Ấn Độ 59,64%; Thái Lan 37,3%; Malaysia 17,13%…
(nguồn: Báo kinh tế Việt Nam).