
TĂNG XUÂN LUU – Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3/4 và 7/8 HF ...
37
NĂNG SUẤT SẢN XUẤT SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA 3/4 VÀ 7/8 MÁU HF HẠT NHÂN
TẠI VÙNG BA VÌ HÀ NỘI
Tăng Xuân Lưu1, Trần Thị Loan1, Ngô Đình Tân1, Nguyễn Quốc Toản1, Trần Trọng Thêm2 ,
Nguyễn Văn Đức2 Tạ Văn Tường3 , Nguyễn Ngọc Sơn3 và Trần Đức Tĩnh4
1Trung tâm NC Bò &Đ/Cỏ Ba Vì, 2 Viện chăn nuôi,
3 Trung tâm giống gia súc lớn Hà Nội, 4 Trạm KN huyện Ba Vì
*Tác giả liên hệ : Tăng Xuân Lưu ; Trung tâm NC Bò và Đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội
Tel: 0912.124.291; Email: ttncbo@ yahoo.com
ABSTRACT
Milk yield of 3/4 and 7/8 HF lactating dairy cows from the nuclear dairy herd in Bavi, Hanoi
The number of 3/4 and 7/8 HF cows of nuclear dairy herd in Ba vi has increased quickly in recent years from
40 heads in 2003 (16,79% of total herd in Bavi district) to 180 heads in 2006 and to 308 heads in 2008 (30,09 %
of total herd in Bavi district)
The milk yield of 7/8 HF nuclear dairy cows was higher than that of 3/4HF nuclear dairy cows (5020,5 vs.
4924,8 kg/lactation). On average, the milk yield of 7/8 HF and 3/4HF dairy cows, which were not from the
nuclear dairy herd was only 3862,4 and 3717,5 kg/lactation, respectively. The average mature body weight of
the 7/8 HF cows in nuclear dairy herd was higher than that of the ¾ HF cows in nuclear dairy herd. There was no
significant difference between the milk quality from 7/8 HF cows and ¾ HF cows. The number of semen
straw/pregnancy was 2,21 and 2,45 straws for 3/4 HF and 7/8 HF cow groups, respectively. The calving interval
was 449,8 and 472 days for 3/4 HF and 7/8 HF cow groups, respectively.
Key words: dairy cattle, milk yield, nuclear herd, calving interval.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi bò sữa Việt nam đang được đặt lên thành chiến lược phát triển ngành sữa của
những năm tiếp theo trong chương trình ưu tiên phát triển Nông nghiệp giai đoạn 2010- 2020.
Kế hoạch 2010 đạt 200.000 con với sản lượng sữa hàng hóa 230.000- 320.000 tấn và tự túc
được 40% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tổng số đàn bò sữa lên
500.000 con. Tổng đàn bò sữa hiện nay ước tính 102.000 con, trong đó bò HF chiếm tỷ lệ
15%, bò lai HF 83%, sản lượng sữa sản xuất 220.000 tấn (năm 2002 có 54.345 con đạt sản
lượng 95.000 tấn) (Cương và cs, 2003). Để đạt được mục tiêu trên thì đàn bò lai chiếm một vị
trí vô cùng quan trọng: Năng suất sữa tuy thấp hơn bò HF nhưng chất lượng sữa ổn định và
cao hơn, khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới gió mùa tốt hơn, phù hợp với điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng hiện nay của người chăn nuôi. Để đàn bò sữa lai phát triển, ngày càng
ổn định và năng suất sữa ngày một tăng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sản
xuất sữa của đàn bò sữa hạt nhân 3/4 và 7/8 HF tại vùng Ba Vì Hà Nội”
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu : Bò cái lai 3/4 và 7/8 HF nuôi trong điều kiện nông hộ
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, bò sữa Huyện Ba Vì (xã
Phú Đông, Cổ Đô, Vạn Thắng, Tản lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài).
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2008
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và tính năng sản xuất của đàn bò sữa tại vùng Ba
Vì trong những năm gần đây. Đàn bò sữa chọn lọc (hạt nhân) đạt sản lượng sữa trên 4.000
kg/chu kỳ/ 305 ngày nhằm nhân nhanh đàn bò sữa đạt sản lượng cao

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2-2010
38
Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Điều tra đánh giá một số chỉ tiêu về tình hình chăn nuôi bò sữa tại vùng Ba Vì
Đánh giá khả năng sinh sản, khả năng cho sữa, chất lượng sữa của đàn bò lai 3/4 và 7/8 HF
và đàn bò hạt nhân đạt năng suất ≥ 4000 lít trên chu kỳ qua một số năm .
Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành bình tuyển, giám định đàn gia súc để chọn đàn hạt nhân
Xác định khối lượng: theo phương pháp đo khối lượng bằng thước xác định khối lượng bò
sữa của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Đánh giá các chỉ tiêu chấm điểm
ngoại hình, năng suất sữa, khối lượng cơ thể dựa vào tiêu chuẩn phân cấp chất lượng đàn bò
sữa Việt Nam TCN 533-2002. Số liệu được nhập vào chương trình VDM của hồ sơ cá thể và
tính các chỉ tiêu. Xây dựng đàn bò sữa hạt nhân với SLS ≥ 4.000 kg/CK sữa và quy chuẩn 305
ngày cho sữa.
Tính năng sản xuất
Xác định năng suất sữa: cân năng suất sữa hàng ngày, định kỳ hàng tháng và quy đổi ra năng
suất chu kỳ 305 ngày.
Khả năng sinh sản: Hệ số phối giống được ghi chép qua hệ thống sổ sách kỹ thuật truyền tinh
nhân tạo bò của các dẫn tinh viên tại cơ sở. Chỉ tiêu về khoảng cách giữa 2 lứa đẻ: Căn cứ vào
sổ sách ghi chép ngày đẻ lứa trước với lứa cận kề
Chất lượng sữa: Sữa được lấy mẫu theo tháng và phân tích trên máy Ecomilk-Pro
Ghi chép số liệu vào phiếu điều tra từng cá thể qua các năm
Nhập số liệu vào chương trình VDM để lập hồ sơ cá thể và tính các chỉ tiêu về tính năng sản
xuất của chúng (dựa vào tiêu chuẩn phân cấp chất lượng đàn bò sữa Việt Nam: 10 TCN 533 -
2002 để tiến hành bình tuyển, phân cấp và chọn để làm đàn hạt nhân.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Điều tra, bình tuyển và lập hồ sơ theo dõi đàn bò cái lai 3/4 và 7/8 HF
Bảng 1. Kết quả điều tra và cơ cấu phẩm giống bò sữa năm 2006
Nhóm
bò lai
n
(con)
Tỉ lệ
giữa các
nhóm bò
lai (%)
Năng suất
sữa
Số ngày vắt
sữa
Khối lượng
cơ thể
Khoảng cách
giữa 2 lứa đẻ
F1 215 23,1 3208,4 ± 26,25 296,4 ± 5,7 374,2 ± 15,2 412,8 ± 13,2
F2 488 52,4 3568,6 ± 89,72 310,1 ± 4,3 406,7 ± 21,4 430,4 ± 21,3
F3 228 24,5 3501,5 ± 75,18 316,6 ± 3,6 403,2 ± 18,5 441,9 ± 12,7
Kết quả điều tra và lập sổ theo dõi trên đàn bò 3/4 và 7/8 HF vùng Ba Vì năm 2006: Năng
suất sữa đàn 3/4HF và đàn 7/8HF không có sự sai khác 3568,6 ± 89,72 kg và 3501,5 ± 75,18
kg với 310-316 ngày vắt sữa. Tổng đàn khai thác sữa 931 con, chọn ra 180 bò có sản lượng
sữa ≥ 4000 lít /chu kỳ để đưa vào danh sách theo dõi khả năng sản xuất sữa, sinh sản và phối
giống với bò đực cao sản, nhằm tạo ra đàn bò sữa hạt nhân tại vùng Ba Vì.

TĂNG XUÂN LUU – Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3/4 và 7/8 HF ...
39
Khối lượng cơ thể của 2 nhóm bò 3/4 và 7/8 HF cũng như khoảng cách giữa 2 lứa đẻ không
có sự sai khác (p>0,05). So với 1/2 HF thì có sự sai khác ở cả 2 chỉ tiêu. Trong giai đoạn này
phong trào chăn nuôi bò sữa trên phạm vi cả nước có xu thế chững lại do giá sữa quá rẻ, giá
bò giống không bán được đã ảnh hưởng đến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đối với chúng nên
các phẩm giống không phát huy được tiềm năng của chúng.
Bảng 2. Kết quả giám định phân loại theo cấp tổng hợp của đàn bò sữa qua các năm của đàn
bò chọn lọc
ĐCKL (%) Đ C (%) Cấp I (%) Cấp II (%) Cấp/phẩm
giống/năm
¾ 7/8 3/4 7/8 3/4 7/8 3/4 7/8
2006 27,53 25,5 29,17 29,4 23,7 24,5 19,16 20,6
2007 31,2 30,1 38,5 37,8 19,5 20,6 10,8 11,5
2008 32,7 31.4 39,4 38,6 15,2 16,5 12,7 13,5
(n con: 3/4 theo thứ tự các năm: 125, 89, và 207; 7/8: 55, 65, và 101). Tổng cộng: 180, 154, 308 con
Bảng 2 cho thấy, chất lượng đàn bò sữa của 2 nhóm bò lai được nâng lên rõ rệt qua các năm
từ 2006 - 2008. Số bò đạt đặc cấp kỷ lục và đặc cấp của cả 2 nhóm 7/8 và 3/4 đều tăng biến
động từ 54,9 - 56,7% năm 2006 lên 67,9 - 69,7% năm 2007 và 70,0 - 72,1% năm 2008, đặc
biệt là cấp 2 ở cả 2 nhóm bò đều giảm rõ rệt chỉ biến động từ 19,16 - 20,6% còn 12,7 và
13,5% trong tổng đàn. Tỉ lệ bò đạt đặc cấp kỷ lục và đặc cấp ở nhóm bò 3/4 bao giờ cũng cao
hơn nhóm bò 7/8HF. Điều này theo chúng tôi là trình độ kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật chọn
giống của người chăn nuôi được nâng lên.
Quá trình theo dõi chúng tôi thấy, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng giống nhau thì bò 3/4
phát huy được tính thích nghi hơn nên bò béo, khỏe và cho sữa đều hơn nhóm 7/8 HF đặc biệt
trong mùa nóng thì nhóm bò 7/8HF chịu nhiệt kém hơn nhóm 3/4HF. Theo TCVN về xếp cấp
ngoại hình bò sữa thì tất cả số bò sữa trên đều đạt từ cấp 1 trở lên nhưng kết hợp với đánh giá
theo cách cho điểm thể trạng thì một số thấp hơn 2,7 điểm. Trên cơ sở đánh giá điểm tổng thể
ngoại hình và thể trạng thì đàn bò sữa tại vùng Ba Vì đều đạt chất lượng tốt. Nếu theo phân
loại xếp cấp về năng suất sữa (TCVN) thì tất cả bò lai HF có năng suất từ 4000 lít/ chu kỳ đều
đạt kỷ lục về năng suất sữa.
Hệ số phối giống trên đàn hạt nhân và đàn đại trà
Quá trình theo dõi diễn biến của quá trình phối giống cho đàn bò sữa hạt nhân chúng tôi thu
được kết quả như sau:
Trên cơ sở ghi chép số liệu phối giống hàng ngày của các dẫn tinh viên và trên thực tế phối
giống đối với những bò động dục phối 5 lần mà không có chửa thì được xếp vào loại chậm
sinh cần được xử lý chậm sinh.
Những con chọn phối trên 5 lần thì loại ra không đưa vào để xử lý số liệu. Hệ số phối giống
của đàn 3/4 và 7/8 HF ở 2 nhóm bò lai đều khác nhau, nhóm 3/4HF bao giờ cũng thấp hơn
nhóm bò 7/8HF. Sự sai khác ở đàn chọn lọc so với đàn đại trà thì đàn chọn lọc có hệ số phối
giống cao hơn.
Theo nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs (2003). Hệ số phối giống bò Ba Vì là: 2,19 và 1,94,
Phù Đổng: 2,2 - 2,4. TP. Hồ Chí Minh: 1,93 - 2,07; ở đàn 3/4 và 7/8. Hệ số phối giống trong 2
năm trở lại đây có xu hướng cao hơn.
So với các kết quả nghiên cứu khác: Đàn bò thuần (Vũ Chí Cương và cs., 2003) hệ số phối
giống của P.Pong Pia chan tại Thai land là 2,6; 2,3 và 3,6

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2-2010
40
Bảng 3. Hệ số phối giống/ lần có chửa
Nhóm bò lai TT Chỉ tiêu
¾ 7/8
Đàn bò hạt nhân
1 n (con) 189 120
2 Mean ± SE (liều) 2,21±0,26 2,45± 0,21
3 SD 1,16 1,06
4 Min (liều) 1 1
5 Max (liều) 5 5
Đàn bò đại trà
1 n.(con) 450 310
2 Mean ± SE (liều) 2,05±0,16 2,15± 0,20
3 SD 1,36 1,16
4 Min (liều) 1 1
5 Max (liều) 5 5
Như vậy, kết quả của chúng tôi cao hơn nghiên cứu năm 2003 và cao hơn vùng Phù Đổng,
TP.Hồ Chí Minh năm 2004. Vì năng suất sữa của đàn chọn lọc 3/4 và 7/8 HF có năng suất
sữa cao hơn và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn tinh cao sẽ dẫn đến rối
loạn hocmon sinh dục. Khi năng suất sữa càng cao thì khả năng động dục lại sau khi đẻ càng
kéo dài do ức chế của hocmon Prolactin đến khả năng phân tiết của hocmon FSH. Trong thực
tế theo dõi cho thấy tỉ lệ bò động dục kéo dài, động dục không rụng trứng và động dục không
rõ là khá phổ biến ở bò cao sản
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của đàn hạt nhân và đàn đại trà
Bảng 4. Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Nhóm bò lai
TT Chỉ tiêu
3/4 HF 7/8 HF
Đàn hạt nhân
1 n (con) 70 56
2 Mean ± SE (ngày) 449,8±8,6 472,7±10,5
3 SD 116,98 67,86
4 Min (ngày) 396 407
5 Max (ngày) 786 822
Đàn đại trà
1 n (con) 688 420
2 Mean ± SE (ngày) 417,7± 9,6 447,8±10,8
3 SD 114,98 87,86
4 Min (ngày) 369 395
5 Max (ngày) 786 822
Kết quả cho thấy ở cả 2 đàn, đàn hạt nhân và đàn đại trà và giữa 2 nhóm bò 3/4 và 7/8 HF có
sự sai khác nhau rõ rệt (P<0,05) ở khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, bò 3/4 HF bao giờ cũng có

TĂNG XUÂN LUU – Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3/4 và 7/8 HF ...
41
khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn hơn bò 7/8 HF tương ứng: 449,8 ± 8,6; 472,7±10,5 ngày ở
đàn hạt nhân và: 417,7± 9,6; 447,8±10,8 ngày ở đàn đại trà. Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ lý
tưởng của bò là 12 tháng (một năm 1lứa) đây là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi bò
sữa, khoảng cách càng ngắn thì hiệu quả chăn nuôi càng cao.
Theo Vũ Chí Cương và cs (2003) ở đàn 3/4 và 7/8HF tương ứng ở các nơi: Phù Đổng: 440,6
7,7 và 442,8 ±10,9 ngày, ở Ba Vì: 443,12 ± 10,12 và 461,58 ±19,24 ngày ở TP. Hồ Chí Minh:
457,4 ± 14,89 và 460,9 ± 16,4 ngày. Khoảng cách lứa đẻ của đàn 7/8 HF bao giờ cũng cao
hơn đàn ¾ HF, nhận xét của chúng tôi cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả khác.
Theo Trần Trọng Thêm (1986) khi nghiên cứu tại đàn bò sữa Phù Đổng là 533-539 ngày. Còn
Nguyễn Kim Ninh (1992) công bố khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 469-537 ngày tại Ba Vì. Như
vậy, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của 2 phẩm giống đã được rút ngắn lại so với trước đây mặc
dù năng suất sữa được nâng lên rất nhiều.
Năng suất sữa và khối lượng cơ thể của đàn đại trà và đàn hạt nhân
Bảng 5. Năng suất sữa và KL cơ thể đàn đại trà và hạt nhân (≥4000 kg/ck) qua các năm
Chỉ số 2003* 2006 2007 2008
3/4HF 7/8HF 3/4HF 7/8HF 3/4HF 7/8HF 3/4HF
7/8HF
Đàn bò hạt nhân
n (con) 18 22 125 55 89 65 207 101
Mean ± mx
(kg/ck)
4446,88
±131.61
4154,81
± 25,05
4461,4
± 41,1
4496,8
± 60,3
4484,43
±53,2
4537
±57,6
4924,8
± 43,7
5020,5
± 72,9
Min (kg) 4022,0 4001,0 4000,0 4000,0
4000,0 4000,0
4000,0
4000,0
Max (kg) 4880,0 5855,0 5.400,0
6200,0
5500,0 5200,0
5368,0
6618,0
Khối lượng (kg) - - 396,2
±4,3
428,1 ±
6,4
427,4
±3,3
457,6
±3,9
435,8
± 5,9
487,9 ±
7,7
Đàn bò đại trà
n (con) 169 131 488 228 370 345 688 420
Mean± mx
(kg/ck)
3071,47
±53,94
3212,43
±54,82
3568
±89,72
3501,5
±75,18
3585,6
±56,7
3621,8
± 68,7
3717,5
±72,4
3862,4
±68,8
Min (kg) 2000,0 2000,0 2000,0 2000,0
2000,0 2000,0
2359 2459,0
Max (kg) 4500,0 5855,0 5670,0 6618,0
5860,0 5600,0
6885 5368,0
Khối lượng (kg) - - 406,7
±21,4
403,2
± 18,5
415,5
±5,6
427,5
±4,4
414,0
±5,7
425,8
±5,9
Tỉ lệ%
(hat nhân/đại
trà)
10,65 16,79 24,95 17,74 24,05 18,84 30,09 20,05
(*. Nguồn Vũ Chí Cương và cs (2003)
Bảng 5 cho thấy, số lượng đàn bò giống hạt nhân khu vực Ba Vì tăng lên theo các năm. Từ 40
con chọn lọc (3/4 và 7/8HF) năm 2004 tăng lên 180 con năm 2006, 154 con vào năm 2007 và
lên 308 con năm 2008. Sự tăng đàn bò cao sản hạt nhân ở khu vực Ba Vì trong các năm có sự
khác nhau nhất là trong năm 2008 là vì: Trên cơ sở kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng của 40 con
chọn lọc nhân đàn năm 2004 đã phát huy được hiệu quả, trên cơ sở đó người chăn nuôi nắm
khá vững vàng về kỹ thuật chăn nuôi cộng thêm đội ngũ kỹ thuật trẻ khu vực Ba Vì được
nâng lên, giúp cho việc nâng cao hiệu quả trong can thiệp về thú y, cũng như giá sữa thu mua
của các nhà máy khá hấp dẫn nên người chăn nuôi yên tâm hơn trong lĩnh vực đầu tư tăng đàn

