
Trang 1/3
CƠ SỞ II TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BỘ MÔN KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
_________________________
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
(KDO402)
__________________________________
Học kỳ II Năm học: 2020 – 2021
Hệ: Chính quy Mã lớp tín chỉ: 16, 17, 18, 19
Khóa: 57
Thời gian nộp bài: 9h00 Ngày 28/07/2021
Hình thức thi : Tiểu luận
Câu 1 (06 điểm):
Dựa vào kiến thức đã học trong học phần Quản lý rủi ro trong kinh doanh quốc tế,
sinh viên hãy lựa chọn ba điều khoản thường gặp trong một hợp đồng ngoại thương để
thực hiện quy trình quản lý rủi ro đối với 3 điều khoản trên.
Câu 2 (04 điểm): Sinh viên giải quyết bài tập tình huống dưới đây:
Bài báo “Mô hình tích trữ 60 năm qua bị 'tổn thương' vì đại dịch Covid-19” (Dũng
Nguyễn, 2021)
1
trích dẫn báo cáo “Manufacturing and trade Economics Global: From
Just-in-time to Just-in-case?” vừa công bố vào cuối tháng 6 của HSBC, trong đó đơn vị
nghiên cứu này đặt vấn đề mô hình tích trữ hàng nguyên liệu được tinh gọn trong 60
năm qua đang thay đổi, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tiếp tục làm đứt gãy chuỗi
cung ứng trên toàn cầu.
Một ví dụ điển hình là Toyota. Thay vì đợi đặt linh kiện theo từng đơn hàng như
trước, hãng xe này chủ động tích trữ từ sớm những linh kiện quan trọng như bán dẫn.
Trong báo cáo tài chính quí 3 (công bố đầu tháng 2), Toyota cho biết sẽ đảm bảo từ 1-
4 tháng dự trữ cần thiết đối với mỗi loại linh kiện. Theo HSBC, kết quả là Toyota đã
ứng phó thành công với tình trạng thiếu hụt bộ vi xử lý, giảm thiểu tối đa mức độ gián
đoạn sản xuất so với đối thủ. Kinh nghiệm “phản ứng nhanh” này cũng được cho là đến
từ sự kiện động đất và sóng thần ở Nhật Bản năm 2011, đã từng làm đứt gãy chuỗi cung
ứng. Trong năm nay, Toyota dự kiến tăng sản lượng xe bán từ 9,1 triệu đơn vị trong
năm ngoái lên con số 9,6.
“Các nhà sản xuất xe hơi khác cũng bắt đầu học hỏi chiến lược của Toyota bằng
cách tự đảm bảo nguồn cung của mình”, báo cáo của HSBC nhận định. Ví dụ, GM và
Ford đang lắp sẵn xe để có thể nhanh chóng hoàn thiện sản phẩm ngay khi có bộ vi xử
lý, còn Daimler và Porsche cũng cân nhắc giải pháp tăng tích trữ. Volkswagen hiện
đang nhập bộ vi xử lý từ các hãng cung cấp linh kiện ô tô lớn (như Bosch và Continental)
và xem xét giải pháp đặt mua linh kiện bán dẫn thẳng từ nhà sản xuất bộ vi xử lý.
Không chỉ có các nhà sản xuất ô tô, các nhà sản xuất máy tính lớn cũng bắt đầu
tích trữ một số loại linh kiện. Ví dụ như HP tăng dự trữ bộ xử lý trung tâm (CPU), bộ
điều khiển mạng và điều khiển màn hình. Taiwan Semiconductor Manufacturing
Company, nhà sản xuất bộ vi xử lý lớn nhất thế giới, nhận định rằng khách hàng của họ
đã bắt đầu chuẩn bị dần cho việc tăng cường tích trữ hàng trong năm so với mức cao
điểm nhất trong lịch sử. Chưa hết, hãng cũng kỳ vọng khách hàng tiếp tục tích trữ hàng
thêm một thời gian nữa “trong bối cảnh nhu cầu gối đầu của ngành để đảm bảo nguồn
cung an toàn”.
Theo HSBC, các nhà sản xuất hiện đang dịch chuyển từ mô hình “just-in-time”
(JIT) sang mô hình “just-in-case" (JIC). Hoạt động sản xuất đã được tối ưu hóa rất nhiều
trong vòng 60 năm qua nhờ sự ra đời của mô hình JIT, Toyota đã tiên phong áp dụng
mô hình này nhằm giảm dư thừa hàng tồn. Theo đó, nhà sản xuất chỉ đặt hàng lượng
1
Tạp chí Kinh tế Sài Gòn Online
ĐỀ SỐ: 01

Trang 2/3
linh kiện họ cần tại một thời điểm nhất định theo đơn hàng, nhằm tối ưu hóa chi phí và
cuối cùng là nâng cao hiệu suất. Ngày nay, mô hình sản xuất JIT được áp dụng trong
nhiều ngành hàng từ ô tô tới điện tử và thời trang. Tuy nhiên, mô hình JIT hiệu quả là
nhờ sự vận chuyển liền mạch của linh kiện và vật liệu giữa nhà cung cấp và bên đặt
mua trên toàn thế giới. Điều này đã thay đổi vì chuỗi cung ứng bị gián đoạn vì khâu
logistic và giãn cách xã hội trong vòng một năm qua, bất chấp nhu cầu tăng mạnh đối
với một số ngành hàng như điện tử, ô tô và vật liệu xây dựng.
HSBC dẫn lại số liệu từ HIS Markit cho thấy, ngành logistic trên thế giới đối mặt
với tình trạng thời gian giao hàng đã bị kéo dài, trong khi chi phí đầu vào lại tăng lên
đáng kể trong năm tháng đầu năm nay. Hãng vận chuyển lớn nhất thế giới Maersk đang
chứng kiến xu hướng chuỗi cung ứng dịch chuyển sang mô hình tích trữ khi cần (JIC)
diễn ra trong chính hoạt động của họ. Theo CEO của Maersk được HSBC dẫn lại, các
khách hàng đang dịch chuyển từ trạng thái phụ thuộc vào một nhà cung cấp đơn lẻ sang
nhập hàng từ nhiều nguồn cung khác nhau để tránh ảnh hưởng bị gián đoạn nguồn cung.
Việc thay đổi mô hình tích trữ giúp doanh nghiệp thích ứng với tình trạng gián
đoạn nguồn cung và đứt gãy chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, việc tăng tích trữ ở một số mặt
hàng có thể gây “phản ứng phụ”. HSBC đánh giá “Nhìn về tương lai, sự mất cân bằng
cung cầu có khả năng được điều chỉnh khi các quy định về giãn cách được dỡ bỏ, nhưng
sự thiếu hụt các linh kiện quan trọng có thể sẽ vẫn xảy ra trong một thời gian nhất định
và có thể còn trở nên nghiêm trọng hơn khi các doanh nghiệp dự trữ hàng trong tương
lai gần”.
Có hai lý do quan trọng cho câu chuyện này. Yếu tố đầu tiên là việc tích trữ sản
phẩm cũng tăng sự cạnh tranh có thể xảy ra đối với linh kiện và vật liệu thô vốn đang
trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, khiến giá cả càng đắt đỏ hơn. Thứ hai, nhu cầu
tích trữ một số mặt hàng tăng mạnh đồng nghĩa với việc tích trữ ở một số ngành nghề
khác sẽ giảm mạnh. Điều này hàm ý rằng trong tương lai khi nhu cầu phục hồi trở lại,
doanh nghiệp vẫn sẽ phải ở trong tình trạng cạnh tranh mạnh hơn. Thống kê thực tế
cũng cho thấy tỷ lệ hàng tồn kho trong ngành bán lẻ của Mỹ đang ở mức đặc biệt thấp,
theo HSBC.

Trang 3/3
Bên cạnh đó, việc tích trữ sản phẩm là rất tốn kém đối với doanh nghiệp. Đầu tiên
là chi phí tích trữ, bao gồm chi phí thuê, cơ sở vật chất, dịch vụ kho bãi và bảo hiểm
(thường chiếm khoảng 25% đến 55% tổng giá trị hàng tồn, theo Công ty quản lý hàng
tồn eTurns). Một số ngành hàng như đồ nội thất chẳng hạn, cũng sẽ khó tích trữ hơn
nhiều so với các ngành nghề như linh kiện bán dẫn. Mặt khác, việc tăng hàng tích trữ
có thể dẫn đến tổn thất khi doanh nghiệp dự đoán sai nhu cầu thị trường, cũng như ảnh
hưởng tới thị trường chung trong tương lai khi nguồn cung dư thừa hoặc thiếu hụt quá
mức.
Vì vậy, HSBC cho rằng xu hướng gia tăng tích trữ cao hơn mức bình thường có
khả năng chỉ là tạm thời và diễn ra ở một số ngành nhất định thường xảy ra thiếu hụt
nguồn cung như xây dựng, điện tử và ô tô. “Tích trữ thêm hàng có thể không phải là
chiến lược khả thi đối với doanh nghiệp nhỏ với nguồn vốn hạn hẹp trong bối cảnh đại
dịch này. Mặc dù dịch bệnh đã cho thấy sự mong manh của sản xuất tinh gọn, đây vẫn
chưa phải “cái kết” của sản xuất theo mô hình JIT”, HSBC đánh giá.
Thay thế cho phương án tăng hàng tích trữ, các doanh nghiệp cũng có thể xem xét
phương án đa dạng hóa nhà cung cấp, tìm nguồn cung gần chính quốc (sản xuất cận
quốc gia hoặc nội địa), tự sản xuất linh kiện chính (tích hợp dọc) và áp dụng công nghệ
số để quản lý nguồn cung tốt hơn. “Mặc dù thực hiện những chiến lược này có thể đắt
đỏ, nhưng đó lại là khoản đầu tư có thể thu lời trong tương lai và sẽ đảm bảo các doanh
nghiệp được định vị tốt hơn để đi qua những cú sốc trong tương lai”, HSBC nhận định.
Câu hỏi:
a) Từ kiến thức đã học và thông tin từ tình huống trên, hãy nhận diện và
phân tích các rủi ro đối với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế khi áp dụng
mô hình “Just in time” và “Just in case” (02 điểm).
b) Theo bạn, mô hình nào là ưu việt hơn? Giải thích (02 điểm).
--------------------------------------Hết--------------------------------------
Ghi chú: - Đề thi gồm có 02 câu, 03 trang.
- Tiểu luận dài tối đa 15 trang, với hình thức trình bày cụ thể như sau: Trình
bày trên khổ giấy A4 (210x297mm), font chữ Times New Roman, cỡ chữ 13,
cách dòng 1.5 lines, canh lề trên 2,5cm, canh lề dưới 2,5cm; đối với trang
bên phải: lề phải là 2cm, lề trái là 3,5cm; đối với trang bên trái: lề trái là
2cm, lề phải là 3,5cm.
- Định dạng tên File tiểu luận khi nộp: [TÊN]-[HỌ VÀ TÊN ĐỆM]-[MSSV].
- Dữ liệu cần cập nhật và trích dẫn nguồn thông tin đầy đủ. Lưu ý ưu tiên sử
dụng các nguồn thông tin uy tín và khoa học.
- Nghiêm cấm đạo văn dưới mọi hình thức.

