Dịch tả
Dịch tả là một bệnh nguy hiểm, mức độ lan nhanh và thgây tử vong. Nguy
tvong trẻ nhỏ lớn hơn người lớn. nước ta, bệnh thường xảy ra vào mùa
nóng khô. Đây bệnh cần báo dịch khi phát hiện. Trong những m gần đây,
miền Bắc Việt Nam, nhất là Hải Phòng đã xảy ra các vdịch tả rải rác (2008 -
2009). Trong m 2010, tại thành phHồ Chí Minh phát hiện một số trường hợp
dịch tả, trong đó một gia đình toàn bbị dịch tả, trai 5 tuổi trong gia đình
này đã t vong. Mùa nóng sắp đến, nguy bùng phát dịch tả lại xuất hiện. Vì
vậy, cần hết sức cẩn thận đề phòng, nhất là ở trẻ em.
Tóm tắt
Dịch tả là bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn Vibrio Cholera gây ra.
Bệnh có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Trên thế giới mỗi năm ước tính có 3 đến 5 triệu trường hợp mắc bệnh tả với
100.000 120.000 trường hợp tử vong.
80% trường hợp tả được điều trị thành công chỉ bằng bù nước thích hợp.
Phòng ngừa tả tốt nhất bằng cách ăn chín, uống sạch và giữ vệ sinh.
Khẩu hiệu: “ Nấu chín, uống chín, lột bỏ vỏ hoặc không ăn”.
I/ Định nghĩa Đường lây truyền:
Bệnh tả là bệnh tiêu chảy cấp do nhiễm vi khuẩn Vibrio cholerae. Đây là một phẩy
khuẩn Gram âm thuộc họ Enterobacteriacea, di chuyển nhanh chóng nhờ lông
một cực. Thời gian bệnh ngắn t2 giờ đến 5 ngày tùy slượng vi khuẩn xâm
nhập cơ thể.
Vi khuẩn tđược thải ra theo phân và lây nhiễm vào nguồn nước môi trường
chung quanh, tđó tiếp tục lây nhiễm cho cộng đồng. Vì vậy, bệnh tả hay gây
thành dịch những nơi dân cư đông đúc, thiếu cung cấp nước và v sinh môi
trường kém như các trại tập trung, trại di tản... Tuy nhiên, gần đây ghi nhận thấy
các trường hợp tả đô thị trên các đối tượng chưa từng tiếp xúc với vi khuẩn tả,
không có miễn dịch với vi khuẩn tả nên dnhiễm bệnh.
II/ Dịch tễ:
Trong thế kỷ 19, một trận dịch tả lớn đã lan rộng trên thế giới bắt nguồn tthung
lũng Ganges Ấn Độ. Sáu trận dịch tiếp theo bắt nguồn từ trận dịch này đã giết
chết hàng triệu người trên khắp các lục địa. Các trận dịch lớn gần nhất được ghi
nhận ở Nam Á năm 1961, ở Châu Phi năm 1971 và ở Châu Mỹ năm 1991. Hiện tại
vẫn ghi nhận nhiều trường hợp tả lẻ tẻ ở các nước trên thế giới.
Những trường hợp tả được Tổ Chức Y Tế Thế Giới ghi nhận chiều hướng tăng
lên. Strường hợp tả trong giai đoạn 2004 2008 cao hơn 24% so với số trường
hợp tả trong giai đoạn 2000 2004. Trong năm 2008, có 190.130 trường hợp được
ghi nhận t56 quốc gia với 5143 bệnh nhân tvong. Đây chỉ là mặt nổi của tảng
băng. Số ca tả chưa được báo cáo ước tính cao hơn nhiều do hthống giám sát
chưa chặt chẽ. Ước tính số trường hợp bệnh tả thật sự vào khoảng 3–5 triệu ca mỗi
năm với khoảng 100.000 - 120.000 trường hợp tử vong.
Tại Việt Nam, gần đây, trong m 2008 -2009 ghi nhận một số trường hợp dịch
tHải Phòng. Trong những tháng đầu m 2010, ghi nhận một số trường hợp
dịch tả ở Bến Tre.
III/ Vi khun học
Hai nhóm huyết thanh V. cholerae gây các vdịch tả thường gặp là nhóm O1
nhóm O139. Trước đây, nhóm O1 nguyên nhân chính gây dịch tả. Gần đây,
trong các trận dịch tả tại Nam Á, nguyên nhân gây bệnh ghi nhận là V. cholerae
nhóm huyết thanh O139, được phân lập lần đầu tiên Bangladesh m 1992. Các
nhóm huyết thanh khác chỉ gây tiêu chảy nhẹ và không gây thành dịch lớn.
Hiện tại, một số biến thể khác của vi khuẩn tả đã được phát hiện nhiều vùng
Châu Á Châu Phi. Người ta lo ngại rằng các biến thể này có thgây dịch tả
nặng với tlệ tử vong cao. Vì vậy, người ta luôn theo dõi sát các chủng vi khuẩn
tả đang lưu hành để phát hiện kịp thời các biến thể mới.
Người là nguồn chứa V. cholerae chính trong tnhiên. Các nguồn nước như nước
lnước cửa sông cũng chứa vi khuẩn tả, liên quan đến các loại tảo các
nguồn nước này. Các nghiên cứu gần đây cho thấy snóng lên của khí hậu làm
tảo phát triển nhiều tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn tả phát triển. Vi khuẩn
tả không lây truyền qua xác người chết.
IV/ Triệu chứng
Các triệu chứng xuất hiện sau nhiễm Vibrio cholerae t6 giờ đến 5 ngày, thường
2 3 ngày. Vibrio cholerae độc lực cao, có thgây tử vong cho cả trẻ em và
người lớn nếu không được điều trị thích hợp. Nguy tử vong ở trẻ nhỏ lớn hơn
người lớn.
Tuy nhiên, 75% s người nhiễm V. cholerae không biểu hiện triệu chứng m
sàng, được gọi người lành mang bệnh. Những người này vẫn thải vi khuẩn tả
qua phân trong 7 – 14 ngày, từ đó lây nhiễm cho những người khác.
Trong snhững người nhiễm tả biểu hiện triệu chứng, 80% biệu hiện bệnh
nhhoặc trung bình. 20% còn lại biểu hiện tiêu chảy nặng và mất nước trầm
trọng, có th dẫn đến tử vong. Trong một số trường hợp nặng, tiêu chảy với tốc đ
thải phân rất cao, phân nước xối xả đục như nước vo gạo, lợn cợn vẩy trắng, mùi
tanh đặc trưng. Nhóm nguy bệnh nặng là những nời tình trạng miễn
dịch giảm như suy dinh dưỡng, nhim HIV hoặc những tình trng suy giảm miễn
dịch khác.
V/ Phòng ngừa và kiểm soát
Kiểm soát tả tốt nhất là phòng ngừa không cho dịch xảy ra.
nhiều biện pháp phòng ngừa: Quan trọng nhất là hthống theo dõi sát sao,
kiểm soát kỹ, phát hiện dịch, thông báo dịch nhanh chóng đồng thời kiểm soát
dịch kịp thời tất cả các ng, các nước trên toàn thế giới. Bệnh tả là một trong
các bệnh bắt buộc phải được thông báo ngay cho Tổ Chức Y Tế Thế Giới khi phát
hiện.
Cách phòng ngừa bệnh tả cho từng cá nhân rất đơn giản: ăn chín, uống sạch, giữ
vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh.
Khi dịch tả, cần cách ly người bệnh, điều trị người bệnh người lành mang
trùng nhanh chóng. Xử lý nguồn nước và môi trường nghi ngờ chứa vi trùng tvới
hoá chất thích hợp, cung cấp đủ nước sạch. Điều trị dự phòng cho những đối
tượng có nguy cơ diễn tiến bệnh nặng nếu nhiễm tả.
VI/ Điều trị
Tlà một bệnh nhiễm khuẩn dễ điều trị. Quan trọng nhất là nước: 80% trường
hợp tả được điều trị thành công chbằng nước thích hp bằng dung dịch ORS
uống (WHO/UNICEF). Rất ít trường hợp cần bù nước bằng truyền dịch. Điều
quan trọng là phải bù nước nhanh chóng, kịp thời.