LUẬN VĂN:
Định hướng phát triển xuất - nhập
khẩu thời kỳ 2001-2010 7
Lời nói đầu
Hướng về xuất khẩu trên sđó đề ra những mục tiêu cho nhập khẩu
một trong những chiến lược được nhà nước ta đặc biệt quan m trong những m
gần đây. Điều y không chỉ do tầm quan trọng của xuất khẩu xuất phát từ tình
hình phát triển kinh tế của nước ta hiện nay. Hướng về xuất khẩu giúp cho chúng ta
phát triển nhanh vkinh tế và khắc phục được những khó khăn chúng ta đang gặp
phải: thiếu công ăn việc m, nghèn nàn về ngoại tệ, trình độ khoa học kỹ thuật thấp
kém và đặc biệt quan trọng là sự mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Do vậy, việc đề ra chiến lược xuất nhập khẩu hoàn toàn cần thiết. Trong
phạm vi bài viết này, chúng em sẽ đề cập đến những thông tin khát quát nhất về tình
hình xuất nhập khẩu của nước ta trong những năm vừa qua, đồng thời đưa ra những
chiến lược quan trọng cho kế hoạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2001-2010 đã được
Đảng và Nước ta thông qua.
Chương I
Đánh giá tổng quát hoạt động xuất - nhập khẩu thời kỳ 1991-2000
I. Những thành tựu đã đạt được
Nhìn chung, trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất - nhập khẩu của nước ta đã đạt đư-
ợc nhiều thành tựu to lớn. Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt khoảng 13, 5 tỷ
USD, gấp 5, 6 lần kim ngạch xuất khẩu năm 1990 2, 4 tỷ USD. Nhịp độ tăng trư-
ởng bình quân trong giai đoạn 1991-2000 18, 4%/năm, nhanh n tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân cùng kỳ (7, 6%/năm) khoảng 2, 6 lần.
cấu xuất khẩu đã được cải thiện theo hướng "tăng các mặt hàng chế biến,
giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàngkhối lượng lớn và thị trường
tương đối ổn định". Tỷ trọng sản phẩm chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu đã tăng
từ 8% năm 1991 lên khoảng 40% vào m 2000. Nếu như trong năm 1991, chúng ta
mới 4 mặt hàng đạt gtrị xuất khẩu trên 100 triệu USD dầu thô, thủy sản, gạo
và hàng dệt may thì nay đã có thêm 8 mặt hàng nữa phê, cao su, điều, giày dép,
than đá, điện tử, thủ công mỹ nghệ và rau quả. Về một số mặt hàng, nước ta đã chiếm
vị trí cao về gtrị xuất khẩu, mhư xuất khẩu gạo phê đứng hàng thứ hai trên
thế giới, hạt tiêu và hạt điều đứng thứ ba.
Về nhập khẩu, 95% kim ngạch nhập khẩu liệu sản xuất, trong đó 26-27%
máy móc thiết bị, 68% nguyên nhiên vật liệu. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng
5% so với năm 1990 15%. Nhập siêu giảm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tương đối:
năm 1996, chúng ta còn nhập siêu gần 4 tỷ USD, tới năm 1999 chỉ còn khoảng 0, 2 tỷ
USD. Tỷ trọng nhập siêu so với xuất khẩu đã giảm từ 33% trong k 1991-1995
xuống còn 18% trong kỳ 1996-2000.
Một thành tựu nổi bật chúng ta đã vượt qua được sự khủng hoảng thị trường
vào đầu những m 90 khi chế độ XHCN Liên Đông Âu bị sụp đổ, đã đẩy
lùi được chính sách bao vây, cấm vận về cơ bản thực hiện được chủ trương "đa
dạng hóa thị trường đa phương hóa quan hệ kinh tế... tích cực thâm nhập, tạo chỗ
đứng các thị trường mới, phát triển các quan hệ mới”. Ngày nay, nước ta quan
hệ thương mại với trên 160 nước vùng lãnh thổ trong đó đã ký Hiệp định Thương
mại với 61 nước. Chủ trương "gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác
khi cần thiết điều kiện” đã được thực hiện bằng việc gia nhập ASEAN m
1995, ASEM năm 1996, APEC năm 1998 trở thành quan sát viên WTO năm
1995.
chế quản đã được thay đổi đáng kể theo hướng mở rộng quyền kinh
doanh xuất nhập khẩu, giảm dần hàng rào phi thuế, hạn chế cơ chế "xin- cho”, giảm
bớt sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và nâng
cao vai trò của các công cụ như thuế, i suất, tỷ giá. Chính phủ cũng đã dành
sự quan tâm đặc biệt cho hoạt động xuất khẩu thông qua các chương trình hỗ trợ như
trợ cấp, trợ giá, lập Quỹ Hỗ trợ, Quỹ thưởng... Hành lang pháp từng bước được
hoàn thiện, đặc biệt chúng ta đã thông qua được Luật Thương mại.
Những thành tựu trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Công cuộc đổi mới đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cấu sản xuất
chuyển dịch dần, từ đó thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu.
- Xuất khẩu được đặt thành một nhiệm vụ trọng tâm. Các cơ chế chính sách
ngày càng phù hợp, thông thoáng, đã tạo thuận lợi cho các ngành sản xuất, các địa
phương và các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.
- Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, từng bước
hội nhập vào nền kinh tế khu vực thế giới đã góp phần đẩy i chính sách bao vây
cấm vận giúp cho việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu. Đầu tư nước ngoài
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong kinh doanh xuất nhập khẩu (từ 4% năm 1994 lên
22, 3% năm 1999, nếu kể cả dầu khí thì lên tới 35%).
II. Những vấn đề tồn tại
Hiện nay, quy xuất khẩu của Việt Nam còn quá nhỏ so với các nước khác
trong khu vực. Giá trị xuất khẩu bình quân nh theo đầu người của Việt Nam vào
khoảng 175 USD trong m 2000, trong khi Malaysia vào m 1996 đã đạt mức
3700 USD, Thái Lan 933 USD Philippin 285 USD. Riêng Trung Quốc, kim
ngạch xuất khẩu năm 1999 đạt 195 tỷ USD, mức bình quân đầu người đạt khoảng
163 USD.
Việc chuyển dịch cấu sản xuất, cơ cấu ngành hàng của Việt Nam hiện nay
còn chưa m sát với những dấu hiệu của thị trường thế giới, nên nhiều sản phẩm
làm ra không khả năng tiêu thụ. Khả ng cạnh tranh của nhiều hàng hóa còn thấp
do giá thành cao, chất ợng còn kém, mẫu chưa phù hợp với nhu cầu thị trường.
Tỷ trọng hàng thô sơ chế trong cấu xuất khẩu còn kcao. Trong số sản phẩm
chế biến, hàng gia công còn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ trọng sản phẩm m lượng
công nghệ và trí tuệ cao còn rất nhỏ. Xuất khẩu dịch vụ còn thấp xa so với tiềm năng.
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam rất ít sự hiểu biết về thị
trường bên ngoài, trong khi nhà nước lại chưa thể cung cấp được thông tin đầy đủ
cho các doanh nghiệp. vậy, hoạt động xuất khẩu hiện nay rất thụ động, chủ yếu do
khách hàng ttìm đến. Đối với một số thị trường, hàng xuất khẩu vẫn còn phải qua
trung gian. Nhiều doanh nghiệp còn trông chvào sự bảo hộ của Nhà nước Nhà
nước cũng chưa đưa ra được lộ trình giảm dần sự bảo hộ.
Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không ít lúng túng. Công tác
quản nhà nước về thương mại tuy đã nhiều sự cải tiến nhưng nhìn chung còn
khá thụ động. Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa hình thành được chiến lược tổng thể,
chưa lộ trình giảm thuế và hàng rào phi quan thuế dài hạn. Sự phối hợp giữa các
Bộ, ngành địa phương tuy đã có chuyển biếnch cực nhưng nhìn chung chưa tạo đư-
ợc sức mạnh tổng hợp. Chúng ta đang gặp phải tình trạng thiếu nghiêm trọng cán bộ
quản lý có trình độ.
Những tồn tại trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Trình độ phát triển kinh tế của ớc ta còn thấp, cấu kinh tế nói chung còn
lạc hậu, từ năm 1997 lại chịu tác động không ít của cuộc khủng hoảng trong khu vực.