
Đóng góp của vốn xã hội vào sự cải tiến của
doanh nghiệp
Sự cải tiến là điều kiện cần thiết và quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao
lợi thế canh tranh và phát triển bền vững. Theo Schrumpter (Xem Rogers
1998:6) có năm loại cải tiến, bao gồm cải tiến sản phẩm mới hoặc thay đổi
sản phẩm cũ; phương pháp sản xuất mới; mở cửa thị trường mới; nguồn lực
đầu vào mới; đổi mới tổ chức. Gần đây Porter and Stern (1999:12) đưa ra
khái niệm cải tiến “Sự cải tiến – là phép biến đổi trí thức trong sản phẩm
mới, quy trình mới, và dịch vụ mới - chứa đựng nhiều hàm lượng công nghệ
và khoa học hơn để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng”. Milé
Terziovski, Professor Danny Samson and Linda Glassop (2001) kế thừa tư
tưởng của Joseph Schrumpter, Roger (1998) và Porter, Stern (1999) đã tổng
kết sự cải tiến biểu hiện trên bốn phương diện: cải tiến đầu vào (Input
Innovation), cải tiến quy trình (Process Innovation), cải tiến sản phẩm mới
(New product innovation), cải tiến chiến lược (Strategy Innovation).
Sự cải tiến doanh nghiệp cần có nguồn lực đầu vào, chúng bao gồm không
chỉ các loại vốn hữu hình (vốn vật thể, vốn tài chính...), mà còn bởi những
loại vốn vô hình, đặt biệt là vốn xã hội. Vốn xã hội của doanh được đặc
trưng bởi sự tín cẩn (trust), sự có đi có lại hay sự hỗ tương (reciprocity), quy
tắc (norms) và mạng lưới xã hội (networks) (Dasgupta và Serageldin, 2000;
Fountain, 1998; Lesser, 2000; Putnam, 1995). Dưới gốc độ doanh nghiệp
vốn xã hội được biểu hiện dưới các hình thức tài sản mạng lưới (mạng lưới
kinh doanh, mạng lưới thông tin, mạng lưới nghiên cứu), tài sản tham gia
(thể hiện mức độ chặt chẽ của doanh nghiệp tham gia vào các hiệp hội ngành

nghề, các hội thảo, triển lãm), tài sản quan hệ (thể hiện phạm vi và chất
lượng các mối quan hệ của doanh nghiệp với các nhà cung cấp, khách hàng,
viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan quản lý kinh tế...), tài sản thị
trường (thể hiện khả năng bán sản phẩm của doanh nghiệp, thị phần doanh
nghiệp), tài sản tín cẩn ( thể hiện lòng tin của các chủ thể liên quan đối với
doanh nghiệp, như sự tín cẩn của nhà cung cấp, khách hàng, các đơn vị quản
lý ngành, trường đại học...) và sức ép cạnh tranh (Năm áp lực cạnh tranh của
Porter, 2000).
Vốn xã hội cung cấp nguồn động lực cho sự cải tiến của doanh nghiệp. Đóng
góp của vốn xã hội trong tiến trình cải tiến là cắt giảm chi phí giao dịch giữa
các doanh nghiệp làm ăn với nhau và giữa doanh nghiệp với các chủ thể
khác trong nền kinh tế, đáng kể nhất là chi phí thông tin, sự mặt cả, quyết
định chi phí, chi phí thủ tục hành chính (Maskell, 1999). Vì vậy, nếu doanh
nghiệp có hàm lượng vốn xã hội lớn sẽ nâng cao sức cạnh trạnh, mở rộng
qui mô sản xuất. Vốn xã hội sẽ giúp giảm những hành động phi pháp, thông
tin chính xác tạo ra sự tình nguyện gia nhập các hiệp hội, hỗ trợ thông tin
trong cộng động doanh nghiệp. Dưới đây là một số phương diện đóng góp
của vốn xã hội cho quá trình cải tiến doanh nghiệp.
Thứ nhất: Vốn xã hội là nguồn động lực cho sự cải tiến của doanh
nghiệp:
Động lực của sự cải tiến thường xuất phát từ những bức xúc từ bên trong
cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Sự bức xúc phát sinh từ mối tương quan
của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh về
thị trường, công nghệ và lao động. Để kịp thời phát hiện những bức xúc này
đòi hỏi doanh nghiệp phải có mạng lưới kinh doanh, mạng lưới thông tin và

mạng lưới nghiên cứu công nghệ, chúng được gọi chung là tài sản mạng lưới
- một hình thức biểu hiện của vốn xã hội.
Thứ hai: Đóng góp của vốn xã hội vào cải tiến đầu vào ( Input
Innovation)
Cải tiến đầu vào là hành vi của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và cung
cấp nguồn lực mới cùng với những kiến thức mới cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Cải tiến đầu vào được đo lường trước hết bởi
khả năng thăm do và tận dụng công nghệ đã được phát triển bởi những tổ
chức khác; thứ hai là chuỗi hợp tác của doanh nghiệp trong việc cung ứng
các nguyên liệu đầu vào; thứ ba là sự đầu tư của doanh nghiệp trong vấn đề
thông tin kinh doanh (hay còn gọi là tình báo kinh doanh của doanh
nghiệp).
Những chỉ tiêu đo lường mức độ cải tiến đầu vào thể hiện tài sản mạng lưới
và tài sản tham gia và tải sản tín cẩn (gọi chung là vốn xã hội).Về tài sản
mạng lưới và tham gia, nếu doanh nghiệp có mạng lưới xã hội tốt và tham
gia nhiều hội thảo cung ứng nguyên liệu, doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội
lựa chọn và sàn lọc từ nhiều nhà cung cấp, qua đó doanh nghiệp có thể lựa
chọn nhà cung ứng tốt nhất. Về tài sản tín cấn, nhờ vào sự tín cẩn với các
nhà cung cấp mà doanh nghiệp gặp thuận lợi trong việc xoay sở khi gặp sự
cố thiếu hụt nguyên liệu, hay nhờ vào sự tín cẩn mà nhà cung cấp muốn hợp
tác lâu dài nên cung ứng đầu vào với chất lượng tốt, chi phí phù hợp.
Thứ ba: Đóng góp của vốn xã hội vào cải tiến quy trình ( Process
Innovation)

Cải tiến quy trình sản xuất là khả năng liên tục cải tiến của doanh nghiệp,
bao gồm cải tiến cấu trúc, quy trình, con người và văn hóa của doanh
nghiệp. Vốn xã hội đóng góp trong tiến trình này trước hết là tài sản quan hệ
bên trong giữa các lao động trong doanh nghiệp (chiều dọc lẫn chiều ngang)
trong việc hợp tác để hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp. Mối quan
hệ bên ngoài cũng góp phần không nhỏ vào sự cải tiến của doanh nghiệp,
chặng hạn như ý tưởng cải tiến xuất phát từ thông tin cải tiến của các tổ chức
khác thông qua sự hiểu biết của nhân viên trong doanh nghiệp có mối quan
hệ tốt với cá nhân hoặc các tổ chức khác. Thư hai là sự tín cẩn lẫn nhau giữa
các cá nhân lao động sẽ là động lực để doanh nghiệp hoàn thành tốt chỉ tiêu
kế hoạch. Một tổ chức hoạt động không hiệu quả nếu những con người trong
tổ chức thiếu sự tín cẩn và đề phòng nhau. Vốn xã hội sẽ giúp rút ngắn thời
gian hoàn thành công việc trong quy trình và đảm bảo chất lượng của hàng
hóa và dịch vụ.

