DU LỊCH VỀ MIỀN TRUNG QUA NHỮNG VẦN CA DAO
Lê Tiến Dũng(*)
TOURISM IN THE CENTRAL OF VIETNAM VIA VIETNAMESE FOLK-SONGS
Abstract
Globalization and Localization in tourism has been a proper, in-depth orientation.
This article has just been named "Localisation in Central Tourism" based on statistics of
three central provinces of Quang Binh, Thua Thien Hue, and Quang Nam.
Coming to Central areas of Vietnam, famous for «shiny sand dunes», tourists have
got a strangely wishful thinking when travelling to numerous beautiful landscapes: Đèo
Ngang (Horizontal Gap), Ba Đn one of Quang Binh towns, Ly Thầy (Đào Duy Từ
rampart), Nuis Ng (Mount Ng Bình), sông Hương (Hương River), Cu Ngói Thanh Toàn
(Thanh Toàn Tile-Roofed Bridge), cu Tràng Tin (Trang Tien Bridge), Kim Long, Núi Hi
Vân (Hi Vân Mountain Pass), Hi An (Hoi An Ancient Town), Hòn Kẽm Đá Dừng (Hòn
Kẽm Đá Dừng landscape), Tam K (Tam Ky City). However, many other landscapes have not
been explored: Phong Nha Cave, Quang Binh quan (upgraded Dong Hoi Citadel), Non
Temple Mount Thần Đinh, phá Hạc Hi (Hc Hải Lagoon), rào Sen (Lotus fence), Điện
Hòn Chén (Hn Chén Sanctuary), Thien Mu Pagoda, Núi Ng Hành Sơn (Marble
Mountains), sông Tho Bn (Thu Bồn River),etc. Every places have been kept in the tourists
mind about the land and people there. The people has been caring, hardworking, forthright,
frank, loyal and heroic.
*
1. Toàn cu hóa Du lịch Địa phương hóa du lịch mt ch trương đúng, tầm
nh sâu, rng. Trong bài viết này chúng tôi ch i “địa phương hóa miền Trung” trên s
kho sát ba tnh min Trung: Qung Bình (QB), Tha Thiên Huế (TTH) Qung Nam
(QN).Trung Vit Nam còn gi Trung B, nm phn gia lãnh th mt trong ba
vùng chính (gm Bc B, Trung B Nam B) ca Vit Nam. Lch s Trung B được gi
bằng các tên khác nhau nTrung K (thi thuc Pháp), An Nam (theo cách người Pháp gi).
V min Trung du lch là v vi miền đói nghèo. Có một câu ca dao mà khi đọc lên có
l khó quên được câu hát chua cay cho một vùng đất:
Quảng Bình là đất Ô Châu
Ai đi đến đó quảy bu v không
Câu ca dao mt li nhc v cái đói nghèo của c tnh Qung Bình. Tnh Qung Bình
nghèo lm. Qung Bình (các tên gọi khu vực này gm: Lâm Bình, Tiên Bình, Tây Bình,
Tân Bình) là mt tnh duyên hi thuc vùng Bc Trung B Vit Nam. Qung Bình nm nơi
hp nht theo chiều Đông-Tây ca dải đất hình ch S ca Vit Nam. Tnh này giáp Tĩnh
v phía bc vi y Hoành Sơn ranh gii t nhiên; giáp Qung Tr v phía nam; giáp Bin
Đông v phía đông; phía tây là tnh Khăm Muộn và tây nam là tnh Savannakhet ca Lào vi
dãy Trường Sơn là biên gii t nhiên.
2. Nhưng v min Trung còn v vi x s ca nhng danh thắng. Đến vi min
Trung ta đến vi x mộng mơ, đến vi mảnh đất xinh đẹp. Mãnh đất đẹp ta «tranh ha
(*) PGS.TS., Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
đồ». Đó nhng câu ca dao nói v đoạn đường gian khổ, khó khăn, khi t Bc vào Nam.
Ngày nay, phá Tam Giang đưc bồi đắp dn dn tr thành nhng mảnh đất màu m cho
con người canh tác. Còn Truông nhà H đã quan tán “cấm nghiêm”:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Thương em anh cng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang
Và đây là hình ảnh của :
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm
Đường Nam đã được khơi thông. Người đọc không khỏi hồi hộp với một vùng
đất đẹp như một bức tranh.
3. Du lch v min Trung là v quê hương có điệu hát, li ru quê m thm biết bao ân
tình. Trên đường thiên lý ta nhặt được biết câu câu ca nặng bao nghĩa tình. Trong đó câu
hát v Đèo Ngang, ví Đèo Ngang như một người gánh nng:
Đèo Ngang nặng gánh hai vai,
Một vai Hà Tĩnh, một vai Qung Bình
Tĩnh (HT) đây là một tỉnh địa gii giáp vi QB phía Nam chính Đèo
Ngang. Người HT và người QB có mt câu hát khác, thấm đượm tình nghĩa thủy chung:
Trèo đèo hai mái chân vân
Lòng v Hà Tĩnh, dạ ái ân Qung Bình.
4. Trên con đường vào Nam người ta gp con sông lớn đầu tiên con Gianh. Đây
con sông mang nỗi đau chia ct ca mt thời. Cho n đến QB không ai không nh câu ca
dao:
Ly Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu
Lũy Thầy tức y Trường Dc hiện đang còn Đồng Hới, QB. Lũy này do Đào
Duy T quân cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên xây nên t 1630 vi chiến lược “phàm
mưu đồ vương bá, cốt yếu phi tìm cách vẹn toàn” (Văn bia Cầu Dài).
Năm 1627, chúa Nguyn Phúc Nguyên đã gặp trng dng Đào Duy Từ, một người
hc rng tài cao quê Thanh Hóa. Nguyn Phúc Nguyên gọi Đào Duy T thy để t lòng
kính trọng. Năm Canh Ngọ 1630, ông ch ng vic thiết kế ch đạo xây dng hai công
trình phòng th quan trọng Lũy Trường Dc huyn Phong Lc, tnh Qung Bình (1630)
và Lũy Thầy t ca sông Nht L đến núi Đâu Mâu (Đồng Hi, tnh Qung Bình).
5. Đi từ Bc vào Nam, th trn ta gặp đầu tiên là th trấn Ba Đồn.Va qua th trn Ba
Đồn được chính ph nâng lên thành th (ngh quyết 125/NQ-CP ngày 20-12-2013 của
Chính ph). Th xã nm sát b sông Gianh lch sử. Đây huyện l ca huyn Qung Trch,
tỉnh QB. Nơi đây có chợ Ba Đồn ni tiếng. Ch m đều các ngày. Mi tháng ba ngày ch
phiên. Đó các ngày mồng sáu, mười sáu hai mươi sáu âm lịch. Đây nhng phiên ch
đông vui, sầm ut, nhn nhp k bán, người mua. Dân gian xưa đã có câu:
Ba Đồn là chợ xưa nay
Tụ nhân, tụ hóa mười ngày một phiên
Ba Đồn tên gọi của ba cái đồn do quân Trịnh lập ra phía bắc sông Gianh. Ban
đầu chợ nơi để quân lính các đồn gặp gỡ, vui chơi, trao đổi. Dần dần thân nhân của nhiều
binh lính cũng lặn lội vượt núi, băng đèo tìm đến. Ca dao xưa có những bài thật cảm động :
Chợ Đồn bán đắt cau khô
Một đoàn con gái chạy vô thăm chồng.
Gặp trộ mưa dông
Đường trơn gánh nặng
Mặt trời đã lặn
Đèo Ngang chưa trèo
Kháp (gặp) hn đá cheo leo
Chân trèo, chân trượt
Hỏi o (cô) gánh nước
Hỏi chú chăn trâu
Ba Đồn quân lính đóng đâu ?
Chợ Ba Đồn lúc dầu đóng dưới cây cổ thụ cao hàng chục mét, tán lá rộng. y giờ
2 khu phố. Về sau, chợ dời về sát mạn bờ sông, trên một cồn đất nổi, dưới miếu Ông,
kéo dài đến khu lâm sản bãi tràn của xưởng mộc. Đến thời kỳ Pháp thuộc, chợ đã hình
thành phố của người Nam, của người Khách (Tàu). Cho nên ở đây dân đã có câu hát:
Phố phường Nam, Khách hai bên
Phiên đông cng dến mấy nghìn người ta
Vào khoảng những năm 1938 – 1940 năm đình lớn được xây dựng ở chợ Ba Đồn, mỗi
đình rộng từ 20-25 m, dài từ 60 – 80 m.
Ngày nay chợ Ba Đồn vẫn tấp người bán, kmua như xưa. Khách du lịch ghé thăm
chợ, mua những thứ đặc sản của Ba Đồn nổi tiếng cả nước như cau khô, nón lá, bánh tráng,
mắm ruốc, lâm sản…
6. Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, miền Trung trước đây còn kinh đô
của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một
di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có ca dao.
Đi mô cng nhớ quê mình
Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh"
Huế là mt thành ph đẹp. Cái đẹp ca Huế không ch vì có thành quách, lâu đài, lăng
tẩm, cung điện… cái đẹp ca s i hoà cao độ gia nhân to cnh sc thiên nhiên.
Nh s hài hoà y, Huế phong cách riêng ca mt thành ph Á đông, mt thành ph Vit
Nam. Góp nên những đường nét rt riêng y cho Huế phn ca núi Ng sông Hương.
Tổng giam đốc UNESCO đã từng cho rằng Huế một bài thơ đô th tuyệt tác(Báo Nhân
dân ngày 27/11/1981).
Sông Hương đẹp t ngun ti bin. Nó uốnn quanh co gia núi rng t Thác Th
cho ti bến Tun, mang theo bao hương vị ca tho mc rng nhiệt đới, ri to hương cho
những xom làng, vườn tược đi qua như Kim Long , Nguyệt Biu, cn Hến, Dạ,
Đông Ba, Gia Hội, ch Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh… Sông Hương càng đẹp mt cách dim l
bi nhng chiếc cu bắc qua và soi mình trong dòng nước trong xanh thướt tha. Và ri nhng
áo trăng, những chiếc nón bài thơ hc trò dp dn những cánh bướm bên b sông hay trên
cầu Trường Tin, cu Phú Xuân càng tôn v đẹp mộng mơ của dòng sông
Trường Tin biết my là yêu
Tuổi thơ áo trắng, sm chiều bướm bay…
(T Hu)
7. Ghé Huế,ta hãy ghé cu Trường Tin. T khi xây đến nay cầu đã hơn trăm tuổi.
biết bao câu hát v cây cu đã âm vang. Huế cũng những câu ca dao mang phong cách
riêng của mình, không thể lầm lẫn xuất xứ, như lời ca dao nói về cầu Tràng Tiền:
Cầu Tràng Tiền 6 vài, 12 nhịp
Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi !
Nghĩa tào khang ai mà vội dứt
Đêm nằm tâm tức, lụy nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa
Cng bởi ông trời mà xạ
8. Ca dao Huế còn có ý nghĩa gợi nhớ công lao của bậc tiền nhân, hay, ta thán về nhân
tình thế thái. Huế ngày nay được xem một bảo tàng lộ thiên với điện ngọc, đền vàng, lăng
tẩm. Đó chính di sản văn hoá vật chất về di tích cố đô, di sản văn hoá của cung đình
Việt Nam. Những tố chất đó nguồn cảm hứng cho con người. Bởi thế, ca dao xHuế
không chỉ ngợi ca về thiên nhiên, nói vnhân tình thế thái, còn tìm thấy được hình ảnh
của kiến trúc cố đô Huế trong ca dao.
Ngọ Môn năm cửa, chín lầu
Cột Cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng
Chính những điệu hò, những câu ca dao nặng tình yêu thương quê hương đất nước, đã
thấm đẫm vào con người Huế từ thuở ấu thơ. Huế một miền đất một cảnh quan thơ
mộng, xinh đẹp, từ đời sống thiên nhiên đó, ca dao đã được hình thành. Cứ mỗi địa danh,
gần như một câu ca dao. nhiều nhà thơ, nhà nho, cũng đã làm cho nền ca dao phong
phú lên. Chẳng hạn Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã sáng những câu mái nhì, những u ca
dao. Những câu ca dao của ông đã di tâm khảm bao nhiêu thế hệ. Chẳng hạn như câu mái
nhì rất nổi tiếng của ông, thấm đẫm một tấm lòng vói nước non:
Chiều chiều, trước Bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lng nước non
9. Tương truyền vào khoảng đầu năm 1916, Trần Cao Vân thường đến ngồi câu
Phú Văn u để chờ gặp vua Duy Tân. Bên kia sông, con thuyền thấp thoáng để chờ đón
vua rời khỏi kinh thành, ra đi khởi nghĩa. Không ngờ, âm mưu bại lộ, vua Duy Tân bị bắt
bị lưu đày. Ngày nay, lời ru cảm thán về vận nước vẫn còn in đậm trong lòng người dân Huế.
Ca dao còn là nơi gửi gắm nỗi lòng uẩn ức trước những hà khắc của chế độ phong kiến.
Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân"
Vạn Niên một kiến trúc cầu k nằm trong Lăng Tự Đức. Ngày nay, Lăng Tự Đức trở
thành một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn. Lăng như một bức tranh
sơn thủy hữu tình, gợi cho du khách một hồn êm thơ mộng.
10. Cách thành phố Huế 7 km, cầu ngói Thanh Toàn. Cầu được phỏng theo cầu
Nhật Hội An. đây, ca dao không chỉ nói đến một địa danh, còn ghi nhớ đến một tấm
lòng hào hiệp của con người.
Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui
Qua ca dao, không những làm ta liên tưởng đến lịch sử, thắng tích của Huế, mà còn
biết đến những địa danh với những đặc sản riêng của từng vùng.
Ru em cho thét, cho muồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triệu Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân, nhưng nhiều câu rất nên thơ, ý nghĩa
đậm đà, dễ xúc cảm người nghe, nên được nhiều người yêu thích và sưu tầm. Cụ Ưng Luận là
một trong những con người đó. Ca dao đã truyền tải được nhiều đền đài, thắng tích, kể cả
cuộc sống của vua chúa, như ca dao xứ Huế. Đọc ca dao xứ Huế, chúng ta sẽ thấy cả Ngọ
Môn, Cột Cờ, Văn Thánh, Thánh. Biết được Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đào Duy
Từ… Cụ Ưng Luận là một người rất từng trãi ở Huế. Là nhà giáo lâu năm, nhà hoạt động văn
hoá. Có lẽ, nhờ những đặc điểm đó cụ đã gom góp lại được cái kho tàng trí tuệ y. Ca
dao xHuế do cụ biên tập bình giảng, đã giúp cho người dân xứ Huế, nhìn lại mình một
cách kỹ hơn, soát xét lại kho tàng trí tuệ của cha ông. Huế từng kinh đô của nước Việt
trong thời gian dài, nên đã quy tụ nhiều danh nhân khắp các địa phương. Bởi thế, ca dao
câu xuất phát từ Huế, nhưng cũng có câu từ nơi khác đến.
11. Ai đi qua Quảng Nam bỗng nghe trong tâm thức một câu hát nói về miền đất
này. Một câu hát sâu nặng nghĩa tình, nghe như một câu tổng kết cho cảnh và người của miền
đất “trung dũng, kiên cường”:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo.
Câu trên còn rt nhiu d bản. Sinh viên Đại học phạm Huế đã sưu tầm trên
i d bn khác nhau. Sau đây chi nêu lên một vài câu tiêu biu:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say
Ði với ai ơn trọng, nghĩa dày
Mt hột cơm cng nhớ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên.