
Flaubert - người mở
đường của tiểu thuyết Pháp
thếkỷXX
Quay trởlại với tiểu thuyếtBà Bovary, ta thấy tương ứng một cách tổng thể
với những đứt gãy ngầm trên bềmặt văn bản, trong tiểu thuyếtBà Bovary còn
có một cách thức tổchức sựkiện hoàn toàn mới mẻso với các nhà vănđường
thời. Đọc xong câu chuyện với rất nhiều chi tiết dường như đầy kịch tính và
lãng mạn (hai lần ngoại tình, uống thạch tín tựvẫn), ta lại thấy cứnhưlà không
có gì cả đáng theo dõi cả.Điều này ngược với nhiều nhà vănưa thích khai
thác những quá trình biến chuyển tâm lý trước sựkiện (L.Tolstoi), những
ngưỡng phát triển (Dostoievski hay Stendhal) nhằm tạo kịch tính căng thẳng
trong lời kể. Trong sáng tác của Stendhal chẳng hạn, cái chết nhưmột hệquả
của hành động chỉ được dành một trường độ ngắn ngủi. Điều mà nhà văn
quan tâm là suy tưcủa nhân vật trước khi hành động. Tolstoi cũng thếkhi
viếtBản giao hưởng Kreutzer. Ông không quan tâm tới kết thúc mà là trạng
thái tâm trạng của nhân vật trước khi hành động đối với người vợ, còn kết quả
của sựviệc thì đã được thông báo ngay từ đầu. Cốt truyện, dù có lỏng đi nhiều
vì ngườiđọc biết trước kết thúc, vẫn có một vai trò quan trọng vì nó liên kết các

sựkiện lại theo nguyên tắc nhân quảchặt chẽ. Trái lại, Flaubert trong Bà
Bovary không quan tâm tới tất cảnhững cái đó, mặc dù cái vẻbềngoài vẫn
rất cổ điển.
Phần Một của tác phẩm có ba sựkiện chính liên quan đến sốphận
Emma Bovary: lễcưới (chương IV), vũhội tại Vaubyessard (chương VII), và
việc rời khỏi Toste đi Tu viện-Yonville. Với những sựkiện-nhịp mạnh có tầm
quan trọng nhưvậy, vềnguyên tắc thì bao giờnhà văn cũng cốgắng miêu tả
chi tiết những gì sẽxảy ra trướcđó, chậm rãi kểnhưmột cách thu hút sựchú ý
của ngườiđọc, chuẩn bịdồn nén kịch tính. Các nhà tâm lý gọi là quy tắcđắp
đập tâm lý[8]. Nhưng Flaubert chỉdành khoảng một trang miêu tảsựchờ đợi
trong vòng một trang đối với lễcưới của hai người. Trong trường hợp chi tiết
vũhội cũng vậy. Nhà văn chỉthông báo ngắn gọn bằng một câu:
Nhưng vào khoảng cuối tháng chín, có chuyện bất thường xảy ra trong
cuộcđời cô; cô được mờiđến(fut invitée)Vaubyessard, nhà hầu tước
d'Andervillier. (tr.79)
Có một sựtương ứng trong cách thểhiện bằng ngôn từtrên bềmặt văn
bản tiếng Pháp, đó là sựphối hợp các thì động từ. Từchương VII cho tới
chương XII kểvềcuộc sống của Emma ởToste với một nhịpđiệu lặp lại, tuần
hoàn đơnđiệu, nhà văn sửdụng với một sốlượng ưu thếcác động từ ở thời
imparfait. Thờiđộng từnày thường dùng để miêu tả đã tạo ra một mặt bằng
hiện tại giả, một khoảng lặng, một sựlặpđi lặp lại của các hành động. Thếrồi
đột nhiên xuất hiệnởcâu vănđược trích trên kia mộtđộng từ ở thời passé
simple - diễn tảcái gì đó chỉxảy ra một lần. Nhưng sau đó những động từ ở
thời imparfait trởlại tràn ngập các đoạn kể. Sựkiệnđó dường nhưkhông đủ
sức khuấyđộng ngay lập tức tâm trạng của Emma Bovary. Nhưthếlà có tới
năm chương còn lại kểvềtâm trạng Emma sau sựkiện này. Không hềcó các
trường đoạn miêu tảtâm trạng chờ đợi của nhân vật trước sựkiệnđó. Nhiều
sựkiện khác trong tác phẩmđềuđược xửlý theo cách tương tựnhưtrên.
Quyếtđịnh ra đi của Léon trong Phần Hai chỉ được kểlại một cách ngắn gọn

trong vòng một trang, dù trong thực tếanh ta suy nghĩtrong cảtháng với ý định
đợi Emma can ngăn. Ngay cảsựkiệnđược coi là lớn nhất trong cuộcđời
Emma Bovary là gặp gỡvới Rodolphe cũng được kểlại một cách khá đột ngột.
Ngườiđọc không rõ Rodolphe và Emma Bovary đã gặp nhau và hẹn nhau đi
chơi hội chợkhi nào. Chỉbiết rằng sau buổi gặp gỡbất ngờkhi Rodolphe tới
nhà Emma Bovary để cho tên ngườiởtrích huyết với vài câu trao đổi ngắn
ngủi mang tính xã giao (chương VII Phần Hai), ngay trong chương sau (VIII) cả
hai đã cùng nhau đi dạoởhội chợ. Cảmột khoảng thời gian có sựbiến chuyển
tâm lý bịbỏtrống, không một lời thuyết minh hay kểlại. Buổi hẹnhòđi dạo
bằng ngựa dẫn tới sựngoại tình của Emma Bovary là kết quảtất yếu của cả
một quá trình vậnđộng tâm lý cũng bịnhà văn cốtình xoá trắng. Chi tiết Emma
Bovary uống thạch tín tựvẫnởPhần Ba cũng tương tự. Ngay khi trởvềtừnhà
Rodolphe, Emma Bovary đột nhiên đi tới nhà Homais và đòi Justin đưa cho
mình chìa khoá của căn buồng hoá liệu mà Homais rất gìn giữ. Không có gì
mách bảo cho ngườiđọc biếtđiều xảy ra trong con người này trước khi đi tới
quyếtđịnh khủng khiếp. Bản thân người kểcũng không cho biết chi tiết. Nhân
vật và cảchính ngườiđọc không cảm nhậnđược kịch tính câu chuyện vì thiếu
đi những quan hệnhân quảthường gặpđể tạo nên cốt truyện. Có thểcoi đấy
là một cách huỷdiệt cốt truyện và nhất là huỷdiệt kịch tính,điều chỉdiễn ra
trong thếkỷXX với Sarraute, Robbe-Grillet...
Những hành vi đáng lẽcó thể được tảtỉmỉnhưng lại chỉ được dành cho
mộtđoạn kểrất ngắn trong toàn bộquá trình trần thuật chỉvới giá trịthông báo
dường nhưlà một cốgắng làm giảmđi sựchú ý của ngườiđọc vào những sự
kiệnđó. Xét vềchiều dài văn bản so với những đoạn tảchiếc mũcủa Charles
ở đầu tác phẩm, hay cuộc sống Emma trong khi ởYonvile-Abbaye thì những
đoạn văn thông báo ấy ngắn hơn rất nhiều. Chúng trởthành một chi tiết nhỏ
trong hàng loạt những điều rất tầm thường của cuộc sống hàng ngày mà
Flaubert dụng ý tảrất kỹ, giống nhưProust nhận ra rằng "các nhân vật chính
của Flaubert thường là đồ vật"[9]. Các chi tiết, sựkiện quan trọng ấy bịchìm
vào trong trường độ trần thuật: bốn trang (trọn vẹn một chương) miêu tả đám
cưới, ba chương để miêu tảvà kểvềnhững ấn tượng của Emma Bovary trong
những ngày đầu chung sống với Charles Bovary, tiếpđó là những đoạn kể đầy

nặng nềvềthời gian sống của Emma đang trôi đi trong mơtưởng. Sau vũhội,
Emma Bovary mơmộng và hồi tưởng trong suốt một chương với khoảng thời
gian lịch biểu là một năm rưỡi. Sựkiện vũhộiđược dành tới hai mươi trang,
trọn vẹn trong chương VIII, và còn được trí nhớcủa Emma Bovary nhắc lại
nhiều lần trong suốt cảba phần của tác phẩm. Nhưng đó lại không phải là lối
hồi cốthông thường nhưkiểu Balzac từ điểm nhìn của người kểchuyện toàn
năng. Lối hồi cốcủa Flaubert thuộc vềtrường quan sát của nhân vật với những
cảm nhận trực quan, nằm trong tiến trình truyện kể.
Theo Bernard Vouilloux[10] thì điểmđặc trưng trong cách miêu tảcủa
Flaubert chính là tính chấtcận thị(myope) trước các đối tượng miêu tả. "Tôi
biết nhìn nhưnhững người cận thị"[11], ông đã thổlộnhưvậy trong thưgửi
cho Louise Colet ngay 16.1.1852, vì theo ông các nhà văn "viễn thị" như
Mérimé chẳng hạnđã đánh mất tất cảtầm quan trọng của chi tiết. Maxime Du
Camps trong Hồi ký văn chương (1892) có nhắc lại lời của nhà văn nghĩrằng
những nhà văncận thịthiên vềmiêu tảcảm xúc (sensation), còn các nhà
vănviễn thịthiên vềmiêu tảtình cảm(sentiment). Chính cách thức miêu tảnày,
theo B.Vouilloux, đẩy Flaubert tới việc vẽnên những bức tranh bằng ngôn từ
mang sắc thái của hội họaấn tượng chủnghĩa (impressionisme) cuối thếkỷ
XIX. Cũng nhưông, chủnghĩaấn tượng trong hội họa khao khát cảm nhận
được bằng đôi mắt từng khoảnh khắc trong dòng chảy thời gian bất tậnđang
trôi đi và họmuốn nắm bắtđược, thểhiệnđược cảnh vật dưới nhiều góc độ
ánh sáng khác nhau bằng một bảng màu khác hẳn với hội họa cổ điển. Do vậy
điểm khác biệt của Flaubert chính là ởchỗnhà văn nhìn bằng con mắt của
chính nhân vật chứkhông phải một cái nhìn bao quát củaĐấng tối cao từtrên
xuống nhưtruyền thống từBalzac. Không phải là miêu tảsuy nghĩcủa nhân
vật - điều Balzac và Stendhal đã làm rất tốt với những quan hệlogic chặt chẽ;
mà chỉlà diễn tảnhững cảm xúc của nhân vật vốn không bao giờcó tính logic
hay nhân quả đang biếnđổi trong từng khoảnh khắc - điều sẽ được tiểu thuyết
thếkỷXX quan tâm. Gide trong tiểu thuyếtNhững tầng hầm của Vatican đã
miêu tảthành công và gây chấnđộng vănđàn những hành động vô căn (acte
gratuite) của nhân vật Lafcadio. Tất nhiên Gide không phải là nhà văn tâm lý
theo kiểu Flaubert, nhưng nhìn trong tiến trình phát triển chung của tiểu thuyết

Pháp thì có thểthấy Gide là một mốc tiêu biểu của quá trình biếnđổi của tiểu
thuyết từgiữa thếkỷXIX tới giữa thếkỷXX. Còn Flaubert là một trong những
người chuẩn bịcho quá trình biểnđổi mạnh mẽ đó. Nhìn rộng ra hơn một chút,
cuốnUlysse của nhà văn Anh James Joyce (1882-1941) tạođược một cách
biệt lớn với rất nhiều tác giả đương thời cũng chính là ởchỗ đã kểlạiđược
một cách tỷmỉnhững suy nghĩ ấn tượng của nhân vật chỉtrong 24 tiếng của
một ngày bình thường phi sựkiện bằng cái mà người ta gọi sau này là độc
thoại nội tâm. Tiểu thuyếtNhững con đường xứFlandre của Claude Simon
sau này cũng đi theo hướng ấy. Hiển nhiên là không thểvà cũng không nên
quy kết một cách khiên cưỡng rằng Flaubert là ngườiđã thực hiện biện
pháp độc thoại nội tâm. Nếu có thểmạnh dạn nhậnđịnh nhưBéatrice Didier thì
cũng chỉ ở mứcđộ coi Flaubert là một trong những nhà vănđầu tiên có sử
dụng những đoạn văn miêu tảtheo kiểuđồng hiện tâm trạng nhân vật qua
dạng lời kểgián tiếp. Paul Ricoeur cũng cho rằng Flaubert là người không sử
dụng lốiđộc thoạiđược kể(monologue raconté) mà là độc thoạiđược trần
thuật hóa (monologue narrativisé)[12]. Nhưng có lẽ điều quan trọng không phải
là ông đã đạtđượcđiều cụthểnào mà là đã tiên cảm và báo trướcđược
những gì.
Xét từgóc độ của dòng thời gian cốt truyện, sựkiện-nhịp mạnh trong tác
phẩmBà Bovary bịphá vỡdo lối kéo dài trường độ trần thuật sau sựkiện.
Ngườiđọc tác phẩm luôn ởtrong tâm thếdường nhưsựkiệnđã xảy ra rồi, và
có một dòng chảy ngầm mà chính nhân vật và cảngườiđọc không biết rõ.
Cũng nhưchính nhân vật trong tác phẩm, ngườiđọc luôn ngỡngàng vềnhững
gì đang và sẽxảy ra. Tầm quan trọng sựkiện trong tác phẩm này đột nhiên bị
loại bỏ, có nghĩa là kịch tính tác phẩm theo cách hiểu truyền thống không còn
nữa. Sựkiện xảy ra nhưng lại mất hút đằng sau những trường độ trần thuật
kéo dài. Không phải ngẫu nhiên mà sau khi đã đọc xong tác phẩm, nếu không
căn cứvào những mốc sựkiện trong cuộcđời của nhân vật - mà ta phải cốthử
lần lại - thì ngườiđọc không dễgì xác định những sựkiện chính của tác phẩm.
Ngườiđọc có cảm tưởng nhưkhông có gì thật nổi bật trong cuộcđời nhân vật
bà Bovary, ngoại trừhai lần ngoại tình và cái chết vì thạch tín. Mà thực ra cũng
chỉlà mơhồchứkhông biết có thực sựkiệnđó đã xảy ra mãnh liệt nhưnó

