
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
641
GIÁ TRỊ CỦA MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC
TRONG TIÊN LƯỢNG MỨC ĐỘ NẶNG CỦA VIÊM TUỴ CẤP
Nguyễn Chí Thành1, Tống Thị Hương Lan1, Mai Thị Thu Phương1,
Đường Thị Thuý Hường1, Nguyễn Quang Tùng2
TÓM TẮT78
Vấn đề nghiên cứu: Một số chỉ số huyết học
mở rộng có giá trị trong tiên lượng mức độ nặng
của viêm tuỵ cấp (VTC). Mục tiêu: Mô tả đặc
điểm xét nghiệm của bệnh nhân (BN) viêm tuỵ
cấp và so sánh giá trị của một số chỉ số huyết học
trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp
tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và
phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên
104 BN viêm tuỵ cấp chẩn đoán và điều trị tại
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2024 đến
tháng 6/2024. Kết quả: Phân độ theo phim chụp
cắt lớp vi tính (CTSI), mức độ càng nặng thì thời
gian nằm viện càng kéo dài, trung bình lần lượt
là 6,09; 9,24; 14,29 ngày. Các chỉ số tỉ lệ bạch
cầu trung tính (Neut%), tỉ lệ bạch cầu lympho
(Lymp%), tỉ lệ bạch cầu trung tính-lympho
(NLR) và tỉ lệ tiểu cầu-bạch cầu lympho (PLR)
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các
nhóm mức độ nặng của viêm tuỵ cấp theo phân
độ CTSI với p<0,05. NLR và PLR có giá trị dự
báo mức độ nặng của viêm tuỵ cấp với AUC lần
lượt là 0,681 và 0,645, tốt hơn WBC với
1Khoa Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện Đại
học Y Hà Nội
2Bộ môn Huyết học - Truyền máu, Trường Đại
học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Chí Thành
SĐT: 0968460593
Email: dr.chithanhnguyen@gmail.com
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
AUC=0,598 (khoảng tin cậy 95%). Kết luận:
Một số chỉ số huyết học như Neut%, Lymp%,
NLR, PLR khác biệt giữa các nhóm mức độ nặng
của viêm tụy cấp. Có thể ứng dụng các chỉ số
NLR, PLR để tiên lượng chính xác hơn mức độ
nặng của viêm tuỵ cấp.
Từ khoá: Viêm tuỵ cấp, NLR, PLR, chỉ số
huyết học.
SUMMARY
ROLE OF HEMATOLOGICAL
INDICES IN PREDICTING THE
SEVERITY OF ACUTE
PANCREATITIS
Research problem: Extended hematological
indices may have prognostic value in
determining the severity of acute pancreatitis.
Objective: To describe the laboratory
characteristics of patients with acute pancreatitis
and to compare the values of certain
hematological indices according to disease
severity at Hanoi Medical University Hospital.
Subjects and methods: A cross-sectional
descriptive study was conducted on 104 patients
diagnosed with acute pancreatitis and treated at
Hanoi Medical University Hospital from January
2024 to June 2024. Results: According to the
Computed Tomography Severity Index (CTSI)
classification, patients with more severe disease
had significantly longer hospital stays, averaging
6.09, 9.24, and 14.29 days, respectively.
Significant differences in neutrophil percentage
(Neut), lymphocyte percentage (Lymp),
neutrophil-to-lymphocyte ratio (NLR), and

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
642
platelet-to-lymphocyte ratio (PLR) were
observed across severity groups classified by
CTSI (p < 0.05). Both NLR and PLR showed
predictive value for disease severity, with area
under the curve (AUC) values of 0.681 and
0.645, respectively, outperforming WBC (AUC =
0.598, 95% confidence interval). Conclusion:
Hematological indices such as Neu%, lymp%,
NLR, PLR are different between groups of
severe level of acute pancreatitis. NLR and PLR
are simple and accessible hematological indices
that can be applied to improve the prediction of
acute pancreatitis severity.
Keywords: Acute pancreatitis, neutrophil-to-
lymphocyte ratio (NLR), platelet-to-lymphocyte
ratio (PLR), hematological indices.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tuỵ cấp là bệnh lý tổn thương viêm
lan toả nhu mô tuyến tuỵ cấp tính với các
mức độ đa dạng từ nhẹ đến nặng và có thể
gây tử vong. Viêm tuỵ cấp diễn biến nhanh
chóng và cần được can thiệp ngay sau khi
được chẩn đoán [1]. Chẩn đoán xác định
bệnh dựa vào cả lâm sàng triệu chứng đau
bụng và các xét nghiệm cận lâm sàng như
lipase, amylase và chẩn đoán hình ảnh viêm
tuỵ cấp qua siêu âm ổ bụng hoặc phim chụp
cắt lớp vi tính ổ bụng. Quyết định điều trị
viêm tuỵ cấp tuỳ thuộc vào mức độ nặng của
bệnh. Do đó, chẩn đoán và tiên lượng sớm
mức độ nặng của bệnh đóng vai trò vô cùng
quan trọng. Chẩn đoán mức độ nặng của
viêm tuỵ cấp dựa vào tình trạng hoại tử và
suy tạng gồm ba mức độ nhẹ, vừa và nặng.
Hiện tại có nhiều thang điểm đánh giá mức
độ nặng của viêm tuỵ cấp, hay dùng là thang
điểm Balthazar dựa vào hình ảnh viêm và
hoại tử của tuỵ trên phim chụp cắt lớp vi
tính, các thang điểm lâm sàng như BISAP,
Imrie, Ranson,… [2]. Trong đó, BN thường
phải chờ đợi khá lâu 24-48 giờ để làm xét
nghiệm đầy đủ đánh giá mức độ nặng trên
chẩn đoán hình ảnh hay theo dõi trên lâm
sàng. Một số nghiên cứu cho thấy các các chỉ
số đánh giá mức độ viêm toàn thân có vai trò
trong tiên lượng mức độ nặng và tỉ lệ tử vong
của bệnh nhân VTC. Các chỉ số xét nghiệm
huyết học thay đổi sớm trong tình trạng viêm
của cơ thể như số lượng bạch cầu tăng do
đáp ứng viêm, một số chỉ số đánh giá đáp
ứng viêm như tỉ lệ bạch cầu trung tính - bạch
cầu lympho (NLR), tỉ lệ tiểu cầu - lympho
(PLR), một số chỉ số ảnh hưởng bởi tình
trạng viêm của cơ thể như dải phân bố kích
thước hồng cầu (RDW), thể tích trung bình
tiểu cầu (MPV), %IG, %HFLC,…[3], [4].
Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Giá
trị của một số chỉ số huyết học trong tiên
lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp” nhằm
mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm xét nghiệm của
BN viêm tuỵ cấp tại Bệnh viện Đại học Y Hà
Nội.
2. Ứng dụng chỉ số số lượng bạch cầu, tỉ
lệ bạch cầu trung tính - lympho và tỉ lệ tiểu
cầu - lympho trong tiên lượng mức độ nặng
của BN viêm tuỵ cấp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 104 BN
chẩn đoán VTC được điều trị tại bệnh viện
Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2024 đến tháng
6/2024.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả
cắt ngang, hồi cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Những BN từ 18
tuổi trở lên, được chẩn đoán VTC và điều trị
tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (khoa Nội
tiêu hoá, khoa Cấp cứu và Hồi sức tích
cực,...), không có bệnh lý của máu và cơ

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
643
quan tạo máu.
Tiêu chuẩn loại trừ: BN có bệnh lý huyết
học (Thiếu máu do tan máu di truyền hay
mắc phải, Lơ xê mi,...).
Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn tất cả
BN chẩn đoán viêm tuỵ cấp tại Bệnh viện
Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2024 đến tháng
6/2024.
Các chỉ tiêu nghiên cứu: Đặc điểm chung
BN: Tuổi, giới, tiền sử uống rượu, hút thuốc
lá, bệnh lý nền (Đái tháo đường, tăng huyết
áp, tăng lipid máu). Đặc điểm điều trị: Thời
gian nằm viện, mức độ nặng theo phân độ
Balthazar, mức độ nặng theo phân độ CTSI.
Chỉ số xét nghiệm huyết học: Số lượng hồng
cầu, lượng huyết sắc tố, MCV, MCH,
MCHC, RDW, SLBC, Neut, Lympho, PLT,
MPV, tỉ lệ trung tính/lympho (NLR), tỷ lệ
tiểu cầu/lympho (PLR) được phân tích trên
hệ thống máy phân tích tế bào máu tự động
XN-1000 của hãng Sysmex. Chỉ số xét
nghiệm sinh hoá khác: Amylase/ Lipase,
CRPhs, AST/ALT, Creatinin, Calci TP,
Triglycerid, LDH, Bil TP,... được phân tích
trên hệ thống tự động Cobas Pro. Kết quả
chụp cắt lớp vi tính ổ bụng.
Phương pháp thu thập, xử lý số liệu: Các
chỉ số nghiên cứu được thu thập theo bệnh án
nghiên cứu thiết kế sẵn. Công cụ thu thập số
liệu bao gồm: Hồ sơ bệnh án điện tử trên
phần mềm Isoft theo mẫu thống nhất khi BN
vào viện. Phiếu thu thập thông tin từ bệnh án.
Kết quả nghiên cứu được tổng hợp và phân
tích bằng các phần mềm: Excel, SPSS 22.0.
Đạo đức nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu
nhằm mục đích nghiên cứu, không can thiệp
và ảnh hưởng tới kết quả điều trị của BN.
Mọi thông tin nghiên cứu được bảo mật.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tuổi: Trong 104 BN nghiên cứu, độ tuổi
từ 18 đến 89, trung bình là 45,47±13,5 tuổi.
Trong đó, nam giới chiếm 83,7%, nữ giới
chiếm 16,3%.
3.2. Đặc điểm lâm sàng và điều trị
- Thời gian nằm viện từ 2 đến 49 ngày,
trung bình là 8,15±6,65 ngày.
- Trong 104 BN nghiên cứu, có 24 BN có
tiền sử uống rượu, chiếm 23,1%, hút thuốc lá
1% (1 BN), đái tháo đường 24% (25 BN),
tăng huyết áp 5,8% (5 BN), tăng lipid máu
45,2% (47 BN).
- Theo thang điểm Ranson tại thời điểm
khi nhập viện, tất cả BN đều ở mức độ nhẹ.
Trong đó, 50 BN 0 điểm (48,1%), 42 BN 1
điểm (40,4%) và 12 BN 2 điểm (11,5%).
- Theo thang điểm Balthazar:
+ Theo phân độ Balthazar tại thời điểm
nhập viện, có phân độ A, B và C phản ánh
viêm tụy cấp mức độ nhẹ, lần lượt chiếm 1
bệnh nhân Balthazar A(1%), 4 bệnh nhân
Balthazar B (3,8%) và 20 bệnh nhân
Balthazar C (19,2%) các trường hợp, trong
khi mức độ D và E phản ánh viêm tụy cấp
nặng chiếm lần lượt 41 bệnh nhân Balthazar
D (39,4%) và 38 bệnh nhân Balthazar E
(36,5%) các trường hợp.
+ Phân độ CTSI: Mức độ nhẹ có 47 BN
(chiếm 45,2%), nặng có 50 BN (chiếm
48,1%), rất nặng có 7 BN (chiếm 6,7%).
3.3. Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm
theo mức độ nặng phân độ CTSI
- Thời gian nằm viện

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
644
Bảng 1. Thời gian nằm viện theo phân độ CTSI
Mức độ nhẹ
(n=47)
Mức độ nặng
(n=50)
Mức độ rất nặng
(n=7)
p-value
Thời gian nằm viện
6,09±2,403
9,24±6,968
14,29±15,217
0,002
Nhận xét: Theo phân độ CTSI, mức độ viêm tuỵ cấp càng nặng thì thời gian nằm viện
càng dài.
- Đặc điểm xét nghiệm huyết học
Bảng 2. Đặc điểm xét nghiệm huyết học theo phân độ CTSI
Mức độ nhẹ (n=47)
Mức độ nặng (n=50)
Mức độ rất nặng (n=7)
p-value
RBC
4,92±0,56
4,78±0,79
5,26±1,16
0,221
HGB
147,36±14,82
148,24±20,55
150,86±36,98
0,903
Hct
0,43±0,04
0,43±0,55
0,45±0,11
0,561
MCV
88,28±6,21
91,20±11,26
85,36±5,88
0,133
MCH
30,15±2,13
31,12±3,60
28,71±1,8
0,068
MCHC
341,43±9,72
342,98±13,37
334,57±6,90
0,195
RDW%
13,08±0,85
13,50±1,33
13,59±1,66
0,172
WBC
19,48±56,24
12,55±4,23
13,80±5,43
0,664
Neut%
70,62±11,85
78,62±10,3
81,09±8,60
0,001
Lymp%
20,2±9,33
13,72±7,81
12,29±6,65
0,001
PLT
250,34±68,13
235,78±82,57
312,14±132,68
0,064
MPV
8,11±1,63
8,52±1,09
8,23±0,89
0,332
NLR
4,86±3,52
8,24±5,30
15,7±23,47
0,001
PLR
139,1±55,91
187,41±120,39
275,13±174,69
0,000
Nhận xét: Các chỉ số tỉ lệ bạch cầu trung tính (Neut%), tỉ lệ bạch cầu lympho (Lymp%),
tỉ lệ bạch cầu trung tính - lympho (NLR) và tỉ lệ tiểu cầu - bạch cầu lympho (PLR) có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm mức độ nặng của viêm tuỵ cấp theo phân độ CTSI với
p<0,05.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
645
Biểu đồ 1. So sánh các chỉ số NLR và PLR ở bệnh nhân viêm tuỵ cấp theo mức độ nặng
Nhận xét: Các chỉ số NLR và PLR thấp
hơn ở nhóm viêm tuỵ cấp mức độ nhẹ với
trung vị lần lượt là 4,8 và 139 sau đó đến
nhóm viêm tuỵ cấp mức độ nặng với trung vị
lần lượt là 8,3 và 195.
- Đặc điểm xét nghiệm sinh hoá
Bảng 3. Đặc điểm xét nghiệm sinh hoá theo phân độ CTSI
Mức độ nhẹ
Mức độ nặng
Mức độ rất nặng
p-value
Creatinin
68,24±16,60 (n=46)
76,18±33,77 (n=49)
81,86±42,51 (n=7)
0,27
AST
87,06±220,27 (n=47)
42,48±32,35 (n=50)
31±12,17 (n=7)
0,299
LDH
197,40±154,49 (n=47)
215,26±133,37 (n=50)
211±86,14 (n=7)
0,822
Amylase
219,79±208,74 (n=24)
313,43±338,56 (n=23)
410,67±265,03 (n=3)
0,361
Lipase
667,60±898,19 (n=36)
830,31±831,87 (n=37)
620,80±468,14 (n=7)
0,661
Triglycerid
7,22±16,57 (n=40)
12,85±14,77 (n=45)
3,60±5,37 (n=7)
0,132
CRPhs
5,04±8,17 (n=42)
11,67±12,77 (n=43)
6,86±5,33 (n=5)
0,018
Bilirubin TP
13,48±9,40 (n=29)
15,65±8,27 (n=35)
17,6±8,94 (n=5)
0,48
Nhận xét: Chỉ số CRPhs có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm viêm tuỵ
cấp mức độ nhẹ, nặng và rất nặng với
p=0,018.
- Theo phân độ CTSI, có 57 bệnh nhân
viêm tụy cấp mức độ nặng và rất nặng. Ứng
dụng một số chỉ số WBC, Neut%, Lymp%,
NLR, PLR, CRPhs để tiên tượng mức độ
nặng viêm tụy cấp.

