
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sinh viên năm học 2013-2014
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, tháng 12/2013, tr: 252-258
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG
THUỘC HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
LÊ ANH TOẠI
TRẦN VŨ QUYỀN - TRẦN THỊ NY
DƯƠNG THÁI – VŨ KHẮC SƠN
Khoa Địa lý
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đầm phá Tam Giang có diện tích trên 22.000 ha mặt nước, trải dài qua 5 huyện (Phong
Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc) của tỉnh Thừa Thiên Huế, được
mệnh danh là “biển cạn”, là vùng đất ngập mặn lớn nhất Đông Nam Á. Cũng như các hệ
thống đầm phá khác, hệ thống đầm phá Tam Giang có nguồn tài nguyên phong phú và
đa dạng để phát triển tổng hợp kinh tế biển như nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, du lịch,
khai thác khoáng sản… Nhưng hiện nay sự phát triển các ngành kinh tế nhất là ngành
du lịch (ngành có ưu thế phát triển) còn nghèo nàn lạc hậu, tính thu hút cũng như hiệu
quả kinh tế rất thấp.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển kinh tế vùng đầm phá nói chung, du lịch nói
riêng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng thế
mạnh phát triển dịch vụ, du lịch của huyện nhà trong tương lai để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, xây dựng huyện Quảng Điền sớm
trở thành huyện nông thôn mới.
2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở KHU VỰC ĐẦM PHÁ TAM
GIANG THUỘC HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
2.1. Khái quát tiềm năng phát triển ngành du lịch của đầm phá Tam Giang thuộc
huyện Quảng Điền
Ngoài giá trị to lớn về môi trường sinh thái của tiểu vùng khí hậu trung Trung bộ, đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai còn ẩn chứa tiềm năng du lịch đa dạng về sinh thái, nghỉ
dưỡng, văn hóa. Thế nhưng lâu nay, du khách đến Huế chỉ mới quẩn quanh di tích cố đô,
“ăn cơm vua, mua tranh bèo”, chưa ai biết đến đầm phá Tam Giang đặc sắc thơ mộng
như thế nào, đặc biệt là nét văn hóa, phong tục, tập quán sinh hoạt đặc trưng riêng biệt
còn nguyên sơ chưa bị lai tạp của cộng đồng cư dân đầm phá, với những địa danh đã đi
vào lịch sử văn hóa như thành cổ Hóa Châu, chợ Cồn Gai, chợ Đại Lược, làng tranh dân
gian Sình, làng rượu Chuồn, lễ hội cầu ngư An Truyền, chùa Linh Thái, Túy Vân...
Mặc dù có địa bàn khá xa trung tâm thành phố Huế, không thuận lợi để nối kết với các
tour du lịch chính đến cố đô nhưng trong những năm qua, Quảng Điền đã có nhiều nỗ
lực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, phát triển du lịch, dịch vụ.
Theo số liệu thống kê năm 2010, có 13 đoàn với 168 lượt khách, trong đó có 34 khách
nước ngoài. Năm 2011, có trên 200 du khách và 9 tháng đầu năm 2012 cũng có hơn 200

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG...
253
du khách đến với vùng đất Quảng Điền. Năm 2012, có 46 đoàn, với hơn 500 du khách
tham gia tour du lịch cộng đồng “Sóng nước Tam Giang” tại thôn Ngư Mỹ Thạnh, xã
Quảng Lợi, trong đó có 36 khách nước ngoài; 30 đoàn, với gần 200 khách nước ngoài
tham gia tour du lịch “01 ngày trên phá Tam Giang” ở thôn Tân Mỹ, xã Quảng Ngạn.
Ngoài ra, có hàng chục nghìn lượt khách đến tham quan tại lễ hội “Sóng nước Tam
Giang” và tham quan tắm biển ở xã Quảng Công, Quảng Ngạn...
2.2. Thực trạng hoạt động du lịch vùng đầm phá Tam Giang thuộc huyện Quảng
Điền
Từ tiềm năng phát triển cho thấy hoạt động du lịch vùng đầm phá Tam Giang thuộc
huyện Quảng Điền có thể khai thác nhiều loại hình du lịch và nhiều loại hoạt động du
lịch. Một số loại hình du lịch tiêu biểu được đưa vào hoạt động ở đầm phá Tam Giang
thuộc huyện Quảng Điền đó là:
* Múa náp: Từ điệu múa dân gian truyền thống của một làng quê, múa Náp đã vượt qua
ngưỡng “cửa làng”, trở thành “đặc sản” với du khách thập phương trong tour du lịch
khám phá Tam Giang.
Tương truyền vào đời Vua Gia Long (1802-1820), trong một lần du thuyền ngược về
khu vực cửa biển Thuận An, nhà vua thấy trên bờ biển có một đám đông đang tụ tập
nhảy múa, có kết hợp một số cử chỉ uốn lượn rất lạ mắt. Thấy lạ, vua dừng thuyền đến
xem và được biết đó là điệu múa Náp của ngư dân Quảng Ngạn. Thấy điệu múa hay,
vua khuyên dân làng nên duy trì điệu múa này. Từ đó, người dân Tân Mỹ giữ gìn điệu
múa này như một “báu vật” của quê hương. Gia đình nào có việc hiếu hỷ, đội múa này
đến - vừa chia sẻ nỗi buồn cùng gia quyến, đồng thời nhảy múa để xua đuổi ma quỷ
giúp linh hồn người chết được siêu thoát.
Điệu múa này đã gắn bó với đời sống văn hóa tâm linh của người dân trong các dịp
cúng tế, cầu ngư hay những lần đưa tiễn con dân của làng về với cõi vĩnh hằng. Nó như
sự gửi gắm mong ước mưa thuận, gió hòa, trời yên, biển lặng cho những chuyến ra khơi;
là lời chúc, nguyện cầu cho người ra đi được thanh thản. Theo người dân ở đây thì Náp
là điệu múa dân gian truyền thống của nhiều địa phương ở Quảng Điền, hầu như làng
nào cũng có đội Náp. Tuy nhiên, mỗi nơi lại có những nét độc đáo riêng.
Trước đây, điệu múa Náp vốn chỉ có các màn: Tam xà, tứ trụ, vô búp (búp sen), ra nở
(sen nở), đi vòng số 8 với số lượng từ 20-24 người tham gia. Để điệu múa sinh động
hơn, những người trong Ban biên soạn múa Náp làng Tân Mỹ cải biên thêm vào một số
động tác như: Tứ trụ sen, đi hàng một hàng hai và hàng chéo... Điều đặc biệt là lớp thiếu
niên rất thích múa Náp - nhất là những dịp có lễ hội cầu ngư và dịp tết cổ truyền.
* Chương trình Lễ hội Sóng nước Tam Giang 2012
Lễ hội “Sóng nước Tam Giang” lần II diễn ra trong 02 ngày 18 và 19 tháng 5/2012 tại
thôn Bác Vọng Đông, xã Quảng Phú và khu vực bến đồ Cồn Tộc, xã Quảng Lợi, huyện
Quảng Điền với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức
phong phú và sôi nổi.

LÊ ANH TOẠI và cs.
254
Điển hình là các hoạt động: triển lãm ảnh nghệ thuật với chủ đề “Quảng Điền ngày
mới”; hội chợ thương mại ẩm thực với hơn 70 gian hàng trưng bày, giới thiệu về thành
tựu kinh tế xã hội của các địa phương, các món ăn đặc trưng của vùng quê sông nước
Quảng Điền; hội trại thanh niên với sự tham gia của gần 1.000 trại sinh sẽ diễn ra trong
suốt quá trình tổ chức lễ hội với nhiều trò chơi được tổ chức: kéo co, nhảy bao bố, đẩy
gậy, đổ nước vào chai, đi cà kheo, đi cầu kiều, bịt mắt đập om, ghép hình, nhảy dây,
rước kiệu hoa, thả diều, đua thuyền trên cạn, bắt trìa trên phá… Ngoài ra, nhiều hoạt
động văn hóa, thể thao khác cũng sẽ được tổ chức xen kẽ như: vật võ truyền thống, đu
tiên, bóng chuyền, đua ghe câu và quảng diễn tung chài trên phá Tam Giang.
Bên cạnh đó, các tour du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái trên phá Tam Giang, biển gắn
với các di tích lịch sử văn hóa của địa phương cũng sẽ được tổ chức trong suốt quá trình
diễn ra lễ hội, hứa hẹn sẽ đem đến cho du khách những trải nghiệm thú vị.
Điểm nhấn trong chương trình lễ hội “Sóng nước Tam Giang” là Lễ tế Bà Tơ - một lễ
hội truyền thống của cư dân vùng sông nước Quảng Điền được tổ chức để tưởng nhớ
người phụ nữ họ Trần ở làng Bác Vọng, đã có công cứu chúa Nguyễn thoát nguy trong
một lần vượt phá Tam Giang… Lễ tế Bà Tơ được tổ chức vào sáng ngày 18/5/2012
ngay tại bến đò Quai Vạc bên sông Bồ, cạnh ngôi Miếu Bà Tơ ở làng Bác Vọng Đông,
xã Quảng Phú với nghi lễ trang trọng, lễ tế sẽ diễn ra trong khoảng 60 phút với nghi
thức đậm nét văn hóa dân gian của cư dân vùng sông nước. Sau phần tế lễ là quảng diễn
tái hiện lễ rước Bà Tơ và diễn xướng hát bả trạo – một loại hình văn hóa phi vật thể còn
lưu lại ở một số làng quê của Quảng Điền; một cuộc đua thuyền ngay sau đó cũng sẽ
được tổ chức ở ngay ngã ba sông Bồ bên bến đò Quai Vạc.
2.3. Tồn tại và nguyên nhân
a. Tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản để ngành du lịch phát triển thì Quảng Điền đang còn
gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng và khai thác các tiềm năng về du
lịch tại địa phương. Sự phát triển các ngành du lịch vùng đầm phá Tam Giang thuộc
huyện Quảng Điền còn rất đơn điệu, nghèo nàn lạc hậu, tổ chức quản lí còn chưa chặt
chẽ, mang tính tự phát, hiệu quả kinh tế và sức hấp dẫn du lịch còn thấp.
b. Nguyên nhân
- Nguyên nhân làm cho Tam Giang “ngủ quên” lâu nay là do qui hoạch, do nguồn lực
đầu tư... Một nguyên nhân mà ít được nhắc đến, đó là tư duy kinh doanh theo lối mòn
bám vào các di sản văn hóa Huế mà quên đi tiềm năng to lớn của các vùng lân cận.
Chính tư duy đó đã làm cho sản phẩm du lịch Huế kém phong phú, kém sức cạnh tranh,
không níu được chân du khách, ngày lưu trú của du khách thấp hơn mức bình quân
chung của cả nước.
- Hệ thống giao thông đang còn nhiều bất cập, các tuyến đường đi vào các điểm di tích
lịch sử - văn hóa đang bị xuống cấp và chưa được nâng cấp, mở rộng; hệ thống giao
thông mà đặc biệt ở hai xã vùng biển bị cách trở gây khó khăn trong việc đi lại và bất

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG...
255
tiện cho du khách khi đến tham quan ở vùng biển.
- Các sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và chất lượng các sản phẩm chưa cao nên chưa
đủ sức thu hút du khách; các loại hình dịch vụ như: nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi
giải trí... chưa phát triển nên ít nhiều đã làm ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu đi lại,
tham quan du lịch và lưu trú của du khách.
- Các loại hình dịch vụ văn hóa còn nghèo nàn, chưa khai thác hết hiệu quả của các thiết
chế văn hóa; đồng thời trải qua thời gian các điểm di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn
huyện đang bị xuống cấp và chưa được trùng tu, tôn tạo, khôi phục...
- Người dân địa phương chưa có kinh nghiệm trong hoạt động du lịch, dịch vụ (phong
cách giao tiếp; cách thức tiếp thị, bán hàng để thu hút du khách).
- Nguồn lợi thủy sản trên phá Tam Giang tuy phong phú và đa dạng nhưng đang bị khai
thác quá mức nên ngày càng cạn kiệt.
- Các biện pháp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh địa phương đến với khách du lịch và
mối liên hệ giữa địa phương với các công ty lữ hành còn hạn chế. Sự kết nối giữa các
địa phương trong vùng, các đơn vị, doanh nghiệp trong quá trình hình thành tour, tuyến
du lịch chưa được chú trọng. Sự vào cuộc của các doanh nghiệp để khai thác tiềm năng
vùng phá Tam Giang Quảng Điền còn quá khiêm tốn...
3. GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH Ở KHU VỰC ĐẦM PHÁ TAM
GIANG THUỘC HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa thiên
Huế nói chung và vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai nói riêng; ngày 27 tháng 11 năm
2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1.955/QĐ-TTg phê duyệt Đề án
“Phát triển kinh tế-xã hội vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai đến năm 2020”. Với mục
tiêu tổng quát của Đề án là “Tranh thủ mọi nguồn lực để tập trung phát triển đưa đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai đến năm 2020 trở thành vùng có điều kiện phát triển kinh tế
khá của tỉnh. Lấy du lịch làm ngành kinh tế chủ lực gắn với phát triển nông nghiệp bền
vững để đến năm 2020 tạo sự thay đổi đáng kể cho vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai,
đưa vùng này trở thành một trong những khu vực có kinh tế ven biển phát triển mạnh
của cả nước”. Đồng thời trong mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế của đề án cũng đã
nêu: “Xây dựng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trở thành vùng du lịch sinh thái góp
phần quan trọng vào phát triển kinh tế du lịch của tỉnh”. Ngoài ra, để triển khai thực
hiện tốt đề án, thì nhiệm vụ chủ yếu của đề án cũng đã nêu: “Phát triển du lịch thành
ngành kinh tế chủ lực trên cơ sở phát huy cao nhất các lợi thế của vùng đầm phá và ven
biển, kết nối với du lịch Cố đô Huế để phát triển tổng hợp du lịch sinh thái, văn hóa, du
lịch biển; tạo ra các sản phẩm du lịch và dịch vụ có chất lượng cao như hình thành các
khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chữa bệnh, các trung tâm du lịch thể thao; kết nối các
khu bảo tồn, làng nghề hình thành tuyến du lịch biển và đầm phá”. Có thể nói đề án này
là cơ sở, là định hướng quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội, mà đặc biệt trên lĩnh
vực du lịch của các địa phương nằm trong vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, trong
đó có huyện Quảng Điền.

LÊ ANH TOẠI và cs.
256
Đánh giá tiềm năng khai thác phát triển ngành du lịch ở đầm phá Tam Giang thuộc
huyện Quảng Điền đặt ra các vấn đề cần giải quyết đó là:
- Vấn đề liên kết vùng và liên kết các đơn vị làm du lịch, dịch vụ: Đây là điều hết sức
quan trọng vì, du lịch dịch vụ của huyện chỉ có thể phát triển nếu có sự liên kết chặt chẽ
giữa các địa phương, nhất là giữa Thành phố Huế, huyện Phong Điền, Hương Trà với
Quảng Điền. Cần tận dụng tối đa thế mạnh đặc thù của các địa phương nhưng phải đặt
trong sự phối hợp chung nhịp nhàng thì ngành du lịch, dịch vụ mới có thể khai thác tốt
các ưu thế vốn có về di sản văn hóa của vùng đất. Nhìn rộng hơn, Quảng Điền cần tạo
ra một điểm nhấn để nói kết với “Con đường di sản miền Trung”. Nếu thành công, thì
đây sẽ là một bước đột phá đối với du lịch, dịch vụ của huyện.
- Đề xuất một số tour: Ngoài tour “Sóng nước Tam Giang” chủ yếu tại khu vực thị trấn
Sịa, Quảng Lợi, Quảng Ngạn, Quảng Điền cần nghiên cứu, tổ chức các tour du lịch
khám phá mới, chẳng hạn:
+ Tour du lịch khám khá thành cổ Hóa Châu gắn liền với phố cổ Thanh Hà - Bao Vinh
và làng rau Thành Trung cùng các làng trồng cây kiểng lân cận.
+ Tour du lịch khám phá dấu vết các thủ phủ xưa ở Phước Yên, Bác Vọng gắn liền với
việc tham quan, tìm hiểu các nghề thủ công truyền thống, mua sắm đặc sản của địa
phương (chột nưa, rau má ở Phước Yên; sản phẩm đan lát Bao La…).
- Xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy các di sản: Điều này đòi hỏi phải có sự đổi mới tư
duy và những cơ chế thông thoáng hơn. Việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị các di
sản, không thể chỉ trông chờ hoàn toàn vào nguồn vốn đầu tư của nhà nước, mà địa
phương cần phát huy tối đa nội lực, huy động sự đóng góp của nhân dân, nhất là các
doanh nghiệp trên địa bàn, những người thành đạt có gốc gác hay liên quan mật thiết
với vùng đất. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đề xuất các cơ chế mới để người dân có thể
tham gia vào việc khai thác, phát huy giá trị di sản, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể.
Để giải quyết các vấn đề trên và để khai thác có hiệu quả tiềm năng và phát triển mạnh
các loại hình du lịch ở vùng đầm phá Tam Giang; trên cơ sở Quyết định số
1.955/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đến năm 2020” và định
hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020, trong thời gian đến chúng ta cần
tập trung triển khai một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là, triển khai thực hiện tốt quy hoạch phát triển du lịch đã được phê duyệt nhằm
khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế về dịch vụ, du lịch của địa phương. Trước
mắt, cần tập trung hoàn chỉnh việc quy hoạch chi tiết khu du lịch - dịch vụ Đông Quảng
Lợi...để có cơ sở kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà hàng, nhà chồ và các
dịch vụ vui chơi giải trí ven phá. Tuy vậy, để thu hút các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ
đầu tư kinh doanh vào khu vực này thì trước hết Nhà nước cũng cần đầu tư xây dựng hệ
thống giao thông, bến thuyền, trồng rừng ngập nước...

