
năng vận dụng nhuần nhuyễn các hiểu biết này để ký kết các hiệp địng vay vốn là cần
thiết . Mục tiêu của công tác này là tạo điều kiện cho VN có quyền làm chủ và để được
chủ động đề xuất và sử dụng vốn ODA. Cần phải thấy rằng ODA không phải là khoản
cho không mà phải kèm theo nó là các điều kiện về kinh tế - chính trị .Mặt khác , chúng
ta phải hoàn trả nợ cả gốc lẫn l•i . Vì vậy nếu sử dụng không hiệu quả có thể rơi vào tình
trạng khủng hoảng , nợ nần.
2, Tiếp tục hoàn thiện hơn nữa chiến lược thu hút vốn và quản lý sử dụng ODA.
Hiện nay xu hướng chung của các dự án có sự trợ giúp quốc tế đang đối diện với các
thách thức không nhỏ và phải chuyển các trọng tâm nội dung sang một số xu thế mới là:
có sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân và tăng cường tham gia quản lý của cộng
đồng dân cư tại chỗ . Nếu chúng ta chưa chuẩn bị cho sự chuyển đổi này thì các nguồn
vốn nước ngoài sẽ mau chóng tìm cách rút lui khi tình hình được đánh giá là không thuận
lợi .
Trong khi đó đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm đại bộ phận trong cơ cấu đầu tư
của quốc gia , từ 38%năm 1995 lên đến 53% năm 1998 và hiện nay còn cao hơn mức này
. Vì vậy chọn hướng "tham gia của cộng đồng " cho các dự án ODA là tương đối thích
hợp (ở dạng như dự án cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng mà chúng ta vừa ký
kết mới WB vào tháng 6 năm 2001 vừa qua).
Trước tình hình như vậy , các qui định của chính phủ nên được xem xét , điều chỉnh
lại cho phù hợp trong việc triển khai các dự án ODA, bởi vì chúng có tác động hạn chế
đến những tiềm năng nội lực của từng vùng và từng lĩnh vực được gắn với những yếu tố
"dựa vào cộng đồng " ở qui mô rất nhỏ , chưa có những "sân chơi " riêng.
3, Ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ cho các khu vực nghèo đói .

Trong quan hệ với các tổ chức phi chính phủ quôc tế , cần phải có sự phối hợp chặt
chẽ giữa chính phủ VN với các tổ chức phi chính phủ , hướng các nguồn viện trợ của họ
tới các vùng nghèo nhất của VN như vùng Tây nguyên, vùng đồng bằng sông Cửu Long
và các vùng nùi phìa bắc. Hiện nay một số nhà tài trợ vẫn có xu hướng cung cấp viện trợ
cho Hà Nội hơn là các số vùng xa xôi , hẻo lánh và vùng nghèo đói của VN. Chính phủ
cần có biện pháp cải thiện tình trạng này , chẳng hạn đưa ra các qui định đối với các hoạt
động của họ theo khu vực địa lý , đưa ra các danh mục cho các chương trình , quốc gia về
lĩnh vực x• hội như chương trình quốc gia về việc làm , về dân số và KHHGĐ, chương
trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình quốc gia về
phòng chống HIV/AIDS , danh mục các x• vùng nghèo đói của VN để kêu gọi sự chú ý
của các nhà tài trợ .
4, Hoàn thiện môi trường pháp lý đối với quản lý ODA và quà trình phân công , phân
cấp ra quyết định trong qui trình dự án
Viện trợ nước ngoài có liên quan đến nhiều cơ quan , chức năng ở trong nước, trong
suốt quá trình từ lúc vận động tài trợ cho đến khi hoàn tất cam kết hoàn trả cho nên thiết
lập một cơ chế nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng thông suốt của cả hệ thống tổ chức
liên quan đến viện trợ là một điều quan trọng .
Về công tác quản lý , đầu tư xây dựng : Trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện
nghị định 42/CP, 92/CP về qui chế đấu thầu . Nhưng cần qui định trách nhiệm rõ ràng
hơn của từng cơ quan và các đon vị trong quá trình thẩm định và phê duyệt dự án , tăng
cường trách nhiệm của từng cơ quan theo hướng giảm các thủ tục trình duyệt qua nhiều
cấp . Tiếp tục hoàn thiện các nghị định trên tiến tới hài hòa độ "vênh" giữa các thủ tục về
phía nhà tài trợ và phía VN , tránh làm phức tạp hoá chu trình thực hiện dự án ở VN.
Thực tế hiện nay công tác thẩm định dự án ở nước ta còn thực hiện quá chậm . Có những

dự án trình cấp trên phê duyệt đặc biệt là các dự án lâm nghiệp , nằm ở các bộ rất lâu mà
không có hồi âm. Trong thời gian tới ,Chính phủ nên qui định rõ thời gian trả lời khâu
thẩm định dự án ở các cơ quan cấp bộ , và các cơ quan thuộc chính phủ bố trí các cán bộ
kiêm nhiệm để công tác thẩm định dự án được tiến hành nhanh hơn , chính xác hơn .
Công tác tái định cư: Cũng cần được chú trong hơn nữa . Hạn chế lớn nhất của công
tác tái định cư hiện nay là các qui định về đền bù thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền
với đất . Có nhiều dự án đ• không quan tâm đến hỗ trợ ổn định cuộc sống , phương tiện
sinh sống cho người tái định cư mà còn làm cho cuộc sống của họ khó khăn hơn trước
khi giải tỏa . Số tiền đền bù có lớn cũng chỉ đủ để các hộ tạo lập tài sản, nhà cửa tại nơi ở
mới chứ chưa tạo cho họ phương tiện sản xuất mang lại thu nhập tương đương với mức
thu nhập cũ.
Những bất hợp lý trong việc tái tạo các nguồn tài nguyên cho người dân thuộc vùng
giải tỏa là điểm tồn tại mấu chốt trong công tác tái định cư hiện nay cần sớm được giải
quyết . Trong thời gian tới cần phải có các qui định rõ ràng về qui trình lập và thẩm định
kế hoạch tái định cư . Nên có kế hoạch giải tỏa đền bù người di dân một cách có hệ
thống , tạo ra được sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà đầu tư với cộng đồng giải toả , giữa
nhà đầu tư với chính quyền địa phương đặc biệt là giữa cộng đồng đầu tư với nơi tiếp
nhận dân di cư .
Để đảm bảo dự án đầu tư không tạo ra các sức ép về mặt x• hội khi giải tỏa thì chính
sách tái định cư phải đảm bảo tương lai x• hội, đảm bảo ổn định cho các hộ di cư . Điều
này đòi hỏi chính sách tái định cư phải bao hàm toàn bộ quá trình từ đền bù, di chuyển ,
tạo tài nguyên , phát triển sản xuất và nâng cao điều kiện sống cho các hộ dân cư chư
không đơn thuần đưa ra một khoản đền bù mà rất khó xác định đ• hợp lý hay chưa .

Về cơ chế tài chính trong nước: Cơ chế tài chính đ• dần dần được cải thiện , đ• ban
hành qui chế vốn đối ứng và qui trình thủ tục vốn đối với các dự án ODA .Tuy nhiên vẫn
cần phải theo dõi chặt chẽ đảm bảo tín hiệu theo đúng qui trình , đồng thời tiếp tục
nghiên cứu điều chỉnh những bất cập mới nảy sinh .
Vốn đối ứng cho các dự án ODA đều được bố trí từ ngân sách . Vấn đề là các cơ
quan TW cũng như địa phương phải giải quyết như thế nào cho đủ vốn khi mà ngân sách
NN còn hạn hẹp . Muốn giải quyết vấn đề này trước hết phải kiểm soát chặt chẽ việc lập
kế hoạch cân đối nguồn vốn đối ứng để kịp thời đảm bảo vốn đối ứng cho các chương
trình, dự án ODA .Thứ hai vốn đối ứng cần được giao theo đúng địa chỉ của từng chương
trình dự án cụ thể , không được tuỳ tiện giao cho các mục tiêu khác . Chính phủ cần kiểm
soát chặt chẽ các cam kết của chính phủ trong các điều ước Quốc tế về ODA. Các cơ
quan chủ quản và cơ quan thực hiện dự án đều phải cân đối với vốn đối ứng trong kế
hoạch ngân sách hàng năm của mình .
5, Hoàn thiện hơn nữa công tác kế hoạch hoá.
Trước đây, trên cơ sở kim ngạch viện trợ mới tiếp cận dự án , nay từ dự án mới tiếp
cận viện trợ . Chính vì thế đ• làm thay đổi vai trò của chính phủ và chủ dự án so với viện
trợ . Chính phủ từ chỉ huy hoàn toàn chuyển sang hỗ trợ , thúc đẩy . Chủ dự án từ chỗ bị
động , hành động hoàn toàn theo mệnh lệnh cấp trên thì nay đ• có những quyền chủ động
nhất định trong việc hoàn thành, thực hiện dự án .Như vậy cần phải có một qui hoạch
tổng thể ODA nhằm tăng cường chất lượng đầu vào của công tác kế hoạch hoá đầu tư
bằng vốn ODA. Qui hoạch nếu được Chính phủ thông qua sẽ là căn cứ pháp lý quan
trọng nhất để cơ quan điều phối viện trợ, hình thành kế hoạch viện trợ.
Cùng với công tác trên , việc tinh giảm bộ máy cồng kềnh trong quản lý để giải ngân
đỡ phức tạp , có những chính sách ưu đ•i thiết thực cho cơ sở là nội dung chính của các

thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định (17/2001/NĐ- CP, ngày 04/5/2001) của chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức .
6, Nâng cao công tác thông tin và theo dõi dự án ODA.
Thông tin là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử
dụng ODA .Thông tin đầy đủ và chính xác sẽ là những căn cứ để cơ quan quản lý ra
quyết định . Thời gian qua ở VN thông tin về ODA thường thiếu, không đầy đủ gây khó
khăn rất nhiều cho các cơ quan chính phủ trong quản lý ODA. Cần khẩn trương thiét lập
một hệ thống thông tin hữu hiệu về ODA, những thông tin đó phải thể hiện rõ vấn đề sau:
- Chiến lược hành động, cơ sở hợp tác, quy trình thủ tục ODA của từng nhà tài trợ.
Nêu những đặc điểm , nguyên tắc luật lệ của từng nhà đối tác viện trợ.
- Các điều ước quốc tế về hợp tác phát triển , qui chế mà chính phủ ta đ• kí kết với các
nhà tài trợ để đảm bảo thi hành nhất quán các văn bản này.
- Thông tin về cam kết ODA của các nhà tài trợ , định hướng ưu tiên chiến lược sử
dụng ODA của chính phủ , tình hình giải ngân ODA theo nghành , vùng, lĩnh vực cụ thể.
- Thông tin về hệ thống văn bản luật , các qui định , qui chế trong quản lý sử dụng
ODA, các hướng dẫn về qui trình thủ tục đối với một dự án ODA cụ thể.
7, Tăng cường công tác kiểm tra , kiểm soát các dự án ODA.
Kiểm tra, kiểm soát là khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình quản lý
và sử dụng ODA. Kiểm soát được thực hiện đầy đủ làm giảm tham nhũng , thực hiện tiết
kiệm và tăng cường năng lực thực hiện dự án.
Thông thường đối với các dự án đầu tư bằng vốn vay , các nhà tài trợ thường yêu cầu
Chính phủ thuê chuyên gia tư vấn , phối hợp với các đối tác và người được hưởng thụ
tiến hành đánh giá , giám sát dự án. Những công việc này chỉ được thực hiện trong giai
đoạn thực hiện dự án hoàn thành. Trong thời gian tới , chính phủ cần quan tâm hơn nữa

