69
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
NHỮNG BẤT CẬP DƯỚI GÓC ĐỘ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Đoàn Đức Lương
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ đã thông qua
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân vào ngày 28
tháng 12 năm 1993. Điều 1 của Luật quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân
xét xcác vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động và giải
quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Trên cơ sđó Pháp lnh th
tục giải quyết các vụ án kinh tế được ban hành hiệu lực thi hành t ngày 1
tháng 7 năm 1994 quy định thẩm quyền và thtục giải quyết các tranh chấp kinh
tế. Kể từ thời điểm này chm dứt hoạt động của quan trọng tài kinh tế nhà
nước các cấp và các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân theo th tục tố tụng kinh tế. Qua mười m hoạt động và thực hiện
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các ván kinh tế thể nói Tòa án nhân dân các
cấp thẩm quyền đã vận dụng tôtú các quy định của pháp luật để giải quyết các
tranh chấp kinh tế. Việc giải quyết đã mang lại quyền và lợi ích hợp pháp cho các
chthể kinh doanh, đảm bảo công khai, trực tiếp, bước đầu đã tạo niềm tin cho
các chthể vào hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế mới tại toà án theo thủ tục
70
ttụng pháp. Tình nh thvà giải quyết các tranh chấp kinh tế tại cấp
thẩm mười năm qua như sau:
Năm 199
4
199
5
199
6
199
7
199
8
199
9
200
0
200
1
200
2
200
3
Số vụ án
thụ lý mới 78 453 532 630 126
6
128
0 859 575 657 748
Số vụ án
được giải
quyết
42 372 496 518 107
8
101
0 859 575 557
638
(Nguồn các Báo cáo tổng kết ngành của Toà án nhân dân tối cao)
Trong các tranh chấp kinh tế phát sinh tại Tòa án các tranh chấp về hợp
đồng kinh tế chiếm tỷ lệ chủ yếu nhưng khi áp dụng các quy định của pháp luật
về hợp đồng nhiều trường hợp gặp phải nội dung của điều luật quy định không rõ
ràng, ddẫn đến cách hiểu khác nhau và chưa hướng dẫn áp dụng thống nhất
nên các tòa án áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp cụ thể dễ dẫn đến
kết quả khác nhau. Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định hợp đồng kinh
tế bị coi là vô hiệu trong các trương hợp: Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm
điều cấm của pháp luật; một trong các bên kết hợp đồng kinh tế kng
đăng kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã được
thỏa thuận trong hợp đồng; người kết hợp đồng không đúng thm quyền hoặc
hành vi lừa đảo. Việc xử lý tài sản tiến hành theo nguyên tắc các bên nghĩa
71
vụ hoàn trcho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc thực hiện hợp đồng. Tuy
nhiên vào năm 1989, tuy nền kinh tế đổi mới từ tập trung bao cấp sang kinh tế th
trường nhưng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, một pháp lệnh gần như "con đẻ" của
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp vẫn được thông qua (1). Đến thời điểm hiện
nay Pháp lệnh vẫn còn hiệu lực thi hành nên thực tiễn giải quyết tuyên bhợp
đồng kinh tế vô hiệu còn vướng mắc. Ví dụ v một trường hợp cụ thể tranh chấp
vhợp đồng kinh tế việc giải quyết của các cấp Tòa án khác nhau: Tranh chấp
hợp đồng mua bán tôm đông lạnh giữa Công ty xuất nhập khẩu thủy sản HN (gọi
tắt là Công ty HN) và Công ty thủy sản thương mại TP (gọi tắt là Công ty TP).
Ngày 22 - 2 - 2001 Công ty HN ký hp đồng số 01/TSHN - TP bán hàng
tôm PUD đông lnh cho Công ty TP bao gồm các điều khoản kích cỡ, gcả,
phương thức thanh toán... Thực hiện hợp đồng này các ngày 3-4 5 -3-2001 tại
kho Lai, Hải Phòng, Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản HN đã giao cho Công
ty thu sản và thương mi TP hàng tôm đông lạnh các loại với số lượng
27.360 kg, thành tiền 50.163,49 USD và khoản tiền thuế giá trị gia ng của
hàng này 69.712.202 đồng. Ngoài ra Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản HN còn
mua hbao bì 9.152.000 đồng và khoản tiền thuế giá trị gia tăng của bao bì
915.200 đồng. Về thanh toán sau khi đã đối chiếu công nợ hai bên phát sinh tranh
chấp. Do hai bên không thống nhất được về số liệu công nợ nên ngày 27-01-
2002 Công ty xuất nhập khẩu HN đã đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân
Thành phố HP với yêu cầu buộc Công ty TP phải thanh toán số tiền còn thiếu.
Bản án kinh tế thẩm số 02/ KTST đã công nhận hợp đồng hợp pháp
tuyên xbuộc Công ty TP phải thanh toán tiền hàng n thiếu là 379,39 USD,
tiền thuế VAT của hàng 69.712.202 đồng, tiền lãi do chậm thanh toán tiền
hàng là 525,76 USD, tiền lãi chậm trả của tiền thuế và bao bì là 24.609.950 đồng.
72
Công ty TP kháng cáo yêu cu xem xét lại khoản tiền 5.203, 20USD do
khách hàng nước ngoài đã trvì hàng kém phẩm chất. Tòa phúc thm sau khi
xem xét đơn kháng cáo và các chứng ctrong hồ ván đã ra bản án phúc
thẩm số 126 ngày 10 - 08 - 2002 tuyên bhợp đồng kinh tế số 01/TSHN-TP vô
hiệu toàn bộ vì khi kết hợp đồng trên đại diện Công ty thuỷ sản và thương mại
TP ông Trịnh H (Phó giám đốc) đã không được Giám đốc công ty ủy
quyền do đó đã vi phm đim c, khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.
Trong bản án chỉ tuyên bCông ty TP trách nhiệm trả cho Công ty HN trị giá
tài sản đã nhận còn lại là 379,39 USD quy đổi ra tiền Việt Nam (VNĐ) vào
thời điểm thanh toán.
Sau khi ván được xét xử phúc thẩm c đương s đơn khiếu nại nên
Chánh án Tòa án tối cao đã có kháng nghsố 04/ 2002/ TK-KT đối với bản án số
126 của Tòa án cấp phúc thẩm. Trong Quyết định số 08/UBTP-KT của Ủy ban
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo trình tgiám đốc thẩm nhận định
việc tuyên b hợp đồng hiệu là toàn b là phù hợp nhưng cấp phúc thẩm
không xem xét stiền thuế gtrị gia tăng 69.712.202 đồng mà Công ty HN đã
nộp thay cho Công ty TP. Tiền thuế này Công ty TP đã làm thủ tục khê khai khấu
trtheo công n của trả lời của Cục Thuế; đồng thời Công ty TP văn bản
cam kết sẽ chuyển 10 phần trăm thuế giá trị gia ng cho Công ty HN khi được
Cục Thuế khấu trừ. Vì vậy, quyết định giám đốc thẩm đã sửa một phần bản án
phúc thẩm buộc Công ty TP phải hoàn trả 69.712.202 đồng cho Công ty HN.
Trong ván trên, quan điểm của cấp thẩm và cấp phúc thẩm về vụ án
khác nhau nên đưa ra các phán quyết hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, cần xem
xét việc đưa ra các phán quyết của hai cấp xét xử dựa trên các quy định nào của
pháp luật. Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
73
thì hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bkhi người kết hợp đồng kinh tế
không đúng thm quyền. Trong thực tế những trường hợp hợp đồng do cấp
phó trong phm vi phân công nội bộ công ty (cấp phó phụ trách mảng kinh
doanh) hoặc người đại diện theo pháp luật biết việc kết hợp đồng kinh tế và
thực hiện hợp đồng kinh tế đó coi schấp thuận hay không. Theo quy
định tại điều 154 Bộ luật Dân sự m 1995 quy định giao dịch dân sdo người
không thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ đối với người được đại diện trtrường hợp được người đại diện chấp
thuận. Trlại vụ án trên, mặc dù hợp đồng kinh tế do Phó giám đốc ng ty
không ủy quyền nhưng hợp đồng đã được thực hiện thông qua việc Công ty
TP đã nhận đủ hàng bán lại cho đối tác khác và đã thanh toán 650 triệu đồng cho
Công ty HN. đây, ng đã s chấp thuận của Giám đốc - ngưi đại diện
theo pháp luật của Công ty TP nên việc xử hủy hợp đồng kinh tế là bất hợp lý.
Xuất phát từ thực tế trên Nghị quyết số 04/ 2003/NQ- HĐTP ngày 27/5/2003 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: nếu người kết hợp
đồng kinh tế không đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng
kinh tế, mà người theo quy định của pháp luật thẩm quyền kết hợp đồng
kinh tế đó chấp thuận thì hợp đồng kinh tế đó không b coi là hiệu toàn bộ.
Theo chúng tôi hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao chỉ là giải pháp tạm thời
chưa giải quyết triệt để vấn đề. Nếu người thẩm quyền đại diện yêu cầu tuyên
bhợp đồng kinh tế vô hiệu do người kết không đúng thẩm quyền mới áp
dụng các quy định của Nghị quyết xem đã schấp thuận hay không như:
căn cchứng minh ni kết hợp đồng kinh tế đã o cáo với người thẩm
quyền, người thẩm quyền đã tham gia thực hiện các quyền và nghĩa vphát
sinh trong hợp đồng kinh tế (giao tiền, nhận hàng...). Trong trường hợp người
kết không đúng thẩm quyền nng các bên tham gia không yêu cầu tuyên bố hợp
đồng hiệu mà chyêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
phát sinh theo hợp đồng thì Tòa án tuyên b hợp đồng vô hiệu hay giải quyết