
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 85 -
hoạt động theo quy tắc trọng tài do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam,
trong đó các trung tâm trọng tài kinh tế khác thì được Chủ tịch UBND cấp Tỉnh cho
phép thành lập và sau đó hoạt động theo các Quy định 116/CP ngày 5/9/1994 của
Chính phủ.
♦ Các quy định về điều kiện, thủ tục xét chọn trọng tài nên đối với trung tâm
trọng tài Quốc tế Việt nam và các trung tâm trọng tài kinh tế theo Nghị định 116/CP
cũng rất khác nhau, sự không thống nhất của môi trường pháp lý này đã làm cho các
trung tâm trọng tài kinh tế thiếu tính thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ chế hoạt động có thể dẫn đến những sự hiểu biết khác nhau về vai trò, vị trí
của các trung tâm trọng tài Việt Nam. Măc dù theo điều 61 PL/08 UBTVQH11 quy
định các Tổ chức trọng tài được thành lập trước ngày pháp lệnh này có hiêu lực phải
sửa đổi bổ sung Điều lệ, Quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của
pháp lệnh trong thời hạn 12 tháng. Trong khi chờ đợi Nghị định thông tư và các văn
bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh số 08 /PL UBTVQH11 thì những khó khăn trên
vẫn tồn tại như một thực trạng vướng mắc của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh
tế bằng con đường trọng tài nước ta hiện nay, những vướng mắc này đã được sửa
đổi, bổ sung trong Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH11 ban hành
ngày 25/3/2003 để việc giải quyết tranh chấp kinh tế được phù hợp hơn, thuận lợi
hơn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế tại các
Trung tâm trọng tài.

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 86 -
CHƯƠNG III
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA
I. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh tế (HĐKT), một trong những vấn đề
khó khăn nhất đối với các bên trong hợp đồng là khi có tranh chấp xảy ra thì phải
chọn được cách giải quyết tranh chấp nhanh nhất, tiết kiệm chi phí và đáng tin cậy.
Một phương pháp giải quyết tranh chấp (khiếu nại, hoà giải hay đi kiện ra toà án
hoặc trọng tài) không thể luôn là phương án tối ưu đối với mọi tranh chấp mỗi
phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà
người ta chọn phương pháp giải quyết tranh chấp này hay phương pháp kia.
1. Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi
đi kiện:
Như đã nêu, các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện gồm có: khiếu
nại và hoà giải. Các phương pháp này có những ưu điểm sau:
Trước tiên, chúng thoả mãn tâm lý phổ biến của các nhà kinh doanh là không
muốn dựa vào tài phán (Toà án hay Trung tâm trọng tài) để phân xử các tranh chấp
ngay từ ban đầu. Khi tranh chấp phát sinh, các bên muốn mình hoặc thông qua
người thứ 3 để dàn xếp tranh chấp theo con đường hữu nghị.
Các phương pháp này được tiến hành dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của các
bên đương sự, không ai có thể hiểu rõ mọi tình tiết, nguyên nhân tranh chấp bằng
chính các bên tranh chấp, do vậy họ được quyền tự do lựa chọn cách giải quyết hợp
tình hợp lý bằng chính những cố gắng và nỗ lực của bản thân họ. Vì lý do này, các
phương pháp thương lượng trực tiếp có khả năng giải quyết tranh chấp một cách
nhanh chóng.

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 87 -
Một ưu điểm nữa của các phương pháp này là những người trung gian (các
hoà giải viên) nếu được lựa chọn thường là những người am hiểu lĩnh vực kinh tế,
thương mại. Họ nắm bắt được nguyện vọng giải quyết tranh chấp nhanh chóng của
các nhà kinh doanh cùng với khả năng thông thạo nghiệp vụ kinh doanh, lại không
bị ràng buộc bởi những quy tắc pháp lý cứng nhắc, vì vậy người trung gian có thể
dành toàn bộ thời gian cần thiết, nhanh chóng tìm ra phương pháp giải quyết tranh
chấp có tính thuyết phục và có tính khả thi.
Bí mật thông tin và bảo toàn uy tín đã trở thành một yêu cầu có tính chất sống
còn của các nhà kinh doanh trên thương trường. Các phương pháp thương lượng
trực tiếp với cách giải quyết kín đáo, không công khai, không ồn ào, không nghi
thức rườm rà đã đáp ứng được nhu cầu của các nhà kinh doanh. Hơn nữa, các thành
viên tham gia đóng vai trò chủ động tích cực trong việc xúc tiến các bước tiến hành
nên họ có điều kiện biến các cuộc thương lượng thành những cuộc đàm phán có ý
nghĩa và sẵn sàng chấm dứt việc thương lượng vô ích. Với tính chất linh hoạt như
vậy, khiếu nại và hoà giải giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng
và thực sự có hiệu quả.
Về khía cạnh pháp lý, các phương pháp này không ép buộc các bên tranh
chấp từ bỏ hoặc trì hoãn việc đi kiện ra Toà án kinh tế hay các trung tâm trọng tài.
Mặt khác, khiếu nại còn là bước bắt buộc khi đi kiện theo quy định của pháp luật
Việt nam và trong quá trình giải quyết tranh chấp ở Toà án kinh tế, trung tâm trọng
tài thì việc đạt được thoả thuận bằng con đường thương lượng được các cơ quan này
rất hoan nghênh.
Các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện giúp các bên tranh
chấp tự do lựa chọn phương pháp giải quyết hợp tình, hợp lý phù hợp với thực tiễn
kinh doanh. Tuy nhiên, các phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm như
các phương pháp này chỉ nên được áp dụng và có thể mang lại kết quả tốt khi các
bên tranh chấp có thái độ hợp tác, tôn trọng lẫn nhau để cùng nhanh chóng giải
quyết tranh chấp. Nếu một bên thiếu nhiệt tình, không có thiện chí thì việc vận dụng
phương pháp này sẽ tốn thời gian vô ích. Vai trò của người trung gian chỉ dừng lại ở
vai trò của người góp ý kiến, không có thẩm quyền ra quyết định phân xử. Nhược

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 88 -
điểm lớn nhất của các phương pháp này là phương án giải quyết tranh chấp được
các bên nhất trí không có giá trị ràng buộc các bên và không được pháp luật cưỡng
chế thi hành.
Các phương pháp giải quyết tranh chấp mang lại cho các nhà kinh doanh cơ
hội lựa chọn phương pháp theo đúng trình tự logic, phù hợp với những đặc trưng cơ
bản của hoạt động kinh doanh. Đó là khi gặp phải tranh chấp, các bên liên quan đầu
tiên nên tự giải quyết tranh chấp. Nếu chưa mang lại kết quả, các bên có thể nhờ
một người thứ 3 đứng ngoài cuộc, sáng suốt góp ý kiến hoặc với nỗ lực của người
thứ ba hoà giải viên mà tranh chấp vẫn chưa được giải quyết thì các bên mới giao
tranh chấp cho cơ quan tài phán (toà án hay các trung tâm trọng tài).
Phổ biến trong kinh doanh hiện nay, các nhà kinh doanh có xu hướng lựa
chọn các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện theo trình tự logic
trên, tuỳ thuộc vào mối quan hệ kinh doanh giữa hai bên và tính chất vụ án tranh
chấp. Song các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện này chỉ có thể
mang lại một phương pháp giải quyết tranh chấp không có giá trị pháp lý, không
được pháp luật cưỡng chế thi hành và rõ ràng việc chấp hành phương án giải quyết
đó phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên. Chính vì vậy, các nhà kinh doanh
vẫn có nhu cầu tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp có khả năng mang
lại kết quả phân xử có hiệu lực pháp lý, ràng buộc các bên thi hành, về mặt lý
thuyết, cả toà án và trọng tài đều có thể đáp ứng được yêu cầu đó.
2. Nhược điểm của đi kiện ở Toà án so với đi kiện ở các Trung tâm trọng tài:
Toà án và các Tung tâm trọng tài đều là các cơ quan tài phán có thẩm quyền
xét xử các tranh chấp kinh tế, mỗi cơ quan tài phán có một cách thức tổ chức hội
đồng xét xử, cách thức giải quyết tranh chấp và phải tuân theo các quy tắc tố tụng
khác nhau. Vậy toà án hay các Trung tâm trọng tài sẽ là cơ quan tài phán có khả
năng đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí và có độ tin cậy
cao của các nhà kinh doanh. Thực tiễn giải quyết tranh chấp ở toà án kinh tế trong
những năm gần đây (từ 1994 đến nay) đã chứng tỏ các nhà kinh doanh gặp nhiều
bất lợi khi đi kiện tại toà án kinh tế, những bất lợi đó là:
a. Quyền tự do lựa chọn của các bên đương sự bị hạn chế:

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 89 -
Thông thường khi kiện ra toà án, nguyên đơn phải tiến hành kiện bị đơn tại
toà án nơi bị đơn có trụ sở kinh doanh hay cư trú. Nguyên đơn không được tự do
chọn Toà án kinh tế Tỉnh này hay toà án kinh tế Tỉnh kia để giải quyết tranh chấp
mà phải tuân theo những quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Toà án các
cấp, ngược lại, khi các bên quyết định giao vụ việc cho trọng tài giải quyết các bên
có quyền quyết định tổ chức trọng tài nào sẽ xử tranh chấp giữa các bên.
Toà án là cơ quan tư pháp của nhà nước, các quy định về Hội đồng xét xử rất
phức tạp, cố định, khó có thể thay đổi được, các bên không được quyền tự do chọn
các Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký toà án... theo ý của mình. Những
người này đều do toà án chỉnh định. Trong khi đó các trung tâm trọng tài cho phép
các bên đương sự chọn đích danh người mà mình cho là vô tư, có uy tín và am hiểu
chuyên môn làm trọng tài viên. Điều này không thể tìm thấy trong tố tụng toà án.
Hội đồng xét xử tại toà án có thẩm quyền phải tuân thủ các thủ tục cứng nhắc và các
bên đương sự không được phép thay đổi các thủ tục đó. Ngược lại, các bên tham gia
tố tụng trọng tài có thể lựa chọn và hoàn toàn có thể lập nên một quy tắc tố tụng
trọng tài thích hợp cho tình tiết của vụ việc. Phải thừa nhận rằng quyền tự do trong
công việc giải quyết tranh chấp một trong những bộ phận của quyền tự do kinh
doanh được pháp luật bảo đảm lại bị hạm chế khi các bên giao tranh chấp cho toà án
xét xử.
b. Nhu cầu giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí khó được đáp ứng:
Dựa vào phương pháp trọng tài để phân xử tranh chấp các bên tranh chấp
được bảo đảm nguyên tắc tự do lựa chọn, do vậy họ có khả năng kiểm soát trình tự
tiến hành của trọng tài và có thể đẩy nhanh tốc độ giải quyết tranh chấp của trọng
tài nhằm thoả mãn yêu cầu kinh doanh của mình. Nhu cầu giải quyết tranh chấp một
cách nhanh chóng khó có thể đáp ứng được bằng hình thức tố tụng toà án vốn là loại
tố tụng được đặc trưng bởi nhiều cấp xét xử khác nhau từ sơ thẩm, phúc thẩm đến
giám đốc thẩm, quyết định của toà án có thẩm quyền có thể bị kháng án lên ít nhất
một hoặc đôi lần khi hai toà án ở cấp cao hơn, do đó kéo dài thời gian thưa kiện của
các bên tranh chấp. Cũng do phải qua nhiều cấp xét xử trong một vụ kiện nên chi

