TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn
Sinh viên thực hiện: Bùi Trọng Tuấn
Lớp: A2
Khoá: CN9
Hà nội, tháng 5/2003
MỤC LỤC
Trang
Chương I: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay.
I. Khái niệm về tranh chấp kinh tế và tố tụng kinh tế
II. Sự cần thiết khách quan của việc ban hành Pháp luật về giải quyết tranh kinh
tế
III. Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
+ Khái niệm và đặc điểm
+ Cách thức thương lượng
+ Một số bước thương lượng, đàm phán để gỡ rối khi các bên tranh chấp đều
bế tắc
2. Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải:
3. Giải quyết tranh chấp bằng toà án:
+ Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của toà án kinh tế
+ Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế và các nguyên tắc xét xử tranh chấp kinh
tế của toà án kinh tế;
+ Thẩm quyền của toà án các cấp;
4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài kinh tế:
- Khái niệm và những ưu thế cơ bản của trọng tài kinh tế
- Trung tâm trọng tài (Pháp lệnh số 08/ UBTVQH 11)
+ Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền của Trung tâm trọng tài
+ Thành lập chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam
Chương II: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt nam hiện nay
I. Các loại tranh chấp kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay:
1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện
lao vụ
2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận
hàng hoá công việc
3. Tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế vô hiệu
II. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng phương pháp tiền khởi kiện
III. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án
IV. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
Chương III: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh tế ở nước ta
I. Lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế:
1. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi
kiện
2. Nhược điểm của đi kiện ở toà án so với đi kiện tại trung tâm trọng tài
II. Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế
1. Biện pháp phòng ngừa tranh chấp
2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
III. Kết luận .
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn
– người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em – cùng các thầy cô
giáo trường Đại học ngoại thương, các cán bộ Toà án nhân dân tối cao,
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người đã tạo điều kiện cho em
hoàn thành bản khoá luận này.
Sinh viên
Bùi Trọng Tuấn
LỜI NÓI ĐẦU
Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định
sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội. Để thực hiện chức năng kinh tế, ngày nay
Nhà nước nào cũng ban hành Hệ thống các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều
nguyên nhân khác nhau, do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất
yếu. Để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh
doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển, Nhà nước thông qua các cơ quan chức
năng hoặc các tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp kinh tế không phải là vấn đề mới mẻ đối với khoa học
pháp lý. Bởi vì, ngày nay các quan hệ kinh tế càng trở nên phong phú và đa dạng thì
pháp luật về giải quyết tranh chấp cũng phải từng bước đổi mới về pháp luật nội
dung cũng như pháp luật tố tụng để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy các văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh tế ngày càng bộc lộ những hạn chế. Hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu
đồng bộ và chậm được ban hành, chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu
và vận dụng sai. Đây là vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh tế trong
điều kiện hiện nay vẫn còn mang tính chất thời sự có ý nghĩa về lý luận cũng như
thực tiễn.
Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp" sẽ góp phần làm rõ thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án
kinh tế và các Trung tâm trọng tài phi Chính phủ, phân tích rõ những khó khăn,
thuận lợi hiện nay của các cơ quan tài phán cũng như những hạn chế của các văn bản
pháp luật kinh tế hiện hành, trên cơ sở đố kiến nghị một số vấn đề cần sửa đổi bổ
sung trong hệ thống pháp luật kinh tế cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của nền
kinh tế thị trường.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
về kinh tế xã hội và tư duy. Ngoài ra đề tài cũng vận dụng phương pháp phân tích
tổng hợp để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu .
Kết cấu của khoá luận gồm 3 Chương
- Chương 1: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay
- Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp ở
nước ta
Ù1Ẳ0ầ^hbrdr|rcf1 CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ TỐ TỤNG KINH TẾ
1. Khái niệm tranh chấp kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham
gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngày
càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những là động lực
trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế, mà còn là lý do tồn tại của các
chủ thể kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp của
quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay
gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức và
phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách
quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyên
tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh
để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy tranh chấp kinh tế có thể phát sinh
trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thức
nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đặc
trưng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và chủ thể tham
gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản
ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
Tranh chấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi ích
của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh doanh, các
tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài sản.
Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh hưởng
kinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh của cả cộng đồng kinh doanh nữa. Do đó, tranh chấp kinh tế thường có tính nguy
hiểm hơn tranh chấp dân sự.
Bên bị vi phạm trong quan hệ kinh tế không những được bồi thường
thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) giống như bên bị vi phạm trong quan
hệ luật dân sự mà có quyền đòi hỏi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế.
Chủ thể trong quan hệ có tranh chấp kinh tế chủ yếu là chủ thể kinh doanh khi tham gia
quan hệ kinh doanh hoặc nếu không trực tiếp kinh doanh thì ít nhất họ là những người
tiến hành hành vi đầu tư vốn nhằm mục đích kinh doanh sinh lời. Trong khi đó tranh chấp
dân sự chủ yếu phát sinh từ các chủ thể không tham gia kinh doanh.
Tranh chấp kinh tế gồm các loại sau:
Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty hoặc giữa thành viên Công ty với nhau
liên quan đến việc thiết lập hoạt động hoặc giải thể công ty.
Tranh chấp đến việc mua bán chứng khoán (Cổ phiếu, Trái phiếu);
Và các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật;
Trong điều kiện kinh tế thị trường sự đa dạng về đối tượng cũng như sự
xuất hiện của các thị trường yếu tố phi truyền thống đã làm phát sinh
nhiều tranh chấp mới như tranh chấp về thương hiệu, Ly- xăng, tranh
chấp về quảng cáo...
Những tranh chấp kinh tế xảy ra mà được cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết theo
một trình tự thủ tục nguyên tắc nhất định thì được gọi là "Vụ án kinh tế".
2. Khái niệm tố tụng kinh tế:
Tố tụng kinh tế là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật kinh tế, là tổng
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ tố tụng giữa cơ quan toà án và
người tham gia tố tụng, trong quá trình toà án giải quyết các vụ án kinh tế để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Cũng có thể hiểu tố tụng kinh tế
là quá trình cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo một trình tự
nhất định.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên có thể thấy các tranh chấp
kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế được mở rộng hơn
trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước. Vì vậy, pháp luật áp dụng cho việc
giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các cơ quan tài phán
vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi phương pháp giải
quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở như hiện nay của nước ta.
II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1. Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào
giai đoạn lịch sử mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế
quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời kỳ chiến
tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì
trệ sự phát triển kinh tế, gây nhiều hiện tượng tiêu cực
trong xã hội, trước tình hình trên Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt yếu kém, sai lầm
chủ quan duy ý chí trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp,
đề ra đường lối đổi mới toàn diện đặc biệt đường lối phát
triển kinh tế. Đường lối đổi mới đó được hoàn thiện và
chính thức đưa vào đời sống xã hội bằng pháp luật đó là
Hiến pháp 1992, đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta.
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tư pháp và các
Cơ quan tài phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng
cũng nằm trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi
hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi bổ xung Luật
tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà
án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế cũng được ban hành với tư cách là luật nội
dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới.
Pháp lệnh Hội đồng trọng tài kinh tế ban hành ngày 12/1/1990
cũng không còn phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần nữa. Bởi
trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan quản
lý Nhà nước nhưng lại có thẩm quyền xét xử. Đây là một cơ quan vừa có
chức năng quản lý lại vừa có chức năng của cơ quan tư pháp, kèm theo
đó thực lực của đội ngũ trọng tài viên còn hạn chế. Các quyết định của
trọng tài kinh tế không có một cơ chế thi hành hiệu quả, chủ yếu chỉ
mong vào sự tự nguyện của bên phải thi hành.
2. Nhằm hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nhà nước ta thực hiện một chính
sách kinh tế mở. Mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta vừa thu hút được đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam, vừa nắm bắt được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Vấn đề đặt ra là
khi mở rộng các quan hệ kinh tế chúng ta buộc phải xem xét, chấp nhận những tập quán
thương mại quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực thương mại
kinh doanh quốc tế.
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động tích cực vào nền kinh tế của
chúng ta làm các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng, sôi động và đương nhiên dẫn đến
sẽ có phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh tế ngày càng nhiều và gay gắt. Các
chủ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý cho
hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi ích
chính đáng của họ khi nảy sinh các tranh chấp.
Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt
pháp lý cho hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng đặc biệt
quan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, giải
quyết các tranh chấp phải nhanh chóng, có hiệu lực mới bảo đảm quyền lợi chính đáng
của họ.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT
NAM
Việc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi quan niệm về một loạt vấn
đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp kinh tế, tài phán kinh
tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết
tranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong bộ máy Nhà nước v.v.
Từ năm 1987 - 1990, nước ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò của
trọng tài kinh tế. Do đó năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và
năm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai chế định này
thích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban
hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003
nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính tương thích với các quy định của
luật pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế độ
kinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của hệ
thống trọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp. Đó là những nguyên tắc như đa dạng
hóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cá nhân được tự do kinh doanh, tự do thành lập
doanh nghiệp, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh
đúng pháp luật của các doanh nghiệp...
Tranh chấp kinh tế tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh vì vậy, giải quyết
tranh chấp phát sinh được coi như là đòi hỏi tự thân của quá trình kinh tế. Theo cách hiểu
thông thường giải quyết tranh chấp kinh tế là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt
động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.
Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp kinh
tế được nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa chọn một
hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình.
1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
1.1 Khái niệm, đặc điểm:
a. Khái niệm: Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các
bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ
hợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba.
b. Đặc điểm:
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên.
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và không
đòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào. Thương lượng được áp
dụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp kinh tế thời gian và chi phí giành cho
cuộc thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp. Tuy nhiên,
trong thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thương
lượng là thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax ....
Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng để
đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ở
nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông.
Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực
hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với nhau
hoặc đưa ra trọng tài kinh tế”. Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải
quyết tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng cũng như để
hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự thiện trí của cả hai bên.
- Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “ Các
tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải quyết thông
qua đàm phán, thương lượng giữa các bên. Nếu tranh chấp không giải quyết được bằng
thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài) theo quy tắc của (toà án,
trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này càng chức tỏ một trong những
đặc điểm nổi bật của thương lượng là " hình thức tự giải quyết tranh chấp" được áp dụng
phổ biến nhất.
1.2 Cách thức thương lượng:
a. Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách gặp nhau trực
tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trong
một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết
tranh chấp.
b. Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex...
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương lượng
giữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi. Tuy vậy tất cả các thư từ điện tín
email đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là do
phía mình gây ra cũng cần phải được trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì hoãn
hoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tượng xấu.
Khi xem xét những điểm cơ bản về phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
thông qua thương lượng cho thấy rằng phương pháp này cũng có một số điểm hạn chế
nhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thương lượng chủ yếu phụ thuộc
vào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đương sự
thiếu thiện chí thì quá trình thương lượng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên phải tìm
kiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác.
Một số bước thương lượng, đàm phán lại để gỡ rối khi các bên
tranh chấp bế tắc:
Bước 1: Trong một số trường hợp, cuộc thương lượng giải quyết tranh chấp gặp bế tắc,
điều quan trọng nhất là các bên tìm được giải pháp thích hợp, vấn đề sẽ đơn giản hơn
nhiều nếu hai bên có thiện chí và tìm cách xử lý hợp lý.
Khi đối mặt với những tình huống gay cấn, trước hết các bên phải thật bình tĩnh,
tập trung tìm các phương pháp khắc phục những vướng mắc để đi tới thống nhất, sự bình
tĩnh sẽ mang lại cho cả hai bên một thái độ tích cực làm cho việc giải quyết tranh chấp đi
theo hướng thuận lợi.
Hai bên lần lượt đưa ra các giải pháp của mình, tránh tranh luận cái nào tốt và hợp
lý hơn cái nào. Sau đó, tất cả các giải pháp được gộp thành một bản danh sách lần lượt
sắp xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất. Sau khi phân loại các phương án đã hoàn
thành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng cách trên mới
vượt qua được một số “điểm chết” trong quá trình thảo luận, đây là tiền đề để cho việc
tìm kiếm một phương án khả thi nhất. Cuộc thảo luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắc
sang chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất.
Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề:
Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảo
luận thay vì cân đong đo đếm xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề từ
đầu từ chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết, tránh sa đà vào các cuộc tranh
luận ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia chấp nhận, tiếp tục
đặt lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt được trong buổi gặp gỡ.
Chọn một phương án nào đó tối ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũng
nghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của cuộc
thương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa.
Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt được
sự thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn đề đặt riêng
từng cái một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết. Nếu thấy cần thiết đại
diện của các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt cùng nhau xem xét và giải
quyết từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì nông nóng dễ làm hỏng việc.
2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải:
2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải quyết
tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các
cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điều
hoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắng
giúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp.
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán.
Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;
Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phải
được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên.
Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong bất
kỳ cuộc thương lượng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau, Vì vậy, bên thứ 3
phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập trường riêng
đích thực của họ trong vụ tranh chấp. Quá trình hoà giải mang tính chất tự nguyện, mềm
dẻo và không bắt buộc, thông thường việc hoà giải diễn ra nhanh chóng với chi phí vừa
phải. Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản hoặc có thể lớn và
phức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh chấp.
Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với các
hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trưng của việc hoà
giải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đưa ra những giải pháp hữu hiệu.
Các bên có thể xoá bỏ vai trò của người hoà giải vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn,
người hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên mà để các bên thoả
thuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai bên. Khi người hoà giải nắm
được các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh chấp đồng thời lại biết được
những chi tiết riêng tư trong lập trường của từng bên thì họ có thể tháo gỡ hoặc góp phần
làm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác biệt trong quan điểm của các bên
theo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhau
cùng với những lập trường riêng của họ thì không thể giải quyết nổi.
Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi
phí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên sẽ
làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong muốn của
các bên.
3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án.
3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.
a. Cơ cấu của toà án trong điều kiện mới:
Toà án kinh tế được tổ chức thành tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhân
dân như: Tòa dân sự, Toà hình sự, gồm có: Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao, Tòa kinh
tế thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Thẩm phán chuyên trách xét xử các vụ án kinh tế ở
Toà án cấp Huyện.
Ở Trung Ương: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc lập và song
song với các toà chuyên trách khác như: Toà hình sự, Toà dân sự, Toà lao động … Cơ
cấu tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà, các Phó Chánh
toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.
Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh gồm
có: Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.
Ở Toà án nhân dân cấp Huyện không có tổ chức chuyên trách song TAND cấp
Huyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và có các Thẩm phán kinh tế
đảm nhận xét xử các vụ án kinh tế.
b. Chức năng và nhiệm vụ của toà án:
b.1. Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu sau:
Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của
pháp luật. Đây là chức năng chủ yếu thường xuyên mang
tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà án có thẩm
quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để tuyên án và
kết quả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định.
Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân
dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
b.2. Nhiệm vụ của toà án kinh tế:
Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá
nhân, pháp nhân.
Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN.
Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế.
Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phương thức giải quyết
tranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giải quyết tranh chấp kinh tế
kịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn thất về kinh
tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinh
doanh, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Mặt khác khuyến khích
các cá nhân và tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư phát
triển đất nước.
Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa án
nhân dân, từ ngày 1/7/1994 giải quyết tranh chấp kinh tế được chuyển sang tòa kinh tế -
Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân. Ngày 28/6/1996 Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên nghành số 04 TTLT
hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Trong đó quy định tổ
chức toà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án nhân dân với vai trò như những tòa chuyên
trách khác, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong nền kinh tế
thị trường.
3.2 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế:
Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc
giải quyết các vụ án kinh tế được các quy phạm pháp luật về tố tụng kinh tế ghi nhận qua
những nội dung và đặc trưng cơ bản của tố tụng kinh tế. Việc tuân thủ các nguyên tắc của
tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảo giải quyết vụ án kinh tế khách quan, đúng luật,
đặc biệt cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
3.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự do kinh
doanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh. Theo nguyên tắc này, thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đương sự được quyền khởi kiện, quyền yêu
cầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, có quyền lựa chọn Toà án giải quyết
tranh chấp trong những trường hợp nhất định. Nguyên đơn được quyền thay đổi nội dung
đơn kiện, quyền rút đơn kiện, cũng như đương sự có quyền hoà giải, thương lượng trong
3.2.2 Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh:
quá trình giải quyết vụ án.
Trong tố tụng kinh tế, toà án không có nghĩa vụ phải điều tra xác minh sự thật của
vụ án, mà các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp thu thập tài liệu chứng cứ để bảo vệ
quyền lợi của mình. Có thể nói, sự thất bại trong một vụ tranh tụng tại toà án phụ thuộc
nhiều vào việc đương sự có cung cấp đầy đủ các chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình hay
3.2.3 Nguyên tắc hoà giải:
không.
Khi có tranh chấp kinh tế xảy ra các bên đương sự phải chủ động gặp gỡ nhau để
hoà giải, thương lượng, khi sự thương lượng đó không đem lại kết quả thì bên bị vi phạm
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế ra toà án nhân dân có thẩm quyền. Trong quá trình giải
quyết vụ án kinh tế toà án có nhiệm vụ phải hoà giải giữa các bên đương sự, hoà giải là
bắt buộc trong tố tụng kinh tế, nếu như khi giải quyết vụ án kinh tế Toà án không hoà giải
giữa các bên thì coi như đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Toà án chỉ đưa ra xét
xử khi hoà giải không thành. Xét về nguyên tắc, hoà giải không chỉ giải quyết "Ai đúng,
Ai sai" mà chính là khuyến khích các bên thừa nhận quyền lợi chung. Thực tiễn xét xử
cho thấy rằng phần lớn các vụ án kinh tế thành công ở giai đoạn hoà giải. Hoà giải thật sự
có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên đương sự và với cả toà án, nó giúp vụ án được
giải quyết nhanh chóng đạt được yêu cầu của cả hai bên và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện những thoả thuận đó sau này.
3.2.4 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời:
Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phối tất cả các
thời hạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng về thời gian là đòi hỏi
của các chủ thể kinh doanh khi giải quyết vụ án.
3.2.5 Nguyên tắc xét xử công khai:
Đây là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án. Trong một số trường
hợp pháp luật cho phép toà án được xử kín: Khi xét xử các vụ án kinh tế, toà án có thể xét
xử kín nếu xét thấy cần giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầu
chính đáng của họ. Bí mật của đương sự trong tranh chấp kinh tế thường là bí quyết về
kinh doanh như phát minh sáng chế... có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của
người kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp
đó vì vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín.
3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế của toà án.
3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:
Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đương sự phải khởi kiện tại toà án có thẩm
quyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui định của
pháp luật tố tụng.
Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây:
- Thẩm quyền chung;
- Thẩm quyền của toà án các cấp;
- Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ;
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn;
a. Thẩm quyền chung của toà án:
Theo qui định của pháp luật tố tụng thì toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án
kinh tế sau:
Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá
nhân có đăng ký kinh doanh.
Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, các thành viên của công ty với
nhau có liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.
Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật.
Do đó khi xảy ra tranh chấp và đưa đến toà án thì cần phải xác định được rằng: vụ
tranh chấp đó thuộc về một trong số các loại vụ việc kể trên không?. Cũng cần phải lưu ý
rằng đối với những tranh chấp kinh tế thuộc các loại kể trên nhưng lại có nhân tố nước
ngoài thì chỉ áp dụng luật tố tụng của Việt nam để giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế
khi không có điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia, hoặc ký kết có qui định khác.
b. Thẩm quyền của Toà án các cấp:
Toà án kinh tế cấp Tỉnh và toà án nhân dân cấp Huyện có quyền xử sơ thẩm vụ án
kinh tế, nhưng cần phải lưu ý rằng không phải quyền xét xử Sơ thẩm mọi vụ án kinh tế
đều do toà án kinh tế giải quyết, bởi lẽ toà án nhân dân cấp Huyện cũng có thẩm quyền
giải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng. Do đó khi có một tranhh
chấp kinh tế mà chúng ta xác định nó thuộc thẩm quyền chung như đã nói ở trên thì cần
phải xác định bước tiếp theo là toà án cấp nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án kinh
tế đó.
Toà án nhân dân cấp Huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế có đủ
3 điều kiện sau:
- Đó là tranh chấp về hợp đồng kinh tế;
- Giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng;
- Không có nhân tố nước ngoài.
b.1 Thẩm quyền của toà án kinh tế - toà án nhân dân cấp Tỉnh
- Sơ thẩm: Những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân
cấp Huyện. Tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết toà án cấp Tỉnh có thể lấy những
vụ án kinh tế thuộc quyền của toà án nhân dân cấp Huyện lên để giải quyết do vụ án đó
có nhiều tình tiết phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị hoặc vì lý do cần thiết nào
đó.
- Phúc thẩm: Những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định Sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng.
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
Tóm lại, thẩm quyền xét xử của Toà án Nhân dân cấp Tỉnh đối với các vụ án kinh
tế là: Giám đốc thẩm, Tái thẩm; các vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị.
b.2 Thẩm quyền của toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao:
Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng. Toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao
không có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế như toà hình sự
toà án nhân dân tối cao.
Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế được phân công
giải quyết và có thẩm quyền:
Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố
tụng.
Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực thuộc
TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
c. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ:
Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án
kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quan
đến bất động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết.
d. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số toà
án có thẩm quyền theo những trường hợp dưới đây để khởi kiện vụ án kinh tế:
- Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi cư trú của bị đơn thì có quyền yêu cầu toà án nơi có
tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án.
- Nếu vụ án phát sinh là hoạt động của Chi nhánh, thì có thể yêu cầu toà án nơi doanh
nghiệp có trụ sở hoặc nơi Chi nhánh đó để giải quyết.
- Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế, thì có
quyền yêu cầu: Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết.
- Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác thì có quyền yêu cầu toà án nơi có trụ sở hoặc
nơi cư trú của một trong số các bị đơn giải quyết vụ án.
- Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì có quyền yêu cầu toà án nơi có bất
động sản hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết.
- Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì có quyền yêu cầu toà án
của một trong số các nơi đó giải quyết.
- Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền của toà án thì do toà án cấp trên trực
tiếp giải quyết.
4. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
4.1 Khái niện và những ưu thế cơ bản
a. Khái niệm:
Trọng tài là một tổ chức trung gian được thành lập ra và có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp kinh tế và tranh chấp khác phù hợp với pháp luật của nước trọng tài. Giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức giải quyết mà ở đó trọng tài với tư
cách là người thứ 3 độc lập phán xử và quyết định tranh chấp của các bên. Đó thông
thường là một cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp để xét xử. Phán
quyết của trọng tài thông thường mang tính chất chung thẩm được áp dụng phổ biến nhất
hiện nay.
b. Những ưu thế cơ bản của trọng tài:
Cùng với việc quyết định chuyển giao việc xét xử tranh chấp kinh tế từ trọng tài
kinh tế sang tòa án, Chính phủ Việt Nam chủ trương soạn thảo và ban hành Pháp luật về
trọng tài kinh tế phi Chính phủ, nhằm tạo điều kiện cho các bên tranh chấp thực hiện
quyền tự do định đoạt phương thức giải quyết tranh chấp của mình.
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao việc giải quyết các tranh chấp kinh tế đã có toà án
kinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, vậy trọng tài phi Chính phủ
được thành lập nhằm mục đích gì? Có các nguyên nhân sau đây:
Một là: Thủ tục tố tụng của toà án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó không
phù hợp với đòi hỏi của các nhà kinh doanh về mặt thời gian. Các nhà kinh doanh muốn
vụ tranh chấp được phán quyết nhanh chóng bằng thủ tục đơn giản, phù hợp với công
việc kinh doanh của họ;
Hai là: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định đồng thời cũng có
quyền lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp về kinh tế. Họ muốn
"chọn mặt gửi vàng" vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn có "người" giải quyết
tranh chấp do họ lựa chọn, thậm chí muốn lựa chọn về thời gian, địa điểm để giải quyết
vụ tranh chấp … Về vấn đề này tố tụng của toà án không thể đáp ứng đầy đủ được.
Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh doanh
họ thường không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đưa tin trên các phương
tiện thông tin đại chúng, nhưng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi xét xử công khai
trừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng;
Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng phát triển với những hình
thức đa dạng, phong phú như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu tư…. có
những tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế Quốc tế như: tranh chấp về tài chính, tín
dụng, bảo hiểm, vận tải, du lịch quốc tế... trong khi các đương sự không muốn giải quyết
bằng toà án và theo thông lệ chung các nước có nền kinh tế thị trường thì những tranh
chấp đó thường do Trọng tài thương mại giải quyết.
Năm là: Mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh bằng con đường trọng
tài thương mại phi Chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường rất được ưa chuộng
điều này chứng tỏ một số ưu điểm độc đáo phù hợp với các nhà kinh doanh.
4.2 Trung tâm Trọng tài:
Trước đây văn bản Pháp luật quan trọng điều chỉnh
tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế là Nghị định 116
ngày 5/9/1994 nhưng đã được thay thế bằng Pháp lệnh
trọng tài thương mại số 08/2003 PL - UBTVQH 11 ban
hành ngày 25/2/2003 có hiệu lực ngày 01/07/2003.
4.2.1 Khái niệm, đặc điểm:
a. Khái niệm: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con
dấu, tài khoản riêng, Trung tâm trọng tài được lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện cho
Trung tâm, có Ban điều hành và các trọng tài viên có Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng thư
ký.
b. Đặc điểm: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do
Pháp lệnh trọng tài thương mại ban hành ngày 25/2/2003.
Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do Trung tâm
trọng tài tổ chức hoặc tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (Điều 2 Khoản 1 và
Điều 4).
- Về hình thức: Trọng tài thương mại là tổ chức phi Chính phủ;
- Tổ chức hoạt động: Để tổ chức và hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng của mỗi
Trung tâm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật hiện hành nhưng không được
trái với những qui định của Pháp lệnh số 08/2003 UBTVQH 11;
- Một đặc điểm nữa là: Các quyết định của Hội đồng trọng tài là Chung thẩm, các bên
phải thi hành;
- Đặc điểm thứ tư là: Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài để giải
4.2.2 Thẩm quyền:
quyết tranh chấp.
Theo qui định của Pháp lệnh số 08/PL/2003 UBTVQH 11 trọng tài có thẩm quyền
giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong “hoạt động thương mại” theo sự thoả thuận
của các bên bằng văn bản hoặc hình thức văn bản khác như thư, điện báo, telex, fax, thư
điện tử....
Hoạt động thương mại là một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức
kinh doanh bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý
thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu
tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách
bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ.... Điều 2 khoản 3 Pháp lệnh
4.2.3 Thành lập và chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng
tài:
Trọng tài Thương mại số 08/PL/2003).
a. Điều kiện: Trung tâm trọng tài chỉ được phép thành lập khi có ít nhất năm Trọng tài
viên là sáng lập viên đề nghị và được Hội luật gia Việt nam giới thiệu, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp xem xét Quyết định cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài.
Trọng tài viên phải là người có đủ các điều kiện theo qui định mới được công
nhận là Trọng tài viên: phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực,
vô tư, khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 05
năm trở lên.
Pháp luật cũng đưa ra điều kiện cấm chỉ: người đang bị quản chế hành chính,
đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích không
được làm Trọng tài, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, Công
chức đang công tác tại Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, Cơ quan thi
hành án không được đồng thời làm trọng tài viên (Điều 12 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH
11).
b. Thủ tục:
- Các sáng lập viên phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài đến Bộ Tư pháp,
trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp
giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm trọng tài,
trong trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do;
+ Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
+ Văn bản giới thiệu của Hội luật gia Việt nam;
- Hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài:
+ Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài;
- Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, Trung tâm trọng tài
phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi Trung tâm
trọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng ký thì giấy phép
bị thu hồi.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động Trung tâm trọng
tài phải đăng báo hàng ngày của TW hoặc báo Địa phương nơi đăng ký hoạt động trong 3
+ Tên, địa chỉ, trụ sở của Trung tâm trọng tài
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm;
số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau:
+ Số giấy đăng ký hoạt động, cơ quan cấp, ngày, tháng, năm cấp;
+ Thời điểm bắt đầu hoạt động của Trung tâm trọng tài;
Trung tâm trọng tài, phải niêm yết tại trụ sở những nội dung trên và danh sách
trọng tài viên của Trung tâm trọng tài.
c. Chấm dứt hoạt động:
Điều 18 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11 thì Trung tâm
trọng tài chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:
- Các trường hợp qui định tại Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
- Bị thu hồi Giấy phép thành lập;
Khi chấm dứt hoạt động, trung tâm trọng tài phải nộp lại Giấy phép thành lập cho
cơ quan đã cấp giấy phép.
4.2.4. Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế.
a. Nộp đơn:
Khi yêu cầu giải quyết tranh chấp Nguyên đơn phải gửi đơn hợp lệ cho Trung tâm
trọng tài mà các bên đã thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết
tại trung tâm trọng tài.
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Tên và địa chỉ của các bên;
+ Tóm tắt nội dung tranh chấp;
+ Các yêu cầu của Nguyên đơn;
+ Trị giá tài sản mà Nguyên đơn yêu cầu;
+ Trọng tài viên của Trung tâm mà Nguyên đơn chọn;
Đơn yêu cầu phải có đầy đủ những nội dung sau:
- Để giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập nguyên đơn phải
làm đơn kiện gửi cho bị đơn nội dung đơn kiện như trên đã qui định.
- Kèm theo đơn kiện nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài,
bản chính , bản sao các tài liệu, chứng cứ, bản sao phải có chứng thực hợp lệ.
- Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn
hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giải
quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập;
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm trọng tài phải
gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ;
b. Bản tự bảo vệ:
- Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết nếu các bên
không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và
các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho
Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ;
- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, nếu
không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện của
nguyên đơn và các tài liệu kèm theo bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tên
Trọng tài mà mình lựa chọn.
+ Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;
+ Tên và địa chỉ của bị đơn;
Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung sau:
- Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đơn bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ
nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài những nội dung qui định tại điểm này, nếu bị
đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài không có
thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo
vệ.
- Thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn 30 ngày nhưng
phải trước ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp.
c. Thành lập Hội đồng trọng tài:
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện Trung tâm trọng
tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các
tài liệu kèm theo cộng với danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tài liệu và các tài liệu kèm theo do Trung
tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài
viên đã gửi và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng
tài chỉ định trọng tài viên cho mình. Hết thời hạn này nếu bị đơn không chọn Trọng tài
viên cho mình hoặc không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên
thì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn qui định này, Chủ tịch trung tâm
trọng tài chỉ định trọng tài viên có tên trong danh sách của Trung tâm cho bị đơn.
- Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn mà các bị đơn không thống nhất chọn
được trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày thì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được yêu cầu chọn Trọng tài viên Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài
viên có tên trong danh sách của Trung tâm trọng tài cho các bị đơn.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hai Trọng tài viên được các bên chọn, các Trọng tài
viên này phải chọn Trọng tài viên thứ 3 có tên trong danh sách trọng tài viên của Trung
tâm làm Chủ tịch hội đồng trọng tài. Hết thời hạn trên mà hai Trọng tài viên được chọn
không chọn được Trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày
hết hạn theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định
Trọng tài viên thứ 3 có tên trong danh sách Trọng tài viên làm Chủ tịch Hội đồng trọng
tài.
- Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất của
Trung tâm trọng tài giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên thì theo yêu cầu
của mỗi bên, Chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên (Điều 25
khoản 4 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH11).
d. Hội đồng trọng tài do các bên thành lập:
Tương tự như thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm trọng tài việc giải quyết
tranh chấp kinh tế có thể được giải quyết bởi một Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viên
hoặc do một trọng tài viên duy nhất thực hiện. Tuy nhiên trong trường hợp này Chánh án
Toà án Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng
tài viên cho bị đơn nếu bị đơn không chọn được Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên
đơn trong thời hạn 7 ngày làm việc.
- Chánh án Toà án cấp Tỉnh cũng thực hiện việc giao cho một Thẩm phán chỉ định trọng
tài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hội đồng, trong thời hạn 15 ngày nếu hai Trọng tài viên được
chọn hoặc người được chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hội
đồng trọng tài;
- Trọng tài viên do các bên chọn hoặc toà án chỉ định có thể là trọng tài viên trong danh
sách hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của các trung tâm trọng tài của Việt Nam. Trong
trường hợp các bên có thoả thuận giao vụ tranh chấp do một trọng tài viên giải quyết
nhưng không thoả thuận được việc chọn Trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của một
bên Chánh án Toà án nhân dân cấp Tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một
Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên.
- Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng trọng tài, Quyết định của trọng
tài viên này có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng trọng tài.
4.3 Giải quyết tranh chấp:
Trọng tài viên nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải
quyết tranh chấp trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến, yêu cầu các bên cung
cấp các bản giải thích, các bằng chứng và tài liệu khác có liên quan hoặc có thể tìm hiểu
sự việc có liên quan từ những người khác với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã báo
cáo cho các bên biết.
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ, mời
giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và phải thông báo cho các bên biết, bên
yêu cầu giám định phải nộp tạm ứng phí giám định (Điều 32, khoản 2 Pháp lệnh Trọng
tài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11).
Thời gian địa điểm phiên họp giải quyết vụ tranh chấp do Chủ tịch Hội động trọng tài
quyết định. Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải gửi
cho các bên chậm nhất 30 ngày trước ngày mở phiên họp. Phiên họp giải quyết vụ tranh
chấp không công khai, trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài cho
phép những người khác tham dự phiên họp (Điều 38 Pháp lệnh số 08/2003 PL UBTVQH
11)
Theo đề nghị của các bên hoặc được các bên chấp thuận vụ tranh chấp có thể được giải
quyết không có mặt của các bên. Trong trường hợp nguyên đơn vắng mặt mà không có lý
do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì được coi
là rút đơn kiện, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầu
hoặc có đơn kiện lại. Bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp
mà không được Hội đồng trọng tài đồng ý thì việc giải quyết tranh chấp được tiến hành
căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có. Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để
giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt (Điều 40 Pháp lệnh 08/2003 Pháp
lệnh UBTVQH 11)
Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải
quyết vụ tranh chấp hoặc có quyền mời nhân chứng, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình trong việc giải quyết tranh chấp (Điều 39 Pháp lệnh).
Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực
tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài
thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên tài sản,
kê biên niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ, phong toả tài khoản tại ngân hàng, bảo toàn
chứng cứ trong trường hợp đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ.
Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành căn cứ vào những điều khoản của hợp đồng
và pháp luật hiện hành, mọi diễn biến của phiên họp giải quyết tranh chấp phải được Thư
ký Trung tâm trọng tài ghi thành biên bản. Biên bản phải được các Trọng tài viên và Thư
lý cùng ký và phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Khi quyết định Hội đồng
được thiết lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy
nhất giải quyết, ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp (Điều 42, Pháp lệnh
08/2003 UBTVQH 11)
+ Ngày tháng, năm ra quyết định trọng tài;
+ Tên Trung tâm trọng tài;
+ Tên, địa chỉ của các Nguyên đơn, Bị đơn;
+ Họ tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất;
+ Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp;
+ Cơ sở để quyết định trọng tài;
+ Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định phí trọng tài và các chi phí khác;
+ Thời hạn thi hành quyết định trọng tài;
+ Chữ ký của các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất
Quyết định trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau:
Quyết định trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố.
- Quyết định trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc có thể công
bố sau nhưng chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp. Toàn văn quyết định
trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày công bố.
- Sau khi quyết định trọng tài được công bố, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định trọng tài một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những lỗi về tính
toán, lỗi đánh máy hoặc những lỗi khác. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
đơn yêu cầu, Hội đồng trọng tài tiến hành chỉnh sửa và phải thông báo cho các bên biết
(Điều 46 Pháp lệnh 08/2003 của UBTVQH 11).
- Các bên có quyền yêu cầu huỷ quyết định trọng tài trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
nhận được quyết định trọng tài, nếu không đồng ý với quyết định trọng tài này thì có
quyền làm đơn gửi toà án cấp Tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài yêu cầu
huỷ quyết định trọng tài, nếu các bên gửi đơn quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng thì thời
gian có sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài.
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
+ Lý do yêu cầu hủy quyết định trọng tài;
Đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài gồm các nội dung sau:
+ Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau:
Bản chính hoặc bản sao quyết định trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;
Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;
Giấy tờ kèm theo yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt
và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ;
- Toà án phải thông báo ngay cho các bên và yêu cầu nộp lệ phí, toà án có quyền yêu cầu
bên nộp đơn giải thích những điều chưa rõ trong đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải thông báo cho Trung
tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, các bên tranh chấp và Viện
kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp vụ tranh chấp do Trung tâm tổ chức giải quyết thì
trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của toà án, trung tâm
trọng tài phải chuyển hồ sơ cho toà án.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét
xử gồm 3 Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ mở phiên toà xét đơn yêu
cầu huỷ quyết định trọng tài, toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp trong
thời hạn 7 ngày làm việc, trước ngày mở phiên toà.
- Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư (nếu có), Kiểm
sát viên cùng cấp, nếu một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài;
- Hội đồng xét xử không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra giấy tờ theo quy
định của pháp luật, chứng cứ, đối chiếu với những căn cứ để huỷ quyết định trọng tài.
+ Không có thoả thuận trọng tài;
+ Thoả thuận trọng tài vô hiệu;
+ Thành phần Hội đồng trọng tài, tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận
Các căn cứ để huỷ quyết định trọng tài như sau:
+ Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
+ Các bên chứng minh được có trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ trọng tài viên quy
của các bên;
+ Quyết định trọng tài trái với lợi ích công cộng của nước CHXHCN Việt nam.
định tại Khoản 2, Điều 13 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11;
Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ quyết định trọng tài theo
quy định của Pháp luật.
- Điều 55 của Pháp lệnh Trọng tài quy định: Trong thời hạn 15 ngày các bên có quyền
kháng cáo quyết định của toà án, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có quyền kháng nghị quyết định của toà án. Đơn kháng cáo, quyết định, kháng nghị
phải nêu rõ lý do yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị và phải gửi cho toà án ra quyết định.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao là 30 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định kháng nghị hoặc nhận đơn kháng cáo và người kháng cáo đã nộp lệ
phí kháng cáo tòa án ra quyết định phải chuyển hồ sơ lên toà án nhân dân tối cao.
- Xét kháng cáo, kháng nghị: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng
cáo hoặc quyết định kháng nghị, toà án nhân dân tối cao phải mở phiên toà xem xét quyết
định. Nếu cần phải yêu cầu người kháng cáo, kháng nghị giải thích những nội dung
kháng cáo, kháng nghị thì thời hạn mở phiên toà được kéo dài thêm nhưng không quá 60
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng cáo, kháng nghị toà án phải chuyển hồ sơ cho
+ Thành phần Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị gồm 3 thẩm phán, trong đó có
Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày làm việc trước ngày mở phiên toà.
+ Phiên toà được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, Luật sư của các
một Thẩm phán làm chủ toạ do toà án nhân dân tối cao chỉ định;
+ Sau khi xem xét đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, tài liệu kèm theo chứng
bên (nếu có), Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp;
cứ (nếu có), nghe ý kiến của các bên được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng
+ Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của
xét xử thảo luận và quyết định theo đa số;
toà án cấp sơ thẩm, đình chỉ việc xét kháng cáo trong trường hợp Viện kiểm sát
rút quyết định kháng nghị, bên kháng cáo rút kháng cáo hoặc đã được triệu tập
hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng bỏ phiên họp mà không được Hội
đồng xét xử đồng ý. Quyết định của toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối
cùng và có hiệu lực thi hành.
- Thi hành Quyết định trọng tài: Sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành
quyết định trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không yêu cầu huỷ
quyết định trọng tài, thì bên thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ
quan thi hành án cấp Tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi
hành, thi hành quyết định trọng tài.
Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu toà án huỷ quyết định trọng tài thì quyết
định trọng tài được thi hành kể từ ngày quyết định toà án không huỷ quyết định trọng tài
có hiệu lực.
Trình tự thủ tục và thời hạn thi hành quyết định trọng tài theo quy định của pháp luật thi
hành án dân sự.
4.4 Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
4.4.1 Khái quát chung:
a. Đặc điểm của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam:
- Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là tổ chức trọng tài phi Chính phủ được thành lập
bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài là chủ yếu.
- Về tổ chức của hệ thống trọng tài Quốc tế Việt nam: Chỉ có một Trung tâm trọng tài
Quốc tế Việt nam duy nhất đặt trụ sở ở Hà nội, không tổ chức theo cấp quản lý từ Trung
ương đến địa phương.
- Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam do Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt nam chọn và có thể mời chuyên gia nước ngoài làm trọng tài viên của
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam, các trọng tài viên có thể kiêm nhiệm và không
phải dự thi để được cấp thẻ trọng tài viên vì thế tư cách trọng tài viên của họ chỉ được xác
định khi họ giải quyết tranh chấp do trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam giao cho.
- Các phán quyết của Uỷ ban trọng tài có giá trị chung thẩm, nếu phán quyết đó không
được tự giác thi hành trong thời hạn qui định thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo
pháp luật của nước nơi phán quyết được yêu cầu thi hành.
Trước đây ở nước ta có Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài
Hàng hải. Để thống nhất hoạt động của hai tổ chức này, tránh sự chồng chéo về thẩm
quyền cũng như thi hành quyết định trọng tài, ngày 28/4/1993 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 204/TTg về tổ chức trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam (VIAC)
trên cơ sở sáp nhập Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải ban
hành kèm theo Quyết định này là Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam.
b. Về tổ chức của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam có Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch do các
trọng tài viên của Trung tâm bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm.
Trung tâm có một Thư ký thường trực do Chủ tịch Trung
tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam chỉ định. Các trọng tài
viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam là những
người có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp
luật Ngoại thương, Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Đầu
tư... Trọng tài viên do Ban thường trực Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt nam lựa chọn, với nhiệm kỳ 4 năm,
sau mỗi nhiệm kỳ các trọng tài viên có thể được chọn lại,
Chuyên gia nước ngoài cũng có thể được mời làm trọng tài
viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam.
c. Thẩm quyền của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam:
Theo qui định tại Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam ban hành
kèm theo Quyết định 204 TTg và Quyết định 114 TTg ngày 26/2/1996 của Thủ tướng
Chính phủ, thì Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp sau đây:
- Tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoại
thương, các hợp đồng đầu tư, vận tải, du lịch và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công
+ Một hoặc các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài;
+ Nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa vụ
nghệ, tín dụng thanh toán Quốc tế v.v... Khi có đủ các điều kiện sau đây:
việc ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam để giải quyết hoặc có một điều
ước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt nam để giải quyết.
Các quan hệ phát sinh từ quan hệ kinh doanh trong nước nếu các bên thoả thuận
đưa vụ việc đó ra Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam để giải quyết (Điều 1 Quyết định
114 TTg). Như vậy, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam không những có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp phát sinh quan hệ kinh tế quốc tế mà hiện nay tổ chức này còn
có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh doanh trong nước, nếu các bên đương sự
thoả thuận lựa chọn tổ chức này giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Pháp lệnh trọng tài
thương mại số 08/PLUBTVQH ban hành ngày 25/2/1003 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2003
thì các Quyết định số 204TTg ngày 28/4/1993 và Quyết định 114 TTg ngày 16/2/1996
hết hiệu lực do vậy Trung tâm trọng tài Quốc tế sẽ phải sửa đổi bổ sung Điều lệ, Quy tắc
tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Pháp lệnh số 08/PLUBTVQH trong thời
hạn 12 tháng kể từ ngày Pháp lệnh này có hiệu lực.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể về kinh tế, nhất là những năm gần đây liên tục tăng trưởng. Các quan
hệ pháp luật kinh tế cũng ngày càng được củng cố và phát triển, các quan hệ hợp đồng
kinh tế giữa các chủ thể trong nước với nhau và giữa chủ thể trong nước với chủ thể nước
ngoài cũng ngày càng phát triển đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra.
Thời gian qua tranh chấp hợp đồng kinh tế xảy ra chủ yếu và có tính chất phổ biến
ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế: Xây dựng cơ bản, vận chuyển hàng hoá, vay tín dụng,
thương mại, bảo hiểm.... Đồng thời các tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực
mua bán hàng hoá, vận tải, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu... với nội dung phức tạp vì
liên quan đến luật pháp quốc tế, pháp luật Hàng hải, liên quan đến các loại tài sản có giá
trị lớn như tàu biển, hàng hóa xuẩt nhập khẩu...
Tranh chấp kinh tế thường liên quan đến nhiều đối tượng, có những vụ án các đối
tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan lại là các chủ thể tham gia các quan hệ tố tụng khác
(hình sự, dân sự, hành chính...) nên việc giải quyết gặp không ít khó khăn phức tạp và
mất nhiều thời gian để điều tra xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng pháp luật.
Đương sự trong các vụ án kinh tế thường có trình độ học vấn cao, có hiểu biết
nhất định về mặt pháp luật, có nhiều mánh lới trong làm ăn kinh tế nên thường lợi dụng
những hạn chế, những kẽ hở của pháp luật trong ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế hoặc
trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, mặt khác, nếu thực hiện tốt việc phân tích,
thuyết phục thì hai bên đương sự cũng dễ dàng chấp nhận, thoả thuận với nhau bằng biện
pháp thương lượng, hòa giải để giải quyết các tranh chấp kinh tế đã phát sinh giữa các
bên.
I. CÁC LOẠI TRANH CHẤP PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện lao
vụ:
Trong thực tế kinh doanh tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao
hàng hoặc thực hiện lao vụ thường sảy ra rất phổ biến do tập quán và đặc thù khinh
doanh ở nước ta. Những tranh chấp này thường do các bên thực hiện không đầy đủ các
điều khoản của hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thậm chí không thực hiện
hợp đồng.
Dưới đây là một ví dụ điển hình của loại tranh chấp này:
Quan hệ kinh tế giữa công ty P và doanh nghiệp tư nhân T (DNTN) hình thành từ
các hợp đồng mua bán gạo, Ngày 03/02/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 20. Futher, theo
đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá là 2150đ/kg với tổng trị
giá là 1.075.000.000 đồng. Công ty P ứng trước cho DNTN T 1.000.000.000 đồng sau đó
DNTN T đã giao cho công ty P 399 tấn gạo 5% tấm, trị giá 857.850.000 đồng. Hết thời
hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ hàng và còn nợ lại công ty P là 142.150.000
đồng, Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng 20.Futher và cùng thống nhất chuyển số
tiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng 20.Futher sang hợp đồng 21B.Futher ký ngày
16/4/1994, theo hợp đồng số 21B.Futher, DNTN T bán cho công ty P 317,8 tấn gạo 5%
tấm, đơn giá 2150đ/kg với tổng trị giá hợp đồng là 799.370.000 đồng, Hai bên đã thoả
thuận chuyển số tiền 142.150.000 đồng từ hợp đồng số 20. Futher sang hợp đồng 21B.
Futher đồng thời công ty P ứng trước cho DNTN T 912.650.250 đồng để thực hiện hợp
đồng 21B. Futher DNTN T đã giao hàng cho công ty P 317,8 tấn gạo trị giá 799.370.000
đồng. Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn không giao đủ số gạo theo hợp đồng và còn nợ
công ty P 255.430.250 đồng. Hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng và cũng thống nhất
chuyển số nợ này sang hợp đồng số 71.Futher, Hợp đồng số 71. Futher được ký ngày
7/5/1994, theo đó DNTN T bán cho công ty P 500 tấn gạo 5% tấm với đơn giá 2080
đồng/kg và trị giá hợp đồng là 1.040.000.000 đồng, trong hợp đồng số 71.Futher hai bên
còn thoả thuận chuyển số nợ là 255.430.250 đồng từ hợp đồng số 21B. Futher sang hợp
đồng 71. Futher và công ty P ứng trước cho DNTN T 930.000.000 đồng. Thực hiện hợp
đồng này DNTN T đã giao hàng cho công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và
hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty P 240.000.000 đồng. Hết hạn hợp đồng này DNTN
T giao hàng thiếu và còn nợ công ty P số hàng tương ứng với số tiền là 525.430.250 đồng
và 6.432.000 đồng bao bì. Ngày 11/7/1994 hai bên ký phụ lục số 01/PK điều chỉnh lại
đơn giá từ 2080đồng/ Kg lên 2100 đồng/ Kg. Thực hiện hợp đồng này DNTN T giao cho
công ty P 200 tấn gạo trị giá 420.000.000 đồng và hoàn trả lại bằng tiền mặt cho công ty
P 240.000.000 đồng. Hết hạn hợp đồng DNTN T vẫn chưa giao đủ hàng cho công ty P và
còn nợ công ty P số hàng tương ứng với 525.430.250 đồng và 6.432.000 đồng tiền bao
bì. Ngày 14/7/1994 hai bên tiền hành thanh lý hợp đồng số 71.Futher và thống nhất
chuyển số nợ là 531.862.250 đồng sang hợp đồng số 112.Futher.
Cùng ngày 14/7/1994 hai bên đã ký hợp đồng số 112.Futher theo đó DNTN T bán cho
công ty P 500 tấn gạo với đơn giá 1690 đồng/ Kg và trị giá hợp đồng là 845.000.000
đồng. Hai bên còn thoả thuận chuyển số tiền 531.862.250 đồng từ hợp đồng 71.Futher
sang hợp đồng 112.Futher. Trong hợp đồng số 112.Futher công ty P không ứng tiền cho
DNTN T. DNTN T không thực hiện hợp đồng 112. Futher. Hai bên cũng không tiến
hành làm biên bản thanh lý hợp đồng, mà DNTN T làm bản cam kết trả lại số tiền
531.862.250 đồng cho công ty P và nếu chậm trả thì phải chịu lãi suất 2,1% theo lãi ngân
hàng, DNTN T đã thực hiện cam kết và đã trả được 470.640.000 đồng. Tính đến ngày
5/10/1996 DNTN T còn nợ công ty P là 61.222.250 đồng. Công ty P đã nhiều lần gửi
công văn đòi nợ DNTN T nhưng vẫn không lấy lại được tiền. Giám đốc hai bên đã gặp
nhau để giải quyết nhưng vẫn không đi đến thoả thuận cuối cùng. Ngày 5/10/1996 Công
ty P gửi đơn kiện đến Toà kinh tế Toà án Nhân dân Tỉnh Long An yêu cầu giải quyết vụ
tranh chấp. Tại phiên toà ngày 15/10/1996 Công ty P yêu cầu DNTN T trả 61.222.250
đồng nợ gốc và 50.353.136 đồng tiền lãi theo mức lãi suất 2,1% tháng từ 7/5/1994 đến
5/10/1996. Ông Hà, chủ DNTN T thừa nhận là có quan hệ buôn bán với công ty P qua
các hợp đồng số 20 Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112. Futher và đã không thực hiện
hợp đồng số 112. Futher đã cam kết trả dần số tiền 531.862.250 đồng và đã trả được
470.640.000 đồng còn nợ gố là 61.222.250 đồng Ông Hà xin Toà không trả tiền lãi.
Sau khi đọc hồ sơ và nghe các bên trình bày, Toà án Nhân dân Tỉnh Long An tuyên rằng
các HĐKT số 20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher, 112.Futher được ký giữa công ty P và
DNTN T là hoàn toàn phù hợp với ngành nghề kinh doanh và tư cách chủ thể. Hợp đồng
được tiến hành trên cơ sở tự do thoả thuận, thống nhất và bình đẳng giữa các bên, phù
hợp với quy định của pháp luật. Các điều khoản được thoả thuận trong Các hợp đồng số
20.Futher, 21B.Futher, 71.Futher (trừ hợp đồng số 112. Futher), sau khi ký kết hai bên
tiến hành thực hiện các điều khoản trong hợp đồng, hết hạn hợp đồng, hai bên tiến hành
làm bản thanh lý, mặc dù các hợp đồng này DNTN T không giao đủ hàng nhưng hai bên
thống nhất chuyển số nợ sang hợp đồng tiếp theo, hoàn toàn phù hợp với luật định. Riêng
hợp đồng số 112. Futher, hai bên thoả thuận ký kết nhưng phía DNTN T không thực hiện
hợp đồng và sau khi hết hạn hợp đồng hai bên không tiến hành thanh lý. Tuy nhiên, hai
bên đã gặp nhau thoả thuận về việc trả số tiền còn lại bằng tiền mặt, được tiến hành bằng
văn bản cam kết có chữ ký của cả hai bên. Bị đơn đã công nhận nợ trước công ty P là
61.222.250 đồng. Riêng phần lãi nhận thấy đây là số nợ phát sinh từ hoạt động kinh
doanh giữa hai đơn vị kinh tế việc chịu lãi suất, bồi thường thiệt hại hay bị phạt vi phạm
từ hành vi vi phạm của mình là lẽ đương nhiên. Do vậy, yêu cầu không tính lãi của ông
Hà không được chấp nhận, Về phía Nguyên đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc
61.22.250 đồng là hoàn toàn hợp lý. Còn phần lãi là 50.353.136đồng tính theo lãi suất
2,1% tháng từ 7/5/1994 đến 5/10/1996 là chưa phù hợp, Theo biên bản thanh lý hợp đồng
số 71.Futher ngày 14/7/1994 thì hai bên chuyển số nợ 531.862.250 đồng sang hợp đồng
số 112.Futher và cùng ngày hợp đồng số 112.Futher đã được ký. Từ ngày ký hợp đồng
cho đến khi hết hạn DNTN T không thực hiện hợp đồng và cả hai bên không ký kết phụ
lục gì thêm nên việc tính lãi suất chỉ được tính từ ngày ký hợp đồng số 112.Futher đến
ngày 5/10/1996. Có nghĩa là DNTN T phải trả 61.222.250 đồng nợ gốc và 47.002.404
đồng tiền lãi tính theo lãi suất 2,1%/Tháng từ ngày 14/7/1994 đến 5/10/1996. Toà án còn
tuyên xử buộc DNTN T phải trả toàn bộ án phí cho Nguyên đơn. Cách giải quyết của Toà
2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh
toán và tiếp nhận hàng hoá công việc:
án Tỉnh Long An là thoả đáng được hai bên chấp nhận và cam kết thực hiện.
Trong hoạt động kinh doanh việc một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán hoặc tiếo
nhận hàng hoá công việc thường xuyên sảy ra, bởi nó liên quan đến tiền hàng, nhiều khi
các bên chưa có tiền, chưa giao kịp hàng thậm chí có rồi nhưng vì một lý do tế nhị nào đó
mà các bên không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận hàng hoá công việc dẫn đến
tranh chấp sảy ra. Sau đây là 02 ví dụ về vấn đề này:
Vụ tranh chấp thứ nhất:
Nguyên đơn là một doanh nghiệp Việt Nam, Bị đơn là một công ty Hoa Kỳ các
vấn đề cần được giải quyết là nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn, tính tiền lãi suất.
Tóm tắt sự việc:
Nguyên đơn và Bị đơn đã ký 02 hợp đồng mua bán số 24 -X2 ngày 08/7/1999 và
số 29- X2 ngày 29/7/1999 theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn 44MT hạt tiêu đen theo
điều kiện FOB Cảng Thành phố Hồ Chí MInh thanh toán bằng D/P, các chứng từ được
yêu cầu gồm: vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu (Clean on board B/L), hoá đơn
thương mại, giấy chứng nhận số lượng và phẩm chất, giấy chứng nhận kiểm dịch thực
vật, phiếu đóng gói.
Thực hiện hợp đồng số 24-X2, Nguyên đơn đã giao 14 MT hạt tiêu đen, lấy vận đơn hoàn
hảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 24/7/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng
A ở Tiền Giang thu hộ 61.230 USD, ngân hàng A đã đồng ý thu hộ. Ngân hàng A đã gửi
bộ chứng từ tới ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngân hàng này thu tiền theo D/P.
Sau đó ngân hàng A và Nguyên đơn đã nhiều lần gửi Fax đòi tiền từ ngân hàng North
Banc và Bị đơn nhưng vẫn không được trả.
Thực hiện hợp đồng số 29-X2 Nguyên đơn đã giao cho Bị đơn 30 MT hạt tiêu đen, lấy
vận đơn hoàn hảo đã xếp hàng lên tàu ký ngày 20/8/1999, Nguyên đơn lập bộ chứng từ
nhờ ngân hàng Việt nam B ở Hậu Giang thu hộ 124.150 USD theo D/P, ngân hàng Việt
Nam B đã đồng ý và đã gửi bộ chứng từ cho ngân hàng North Banc (Hoa kỳ) nhờ ngân
hàng này thu tiền theo D/P. Tiếp theo ngân hàng Việt Nam B cùng và Nguyên đơn đã
nhiều lần gửi Telex, Fax, thư đòi tiền từ ngân hàng NorthBanc và Bị đơn nhưng vẫn chưa
được trả tiền.
Mặc dù, chưa thanh toán tiền hàng nhưng theo thông báo của hãng tàu, Bị đơn đã
nhận cả hai lô hàng bằng vận đơn gốc do hãng tàu ký phát, chuyến cuối cùng nhận ngày
10/9/1999.
Sau ngày 10/9/1999 Nguyên đơn tiếp tục gửi nhiều điện, fax đòi Bị đơn trả tiền
hàng nhưng Bị đơn vẫn chưa trả. Ngân hàng A và Ngân hàng Việt Nam B đã gửi thư,
điện, fax đòi ngân hàng Nothr Banc gửi trả tiền hoặc trả lại bộ chứng từ nhưng ngân hàng
Nothr Banc không trả lời.
Ngày 14/12/1999 Bị đơn gửi Fax cho Nguyên đơn yêu cầu Nguyên đơn kéo dài
thêm một thời gian nữa cho việc thanh toán 61.230 USD và 13.150 USD tiền hàng và Bị
đơn sẵn sàng trả lãi suất theo mức 9%/năm. Ngày 15/12/1999 Nguyên đơn đã gửi fax cho
Bị đơn không chấp nhận đề nghị trong bản fax ngày 14/12/1999 của Bị đơn. Đồng thời
Nguyên đơn tuyên bố nếu đến ngày 20/12/1999 mà Bị đơn không trả tiền hàng thì
Nguyên đơn sẽ kiện Bị đơn theo quy định của Hợp đồng. Hết ngày 30/12/1999 vẫn không
nhận được tiền hàng, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn ra trọng tài đòi bị đơn trả
195.380USD tiền hàng và lãi suất 9%/năm, tính từ ngày nhận hàng 10/9/1999 đến ngày
trọng tài xét xử.
Phân tích và quyết định của Trọng tài:
- Về nghĩa vụ trả tiền hàng của Bị đơn: Đã ký hợp đồng mua hàng, Bị đơn có nghĩa vụ trả
tiền hàng cho Nguyên đơn theo phương thức thanh toán D/P, Bị đơn phải trả tiền hàng
cho Nguyên đơn thì mới nhận được bộ chứng từ từ ngân hàng, trong đó có vận đơn để
nhận hàng. Trên thực tế, Bị đơn chưa trả tiền hàng nhưng đã nhận được hàng và đã bán lô
hàng đó cho người khác. Điều này được chứng minh bởi thông báo của hãng tàu BCL
Word Link International Ltd cho Cảng Sài Gòn và bản Fax ngày 14/12/1999 của Bị đơn
gửi cho Nguyên đơn đã nhận được hàng thì Bị đơn có nghĩa vụ trả tiền hàng cho Nguyên
đơn. Đồng thời trong bản fax ngày 24/12/1999 Bị đơn đề nghị kéo dài thêm một thời gian
nữa cho việc thanh toán 195.380USD. Như vậy, rõ ràng Bị đơn đã thừa nhận là Bị đơn có
nghĩa vụ thanh toán tiền hàng là 195.380USD cho Nguyên đơn. Đến ngày trọng tài xét xử
vụ kiện (8/7/2000) Bị đơn vẫn chưa trả tiền hàng cho Nguyên đơn, rõ ràng Bị đơn đã cố
tình vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng. Vì vậy trọng tài quyết định buộc Bị đơn phải trả cho
Nguyên đơn 195.380USD tiền hàng.
- Về tiền lãi suất:
Ngày 10/9/1999 là ngày Bị đơn nhận xong hàng, do đó nếu Bị đơn làm thủ tục trả
tiền hàng ngay thì tiền hàng cũng phải qua hệ thống ngân hàng rồi mới tới tay Nguyên
đơn. Vì thế, trọng tài xác định mốc thời gian hợp lý để tính lãi suất sẽ là từ ngày
20/9/1999. Mức lãi suất 9%/năm do Nguyên đơn tính toán là quá cao và không phù hợp
với mức lãi suất tiền vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Từ đó, trọng tài
chấp nhận đối với thời gian chậm trả tiền hàng từ ngày 20/9/1999 đến ngày 8/7/2000
(ngày trọng tài xét xử) Nguyên đơn chỉ được hưởng lãi suất theo mức lãi suất tiền vay
trung bình do ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố vào thời gian này là 5%/năm.
(Nguồn số liệu trích từ sách Tranh chấp từ hợp đồng XNK án lệ trọng tài và kinh nghiệm
Vụ tranh chấp thứ 2: Là vụ tranh chấp giữa Xí nghiệp
của PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết)
muối Phương Cự và Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 sau đây
phát sinh cũng do nguyên nhân không thanh toán sòng
phẳng và dứt điểm tiền hàng cho bên kia:
Ngày 29/5/1993, Xí nghiệp muối Phương Cự (bên A)
ký hợp đồng số 41/HĐ với xí nghiệp trộn muối Iốt số 2
(Bên B), theo đó bên A bán cho bên B 2000 tấn muối hạt
với đơn giá 70.000 đồng/tấn thành tiền là 140.000.000 đồng.
Hợp đồng quy định bên B phải giao tiền cho bên A ngay
sau khi ký hợp đồng và hàng sẽ được giao tại kho T1, T2,
T3 của Bên A vào tháng 11 và 12 năm 1993 nếu trong
tháng 12/1993 bên B không nhận hết hàng thì phải chịu chi
phí lưu kho 500đ/tấn/tháng theo số lượng còn lại. Thực
hiện hợp đồng này, bên B tiến hành vay tiền của ngân hàng
và đến ngày 3/12/1993 thì cắt séc chuyển tiền cho bên A. Do
khó khăn về nguồn tiêu thụ, bên B đã đặt vấn đề với bên A
ngày 27/11/1993 hai bên đã gặp nhau và thống nhất kéo dài
thời hạn giao hàng sang năm 1994. Sau đó bên B vẫn
không chịu nhận hàng với lý do là chưa tìm được nguồn
tiêu thụ. Với thiện chí thực hiện hợp đồng và muốn tạo
điều kiện thuận lợi cho bên B, bên A lại cho phép bên B
thoả thuận lại. Ngày 26/4/1994 Giám đốc của hai bên đã
thống nhất phương hướng giải quyết như sau: Cho bên B
tiến hành khảo sát tìm thị trường tiêu thụ và thông báo cho
bên A biết để thống nhất và tiến hành thực hiện hợp đồng
từ tháng 5 đến tháng 12/1994 và sẽ không bắt bên B trả
tiền lưu kho trong khoảng thời gian trên. Nếu quá
31/12/1994 bên B không nhận hàng thì hai bên sẽ tiến hành
thanh lý hợp đồng và bên B phải bồi thường cho bên A kể
cả những thiệt hại do thiên tai, bão lụt gây ra sau ngày
31/12/1994 với điều kiện bên A phải cung cấp đủ bằng
chứng hợp lý.
Sau khi thoả thuận như vậy bên B vẫn chưa thoả mãn và vẫn tiếp tục đưa ra yêu
sách, xin bên A gia hạn thêm với quyết tâm thực hiện hợp đồng, một lần nữa bên A đã
chấp nhận yêu cầu của bên B, Ngày 30/4/1994 hai bên lại hẹn gặp nhau để ký phụ lục số
19/HĐ bổ xung và điều chỉnh hợp đồng số 41 HĐ với tinh thần cụ thể hoá những thoả
thuận hai bên đã đạt được trong ngày 26/4/1994 và bên A tiếp tục gia hạn thực hiện hợp
+ Bên A gia hạn thực hiện hợp đồng số 41/HĐ đến hết ngày 31/5/1995;
+ Bên B không phải chịu chi phí lưu kho từ ngày ký phụ lục số 19/HĐ cho đến ngày
đồng đối với bên B. Nội dung của phụ lục là:
+ Khi nhận hàng bên B phải thông báo trước 5 ngày để bên A tổ chức thực hiện;
+ Phụ lục hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 1/5/1994 đến 31/5/1995.
31/5/1995;
Tuy đã được gia hạn nhiều lần nhưng bên B vẫn không chịu nhận hàng. Ngày
10/5/1994 bên B có công văn số 53/XN gửi bên A đề nghị huỷ bỏ hợp đồng số 41/HĐ và
phụ lục kèm theo.
Nhận được công văn đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ ngày
3/6/1994 bên A có văn bản số 26/XNM không chấp nhận huỷ bỏ HĐKT số 41/HĐ và phụ
lục số 19/HĐ theo đề nghị của bên B, văn bản này còn nói rõ rằng nếu bên B huỷ hợp
đồng thì phải bồi thường những thiệt hại do việc huỷ hợp đồng gây ra.
Ngày 9/7/1994 bên B có đơn số 61/XN gửi Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đề nghị
Toà án xử lý huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục số 19/HĐ, bên B đưa ra lý do là bên A
đã tự ý bán hàng và khi bên B đưa khách hàng đến kho của bên A để nhận hàng thì bên A
không còn hàng tốt để giao, bên B yêu cầu bên A hoàn lại số tiền đã nhận là 140.000.000
đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản lãi phát sinh trong quá trình bên A giữ tiền).
Nhận được đơn kiện của bên B, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức hoà giải
giữa hai bên. Ngày 18/7/1994 Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 uỷ quyền cho Ông L
với nội dung thay mặt Giám đốc, Ông L đòi huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ
và yêu cầu bên A bồi thường thiệt hại cho bên B.
Tại giấy uỷ quyền số 42/UQ ngày 13/7/1993, Giám đốc xí nghiệp muối Phương Cự uỷ
quyền cho Ông T tham gia hoà giải trên tinh thần hiệp thương đã thống nhất trong hội
đồng xí nghiệp, văn bản uỷ quyền này không nêu rõ lý do nội dung cụ thể trong văn bản
uỷ quyền của Giám đốc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2.
Khi đại diện hai bên đến hoà giải, Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận không yêu
cầu hai bên xuất trình bất kỳ bằng chứng gì về việc uỷ quyền mà chỉ tiến hành hoà giải
giữa hai bên. Sau nhiều lần hoà giải không thành, ngày 12/8/1994 hai bên đã đi đến thoả
+ Huỷ hợp đồng số 41/HĐ ký ngày 29/5/1993 và phụ lục hợp đồng số 19/HĐ ký
thuận.
+ Xí nghiệp muối Phương Cự có nghĩa vụ trả lại số tiền 140.000.000 đồng cho Xí
ngày 30/4/1994;
+ Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có nghĩa vụ trả cho xí nghiệp muối Phương Cự
nghiệp muốn trộn Iốt 2.
4.000.000 đồng phí lưu kho của 2000 tấn muối từ 30/4/1994 đến 12/8/1994 và
2.000.000 đồng các thiệt hại khác.
Ngày 13/8/1994 Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định số 01/QĐCNSTT
công nhận sự thoả thuận của hai bên với nội dung như trong biên bản hoà giải thành mà
hai bên đã ký ngày 12/8/1994. Sau khi quyết định trên đã có hiệu lực ngày 22/8/1994,
Giám đốc Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 có đơn kháng cáo gửi đến Toà án nhân dân tối cao
đề nghị xét xử lại theo hướng huỷ hợp đồng 41/HĐ và phụ lục 19/HĐ, buộc xí nghiệp
muối Phương Cự bồi thường thiệt hại. Kháng cáo cũng nêu rằng việc Ông L ký vào biên
bản hoà giải thành có nội dung như đã nêu trên là vượt quá phạm vi uỷ quyền. Nhận được
đơn kháng cáo của Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 và sau khi xem xét vụ việc ngày
31/12/1994 Phó Chánh toà án nhân dân tối cao có kháng nghị số 02/KT kháng nghị phần
quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 01/QĐCNSTT ngày 13/8/1994
của Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận buộc xí nghiệp muối trộn Iốt số 2 bồi thường cho
xí nghiệp muối Phương Cự 4.000.000 đồng phí lưu kho và 2.000.000 đồng chi phí thiệt
hại khác do vượt quá phạm vi uỷ quyền, đề nghị Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối cao
xét xử theo trình tự Giám đốc thẩm, huỷ bỏ phần quyết định nói trên để giải quyết lại
theo thủ tục chung phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của xí nghiệp muối trộn Iốt số 2.
Tại phiên toà Giám đốc thẩm ngày 2/3/1995 sau khi
nghiên cứu hồ sơ, nghe các bên trình bày, nghe ý kiến của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đã chấp nhận
kháng nghị của Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao huỷ
phần quyết định công nhận sự thoả thuận vượt quá phạm
vi ủy quyền nhưng không chấp nhận đơn kháng cáo số 07
ngày 22/8/1994 của Xí nghiệp muối trộn Iốt số 2. Trong vụ
việc này bên A đã luôn thực hiện đúng những thoả thuận
giữa hai bên, những điều bên B đã trình bày như: Bên A
đã tự ý bán hàng khi bên B đưa khách hàng đến để nhận
hàng thì bên A không có hàng để giao đều không được
chấp nhận vì không có bất kỳ một bằng chứng nào để
chứng minh, Bên B đã đơn phương đình chỉ hợp đồng thì
phải bồi thường thiệt hại cho bên A theo đúng quy định
của pháp luật.
Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao giao vụ việc cho Toà án
nhân dân Tỉnh Ninh Thuận xét xử lại từ giai đoạn Sơ thẩm.
+ Huỷ hợp đồng số 41/HĐ và phụ lục số 19/HĐ;
+ Bên A trả lại cho bên B 140.000.000 đồng;
+ Bên B trả cho Bên A những chi phí phát sinh do việc huỷ hợp đồng số 41/HĐ và
Theo định hướng này, Toà án Nhân dân Tỉnh Ninh Thuận đã xét xử tranh chấp như sau:
phụ lục 19/HĐ. Cụ thể là 4.000.000 đồng phí lưu kho của 2.000 tấn muối từ
30/4/1994 đến 8/1994 theo mức phạt hai bên đã thoả thuận là 500 đồng/tấn/tháng
và 2.000.000 đồng các chi phí khác.
Về thực chất bản án này có nội dung giống quyết định số 01/QĐCNSTT
Một vài nhận xét từ vụ tranh chấp trên:
Trong vụ tranh chấp trên mục đích của bên B là huỷ
hợp đồng, bên B xin gia hạn thực hiện không phải để tạo
điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng mà để tìm cớ để huỷ
hợp đồng. Phụ lục số 19/HĐ mới có hiệu lực được 10 ngày,
bên B đã gửi đơn đòi huỷ hợp đồng và phụ lục đó, không
những đã đơn phương huỷ hợp đồng mà bên B còn yêu
cầu bên A bồi thường thiệt hại. Bên A rất có thiện chí với
khách hàng của mình, vừa gia hạn hợp đồng nhiều lần vừa
không tính phí lưu kho đến hết ngày 31/5/1995 nhằm giảm
bớt khó khăn, tạo điều kiện cho bên B thực hiện cam kết
của mình nhưng bên A đã gặp phải một khách hàng không
biết điều. Lẽ ra sau nhiều lần bên B vi phạm cam kết giữa
hai bên, bên A có quyền huỷ hợp đồng và yêu cầu bên B
bồi thường thiệt hại, làm như vậy, quyền lợi của bên A
chắc chắn sẽ được pháp luật bảo đảm. Một điểm nữa cũng
cần phải đề cập đến qua vụ tranh chấp này, là thiết sót của
Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận. Khi tổ chức hoà giải,
đại diện của Toà án đã không yêu cầu đại diện các bên
xuất trình các giấy uỷ quyền và xen xét đầy đủ nội dung uỷ
quyền cũng như các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của
mình, do đó đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận
vượt quá phạm vi uỷ quyền, trái với quy định của pháp
luật (vi phạm Điều 9 Pháp lệnh HĐKT và Điều 22 Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế).
Tuy nhiên, bản án cuối cùng do Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận tuyên xử có
nội dung giống như nội dung của quyết định số 01/QĐ CNSTT mà quyết định
01/QĐCNSTT lại bị huỷ bỏ điều này thật giản đơn là vì yêu cầu của bên B được ghi
trong giấy uỷ quyền không có lý do bên B không có bất kỳ một bằng chứng nào chứng
minh được rằng bên A đã vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên B, giá như khi tổ
chức hoà giải Toà án nhân dân Tỉnh Ninh Thuận xét xử kỹ lưỡng nội dung uỷ quyền và
các chứng cứ kèm theo thì vụ tranh chấp đã có thể được giải quyết một cách nhanh
chóng.
3. Tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế vô hiệu:
Hợp đồng kinh tế vô hiệu là kết quả của việc ký kết HĐKT trái pháp luật. Về mặt
lý thuyết, khi một hợp đồng kinh tế vô hiệu thì các bên không được phép thực hiện nhưng
trong thực tế nhiều HĐKT vô hiệu vẫn được thực hiện và chỉ bị phát hiện và xử lý khi
giữa các bên phát sinh tranh chấp và đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Toà án kinh tế.
HĐKT vô hiệu dưới đây cũng chỉ được phát hiện và xử lý khi có tranh chấp xảy ra.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương Tín (Ngân hàng SGTT) cùng với Công
ty chuối và rau qủa xuất khẩu Pan Việt (Công ty Pan Việt) đã ký với nhau 2 bản HĐKT
có nội dung cơ bản giống nhau, cùng mang số 133/HĐMB - SGTT nhưng một hợp đồng
đề ngày 4/4/1995, một hợp đồng đề ngày 12/4/1995.
Theo hai bản hợp đồng này, Ngân hàng SGTT mua của công ty Pan Việt 6 bộ khung kho
có bao che và các phụ tùng kèm theo, với tổng diện tích là 28.140 m2 đơn giá USD/m2
và tổng trị giá hợp đồng là 1.125.600 USD. Hai hợp đồng trên còn quy định: trong thời
hạn 6 tháng (kể từ ngày 12/4/1995 đến 12/10/1995) công ty Pan Việt phải mua lại toàn bộ
6 bộ khung kho kể trên với giá 42USD/m2, thành tiền là 1.181.880USD, trong trường
hợp công ty Pan Việt không mua lại 6 bộ khung kho thì sẽ phải bồi thường thiệt hại cho
ngân hàng SGTT là 5USD/m2. Ngược lại, nếu ngân hàng SGTT không bán lại 6 bộ
khung kho cho công ty Pan Việt thì phải trả cho công ty Pan Việt 5 USD/m2. Hợp đồng
có hiệu lực không quá 6 tháng, thực chất của giao dịch này là: Công ty Pan Việt là một
công ty có vốn đầu tư nước ngoài, ngày 14/9/1992 Phòng giấy phép XNK Bộ Thương
mại đã cấp giấy phép số 18 và ngày 23/121992 cấp giấy phép số 21 cho công ty Pan Việt
được nhập 6 bộ khung kho cùng phụ kiện để phục vụ dự án đầu tư tại Việt nam, theo
Giấy phép đầu tư số 325/CP ngày 17/2/1992 của Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư.
Tổng trị giá lô hàng nhập khẩu này là1.157.294,78 USD. Sau khi nhập về, số hàng kể trên
được Pan Việt đưa vào gửi tại kho cảng sông I (Tân Thuận) - Thành phố Hồ Chí Minh và
cho đến đầu năm 1995 vẫn chưa sử dụng đến. Do cần tiền mà lại không có tài sản thế
chấp để vay nên Pan Việt đã ký 02 hợp đồng với ngân hàng SGTT như đã nêu trên, mục
đích là để sử dụng vốn ngân hàng SGTT trong khoảng thời gian 6 tháng, khoản chênh
lệch giữa 2 mức giá 40 USD/m2 và 42 USD/m2 được coi là khoản tiền lãi Pan Việt phải
trả cho ngân hàng SGTT. Thực hiện hợp đồng, ngày 11/4/1994 hai bên đã lập biên bản số
151/BB - SGTT giao nhận hàng hoá theo hợp đồng nhưng hàng vẫn để tại kho sông I -
Cảng Tân Thuận.
Ngày 13/4/1995, Ngân hàng SGTT đã giao cho Pan Việt số tiền là 1.125.600 USD tương
đương 12.432.252.000 đồng (theo tỷ giá 11.045 VND/USD) gồm những khoản sau:
- Vào tài khoản của Pan Việt: 200.000 USD
- Tiền mặt giao cho Ông Chang Che Pha: 315.500.000 đồng
- Vào tài khoản tiết kiệm của Ông Chang Che Pha: 3.000.000.000 đồng
- Vào tài khoản của công ty Hải Dương: 6.909.752.000 đồng
theo yêu cầu của Pan Việt.
Sau đó, Ngân hàng SGTT còn giao tiếp cho Pan Việt 162.000.000 đồng tiền lãi trên
3.000.000.000 đồng tại tài khoản tiền tiết kiệm của Ông Chang Che Pha trong 3 tháng
như sau:
- Ngày 15/9/1995: 54.000.000 đồng
- Ngày 17/6/1995: 54.000.000 đồng
- Ngày 15/7/1995: 54.000.000 đồng
Như vậy, tổng cộng ngân hàng SGTT đã giao cho Pan Việt 12.594.252.000 đồng trong
quá trình thực hiện hợp đồng.
Ngày 21/7/1995, Pan Việt gửi văn bản số 159/PV - 95 thông báo và cam kết với Ngân
hàng SGTT rằng từ ngày 15/8/1995 đến ngày 20/8/1995 Pan Việt sẽ mua lại hai bộ khung
kho và sẽ tiếp tục nhận nốt số khung kho còn lại.
Ngày 29/7/1995, Ngân hàng SGTT gửi công văn số 469/CV - SGTT chấp nhận đề nghị
của Pan Việt, đồng thời yêu cầu Pan Việt thực hiện hợp đồng chậm nhất vào ngày
12/10/1995. Nhưng sau đó công ty Pan Việt không thực hiện cam kết trong hợp đồng số
133/HĐMB - SGTT và văn bản số 159/PV - 95 mà Pan Việt gửi cho Ngân hàng SGTT
ngày 21/7/1995, vì vậy Ngân hàng SGTT đã khởi kiện công ty Pan Việt ra Toà án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi xem xét hồ sơ vụ án, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận
thấy: Pan Việt nhập 6 bộ khung kho kèm theo phụ tùng là để phục vụ dự án đầu tư tại
Việt nam, nhưng tại thời điểm Công ty Pan Việt ký hợp đồng để bán lại cho Ngân hàng
SGTT, Pan Việt chưa xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pan Việt chỉ được phép
dùng 6 bộ khung kho đó để xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ dự án đầu tư, không được
phép mua đi bán lại. Đồng thời cho tới tháng 6/1996, Pan Việt vẫn chưa kê khai và nộp
các loại thuế về lô hàng nhập khẩu 6 bộ khung kho theo quy định của Điều 35 Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt nam và Điều 76 khoản 4 Nghị định 18/CP ngày 16/4/1993 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Điều này có
nghĩa là 6 bộ khung kho là đối tượng cấm mua bán theo quy định của pháp luật. Các
hợp đồng kinh tế số 133/HĐMB - SGTT đề ngày 4/4/1995 và 12/4/1995 là vô hiệu toàn
bộ theo quy định của Điều 8 Khoản a Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Với nhận định như
vậy, tại bản án Sơ thẩm số 13/KTST ngày 12/6/1996 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã tuyên xử:
Hai bản hợp đồng kinh tế số 133/HĐMB - SGTT đề ngày 4/4/1995 và 12/4/1995 giữa
công ty Pan Việt và Ngân hàng SGTT là vô hiệu toàn bộ.
Công ty Pan Việt phải chuyển trả Ngân hàng SGTT số tiền là 1.125.600 USD
Ngân hàng SGTT phải giao hàng trả cho công ty Pan Việt 6 bộ khung kho đúng như
tình trạng giao nhận ban đầu giữa hai bên theo biên bản số 151/BB - SGTT ngày
11/4/1995. Côngty Pan Việt không được bán, chuyển nhượng cho nơi khác để đảm bảo
thi hành án.
Mọi thiệt hại phát sinh các bên phải tự chịu;
Buộc công ty Pan Việt phải nộp ngân sách nhà nước số tiền là 162.000.000 đồng từ
khoản tiết kiệm của Ông Chang Che Pha trong 3 tháng ngày 19/6/1996. Công ty Pan Việt
có đơn kháng cáo cho rằng 2 hợp đồng kinh tế đã ký giữa hai bên là hợp pháp, Pan Việt
không có khả năng hoàn trả Ngân hàng SGTT số tiền 1.125.600 USD theo quyết định của
án Sơ thẩm, đề nghị xét xử cho hợp tình hợp lý.
Ngày 22/6/1996, Ngân hàng SGTT có đơn kháng cáo số 576/CV - SGTT đề nghị xét xử
lại theo hướng:
- Buộc công ty Pan Việt phải trả ngay tiền thuê kho mỗi tháng 14.000.000 đồng kể từ
ngày 12/10/1995.
- Ngân hàng SGTT được nhận số tiền lãi 162.000.000 đồng mà Ngân hàng đã chi trả cho
công ty Pan Việt trong 3 tháng về khoản tiền gửi tiết kiệm 3.000.000.000 đồng do Ông
Chang Che Pha đứng tên, thay vì nộp ngân sách Nhà nước vì Ngân hàng SGTT bị thiệt
hại trầm trọng.
- Buộc công ty Pan Việt phải chịu chi phí kiểm kê và sắp xếp hàng trong kho với số tiền
là 202.000.000 đồng.
Nhận được kháng cáo của các bên, Toà phúc thẩm TANDTC cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tiến hành xem xét vụ việc, Hội đồng xét xử của Toà kinh tế TANDTC tại Thành
phố Hồ Chí Minh hoàn toàn đồng ý với kết luận của Toà án Sơ thẩm Thành phố Hồ Chí
Minh cho rằng hai hợp đồng số 133/HĐMB - SGTT vô hiệu toàn bộ ngay từ thời điểm ký
kết, các giấy tờ mà Pan Việt mới xuất trình gần đây: Văn bản số 3755/CQĐĐ - CL ngày
16/8/1996 của Bộ kế hoạch và đầu tư và Văn bản số 9649/TM - XNK ngày 29/8/1996
của Bộ Thương Mại cho phép công ty Pan Việt được bán 6 bộ khung kho nhập khẩu bằng
vốn đầu tư chỉ phù hợp với thời điểm hiện tại (Tháng 8/1996), nếu Pan Việt bán cho nơi
khác, chứ không thể minh chứng cho hợp đồng không hợp pháp đã ký với Ngân hàng
SGTT tại thời điểm tháng 4/1995. Vì vậy, yêu cầu trong đơn kháng cáo của công ty Pan
Việt không được chấp nhận. Tuy nhiên, việc xử lý tài sản theo bản án Sơ thẩm là chưa
phù hợp. Xét các yêu cầu theo đơn kháng cáo của Ngân hàng SGTT:
+ Về khoản 162.000.000 đồng tiền lãi mà Ngân hàng SGTT phải nộp vào ngân sách nhà
nước theo bản án Sơ thẩm: căn cứ vào mục A, Điều 4, Khoản d, văn bản kết luận của Uỷ
ban thẩm phán TANDTC sơ kết một năm công tác giải quyết án kinh tế (1995) thì thu
nhập bất hợp pháp trong hợp đồng mua bán hàng hoá là lợi nhuận (chênh lệch giá) thu
được của việc mua bán đó. Do các bên đương sự chưa thực hiện việc mua đi bán lại hàng
hoá trong hợp đồng, lợi nhuận (chênh lệch giá) chưa phát sinh nên chưa có khoản thu
nhập bất hợp pháp. Khoản 162.000.000 đồng tiền lãi tiết kiệm không phải là khoản chênh
lệch giá (lợi nhuận) của hoạt động mua bán, mà nó nằm trong tổng số tiền Ngân hàng
SGTT đã giao cho Pan Việt khi thực hiện hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ. Do vậy, Pan
Việt phải hoàn trả Ngân hàng SGTT toàn bộ số tiền đã nhận từ việc thực hiện hợp đồng
kinh tế kể trên với tổng số tiền là 12.594.252.000 đồng.
+ Về chi phí kiểm kê sắp xếp hàng hoá tại biên bản giao nhận hàng này 11/4/1995 hai
bên đã xác định: việc kiểm kê lại cụ thể từng chi tiết, chủng loại, hàng mục... và sắp xếp
lại lô hàng hai bên có trách nhiệm cũng như tổ chức thực hiện. Cũng tại phiên toà xét xử
Phúc thẩm, phía công ty Pan Việt đã chấp nhận chịu 50% chi phí này (tức một nửa của
202.000.000 đồng).
+ Về chi phí thuê kho bãi: hợp đồng mua bán khu kho giữa hai bên vô hiệu toàn bộ ngay
từ thời điểm ký kết, không được phép thực hiện kể từ thời điểm ký kết. Vì thế, lẽ ra công
ty Pan Việt phải chịu toàn bộ tiền thuê kho bãi chứa hàng, nhưng do trong việc ký kết và
thực hiện hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ cả hai bên cùng có lỗi, nên tiền thuê kho từ
11/4/1995 đến ngày xét xử sS thẩm mỗi bên phải chịu một nửa. Từ sau ngày xét xử Sơ
thẩm trở đi, công ty Pan Việt phải chịu toàn bộ tiền thuê kho bãi chính hàng.
Cuối cùng với sự phân tích trên, Toà phúc thẩm TANDTC cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh quyết định:
- Bác đơn kháng cáo của công ty Pan Việt;
- Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của Ngân hàng SGTT;
- Áp dụng Điều 8, Điều 39 Pháp lệnh HĐKT về xử lý HĐKT vô hiệu như sau:
+ Hai hợp đồng mua bán số 133/HĐMB- SGTT đề ngày 4/4/1995 và ngày 12/4/1995
giữa Ngân hàng SGTT và Công ty Pan Việt là vô hiệu toàn bộ ngay từ thời điểm ký
kết.
+ Các bên liên quan không được phép tiếp tục thực hiện HĐKT nêu trên.
+ Ngân hàng SGTT có trách nhiệm giao trả Công ty Pan Việt toàn bộ 6 bộ khung kho
cùng phụ kiện kèm theo đã nhận của Pan Việt từ việc thực hiện hợp đồng kinh tế nêu
trên.
+ Công ty Pan Việt có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng SGTT toàn bộ số tiền
ngân hàng đã chi trả liên quan đến việc thực hiện hợp đồng kinh tế nêu trên bao gồm
các khoản sau:
(cid:0) Khoản tiền nhận theo hợp đồng là 12.594.252.000 đồng
(cid:0) 50% chi phí kiểm kê, sắp xếp hàng trong kho;
(cid:0) 50% chi phí thuê kho từ 11/4/1995 đến ngày xét xử Sơ thẩm (12/6/1996) và
+ Tiền thuê kho từ ngày 20/9/1996 trở đi (Ngân hàng SGTT chưa thanh toán) Công
100% chi phí thuê kho từ 12/6/1996 đến 20/9/1996.
ty Pan Việt phải thanh toán cho cảng sông I Tân Thuận. Ngân hàng SGTT Phải
chịu những chi phí sau:
(cid:0) 50% chi phí kiểm kê, sắp xếp hàng trong kho;
(cid:0) 50% chi phí thuê kho từ 11/4/1995 đến ngày xét xử Sơ thẩm (12/6/1996).
Hội đồng xét xử cũng nhắc nhở hai bên về việc ký kết hai hợp đồng kinh tế cùng
số (133/HĐMB - SGTT) khác ngày (ngày 4/4/1995 và ngày 12/4/1995) vi phạm quy định
về lưu trữ hồ sơ.
Một vài nhận xét rút ra từ thực tiễn giải quyết tranh chấp kể trên:
Trước hết: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các chủ thể hợp đồng kinh tế chưa cao,
nhiều thiết sót đáng tiếc đã xảy ra trong khi ký kết cũng như thực hiện hợp đồng. Có khi
hợp đồng vừa ký xong đã xin huỷ ngay vì chưa có nguồn tiêu thụ mà nguyên nhân là do
bên mua chưa khảo sát kỹ thị trường trước khi ký kết hợp đồng. Có trường hợp bên bán
chưa giao hàng mà bên mua đã giao toàn bộ tiền hàng và đã gặp nhiều khó khăn trong
việc đòi lại tiền khi bên bán không thực hiện hợp đồng.
Hai là: Hiểu biết về pháp luật của các nhà kinh doanh còn hạn chế, điều này được thể
hiện ở một số ví dụ như: các chủ thể HĐKT không nắm rõ năng lực ký kết hợp đồng của
đối tác, chế định uỷ quyền và các quy định về đối tượng HĐKT dẫn đến ký kết các
HĐKT vô hiệu, mà hậu quả là các bên phải chịu xử lý tài sản theo pháp luật.
Ba là: Các tranh chấp nhiều khi không có gì phức tạp vẫn xảy ra do ý thức pháp luật của
các chủ thể hợp đồng chưa cao. Một số doanh nghiệp chưa nhận thức được rằng việc thực
hiện một cách đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế không chỉ đảm bảo quyền lợi
cho phía bên kia mà còn vì lợi ích của chính bản thân mình, chỉ khi nào các bên thực hiện
nghiêm chỉnh các cam kết trong hợp đồng, không vi phạm pháp luật, lợi ích của họ từ
hợp đồng kinh tế đó mới được đảm bảo, bất kỳ một hành vi lừa bị đối phương hay cố ý vi
phạm hợp đồng kinh tế của một bên xuất phát từ lợi ích của riêng mình, sớm muộn sẽ bị
phát hiện và xử lý.
II. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIỀN KHỞI
KIỆN
1. Thương lượng:
Thương lượng trực tiếp giữa 2 bên: là phương pháp giải quyết tranh chấp thường
được áp dụng, thương lượng trực tiếp là việc các bên đương sự cùng nhau trao đổi, đấu
tranh, nhân nhượng và thoả thuận giải quyết tranhh chấp, kết quả của việc thương lượng
trực tiếp có thể là tranh chấp giữa các bên được giải quyết.
Thương lượng trực tiếp có thể tiến hành bằng 2 cách, hai bên gặp nhau để thoả
thuận thương lượng hoặc một bên gửi đơn khiếu nại cho bên kia và bên kia trả lời khiếu
nại.
Thương lượng bằng cách hai bên gặp nhau: Khi tranh chấp phát sinh hai bên gặp
nhau để thoả thuận, thương lượng, và có thể bộc lộ ý định của mình một cách thẳng thắn,
nêu hết ý kiến của mình, nắm bắt và thấu hiểu được nguyện vọng của bên kia và do đó
tranh chấp có thể giải quyết, Tuy nhiên, thương lượng bằng cách gặp nhau thường tốn
kém chi phí và thời gian Vì vậy, hai bên thường gặp nhau để thương lượng khi có điều
kiện thuận lợi và đối với những tranh chấp phức tạp có giá trị lớn, mặt khác, hai bên cũng
có thể gặp nhau để thương lượng sau khi đã thương lượng bằng khiếu nại và trả lời khiếu
nại mà chưa đạt kết quả.
Thương lượng trực tiếp bằng khiếu nại và trả lời khiếu nại: thông thường bên vi
phạm gửi đơn kiện khiếu nại kèm theo các chứng từ làm bằng chứng cho bên bị vi phạm
và bên vi phạm trả lời đơn khiếu nại đó. Việc gửi đơn khiếu nại và trả lời đơn khiếu nại
được thực hiện thông qua thư từ, telex, fax ... kết quả của việc thương lượng sẽ mang lại
hậu quả pháp lý là thoả mãn yêu cầu của 2 bên đương sự.
Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp: các vấn đề định đưa ra tưởng chừng được bên kia
chấp nhận nhưng khi đó mới phát hiện ra một kẽ hở chưa tính đến, vì chúng mà có thể
ảnh hưởng tới các phần nằm ngoài nội dung tranh chấp được đưa ra thương lượng trên
bàn hội nghị. Trong trường hợp ấy cần thiết phải mở rộng toàn bộ vấn đề xem xét, bổ
sung thêm những nội dung mới cho kín kẽ, nếu cùng lúc có nhiều giải pháp, nên cần cân
nhắc kỹ, đề cập tới mọi khía cạnh của vấn đề để chọn lựa phương án thích hợp nhất cho
cả hai bên.
Nhiều lúc cuộc thương lượng trở nên bế tắc là do hai bên hiểu nhầm nhau, xuất phát từ
một nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan nào đó. Khi ấy, dù có cố gắng trình bày, giải
thích bao nhiêu và như thế nào đi chăng nữa thì cũng vô ích vì mỗi bên chỉ cần nghe điều
mà họ muốn. Cuộc thảo luận trở nên tản mát, thiếu tính xây dựng vì ai cũng muốn bảo vệ
quan điểm riêng của mình, gạt bỏ quan điểm của người khác, cho là thiếu cơ sở và không
có tính khả thi. Gặp trường hợp này nên tránh sa đà vào những cuộc cãi vã vô ích mà chủ
động hướng các bên vào vấn đề chính của cuộc thương lượng. Trước hết cần phải xác
định lại quan điểm của nhau xem mỗi bên có hiểu đúng ý phía kia hay không. Cũng có
trường hợp tất cả chỉ tại hai bên không hiểu nhau, bình tĩnh trình bày lại cách đặt vấn đề
của bên đối tác xem có đúng như vậy hay đã bị hiểu nhầm và đề nghị phía bên kia cũng
làm động tác tương tự, chỗ nào có sự hiểu lầm cần uốn nắn và liên hệ trực tiếp với vấn đề
tranh chấp chính.
Thông thường trong các cuộc thương lượng giải quyết tranh chấp các bên sẽ theo đuổi lợi
ích mà mình quan tâm hơn là vấn đề của người khác. Nhiều khi do chú trọng vào quyền
lợi của mình mà các bên tranh chấp đã đi quá xa những tư tưởng chính không thể nhất trí
được vấn đề nào, điều quan trọng là phải tìm ra được những điểm tương đồng của cả hai
bên đương sự. Trong thực tế trước khi lên đường đi thương lượng các bên thường cắt cử
một người chỉ làm nhiệm vụ ngồi nghe để phát hiện những sơ hở của đối phương cũng
như các sai sót của phía mình để kịp tời thay đổi chiến thuật đàm phán, người được giao
trọng trách này phải có rất nhiều kinh nghiệm và không bao giờ tham gia tranh luận, sự
phát hiện của người này nhiều khi quyết định sự thành bại của cả cuộc thương lượng.
Những chú ý khi áp dụng phương pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
- Nghiên cứu kỹ vấn đề tranh chấp để tìm ra nguyên nhân phát sinh, sự nghiên cứu thoả
thuận, phân tích nên được tiến hành ở trụ sở mỗi bên, tránh tình trạng thảo luận từng bên
khi thương lượng.
- Đại diện thương lượng phải là người có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có khả
năng diễn giải lập luận.
- Chuẩn bị đầy đủ các chứng từ liên quan đến tranh chấp;
- Trong thương lượng nên giữ thái độ ôn hoà, tránh nổi nóng để duy trì thiện chí của tất
cả các bên;
- Đối với những tranh chấp phát sinh có tính chất phức tạp (ví dụ như liên quan đến công
nghệ, lixăng, bí quyết kỹ thuật...) Có thể cần có sự tham gia của các cố vấn trung lập để
hỏi họ về chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật nhằm giúp cho việc thương lượng tránh bế tắc;
2. Hoà giải
Hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự thông qua
người thứ 3 gọi là hoà giải viên. Hoà giải viên đóng vai trò là người trung gian, tiến hành
họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung với cả hai bên để hiểu rõ nội dung tranh chấp,
lý giải, phân tích cho các bên thấy rõ lợi ích của mình và lợi ích của bên kia nhằm giúp
các bên tìm ra một giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp một cách hợp lý, hợp tình.
Hoà giải viên không tổ chức các phiên họp xét xử và cũng không có quyền đưa ra
quy định.
Hoà giải có thể tiến hành bằng 2 cách:
Một là: Các bên đương sự tự thoả thuận với nhau về hoà giải, cùng nhau chỉ định hoà
giải viên và tiến hành hoà giải, không bắt buộc phải tuân theo một quy tắc hoà giải nào.
Hai là: Các bên thoả thuận hoà giải theo quy tắc hoà giải của một tổ chức nghề nghiệp
hoặc một tổ chức trọng tài nào đó, ví dụ theo quy tắc hoà giải của Phòng Thương mại
Quốc tế (ICC).
Hoà giải là không bắt buộc, do vậy các bên có thể bỏ qua bước hoà giải, nhưng
nếu trong hợp đồng có quy định tranh chấp trước hết được giải quyết bằng thương lượng
và hoà giải thì hoà giải trở thành bắt buộc.
Hoà giải có sự tham gia của người thứ 3 chỉ nên chọn khi cả hai bên có thiện chí
sẵn sàng chấp nhận những ý kiến khách quan hợp lý, hợp tình và trong trường hợp hai
bên đã thương lượng rồi nhưng còn một số vấn đề chưa thống nhất được mà phải cần có ý
kiến khách quan của một chuyên gia, của một hoà giải viên.
2.1 Thủ tục tiến hành hoà giải:
a. Đề xuất việc hoà giải: Khi có tranh chấp xảy ra bất cứ bên nào cũng có thể đơn
phương chủ động đề nghị giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, bằng cách báo cho bên kia
bằng miệng hoặc bằng văn bản, gợi ý lựa chọn một người trung gian làm hoà giải viên,
nhằm đưa ra các biện pháp để giải quyết tranh chấp, nếu trong hợp đồng có thoả thuận thì
việc hoà giải phải thực hiện.
b. Lựa chọn người hoà giải: Khi giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, người hoà giải bắt
Yêu cầu đối với người hoà giải
buộc phải được sự đồng ý của các bên.
Việc lựa chọn được một người hoà giải giỏi là rất quan trọng, một người hoà giải giỏi
không có thẩm quyền độc lập như các thẩm phán hoặc trọng tài viên nhưng nếu người
hoà giải giỏi và nhiều kinh nghiệm sẽ được các bên đương sự tin cậy.
Người hoà giải cần có các tiêu chuẩn sau:
- Hoàn toàn công bằng vô tư và có kiến thức chuyên môn;
- Lịch sự, khéo trong giao tiếp.
- Phải nắm vững pháp luật và thực tế của vụ tranh chấp;
- Có thể xử lý nhanh những vấn đề phức tạp và tìm ra điểm mấu chốt của vấn đề;
- Là người sáng tạo, có đầu óc tưởng tượng phong phú và là người khéo léo khi đưa ra
các giải pháp để giải quyết tranh chấp;
- Là người kiên trì, năng động;
- Đã từng là người hoà giải;
Mức độ phức tạp của vụ việc sẽ ảnh hưởng tới việc
lựa chọn người hoà giải. Tuy nhiên, đối với những vụ phức
tạp người hoà giải cần trợ lý, tốt nhất là người hoà giải
thảo luận những giải pháp với một người trung gian mà
người này biết về vụ tranh chấp. Đôi khi, sử dụng hai
người hoà giải cũng có những thuận lợi, mỗi người đại diện
cho những lĩnh vực khác nhau thông qua các cuộc trao đổi
họ sẽ tìm ra biện pháp giải quyết tranh chấp hợp lý thoả
đáng đối với các bên.
Vai trò của người hoà giải rất rộng, vừa là người sắp xếp các cuộc họp, vừa là
người đề ra các giải pháp và thuyết phục các bên cùng nhau đàm phán và chấp nhận giải
pháp đó, dưới đây là một số điều kiện quy định về vai trò của người hoà giải:
- Yêu cầu các bên đàm phán họp chung với nhau;
- Giúp các bên hiểu rõ toàn bộ trình tự hoà giải;
- Tạo ra một môi trường phù hợp cho việc đàm phán;
- Giúp các bên thoả thuận lịch làm việc;
- Lập lịch làm viêc;
- Giúp các bên hiểu rõ các vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp và quá trình hoà giải;
- Giúp các bên nhận thức được thực tế vụ tranh chấp và đối mặt với thực tế đó;
- Trao đổi thông tin giữa các bên;
- Gợi ý các giải pháp có thể;
- Thuyết phục các bên đồng ý với nhau một giải pháp nhất định;
Khi tham gia vào quá trình hoà giải, các bên cần thống nhất về vai trò của người
hoà giải và phải thông báo cho người hoà giải biết, người hoà giải sẽ tiến hành hoà giải
tuỳ theo kinh nghiệm trực giác, tuỳ theo kiến thức pháp luật của mình, tuỳ theo thực tế vụ
tranh chấp số bên tham gia vào tranh chấp nhiều hay ít và quan hệ của các bên với nhau.
Nói chung, người hoà giải giải quyết thành công nhờ một lịch làm việc hợp lý, điều khiển
quá trình hoà giải bằng thái độ vừa kiên quyết vừa mềm dẻo và nếu cần phải thuyết phục
các bên đồng ý với giải pháp có lợi cho cả đôi bên. Tuy nhiên, càng nhiều bên tham gia
vào tranh chấp thì việc hoà giải càng phức tạp.
c. Đề ra quy tắc cơ bản của quá trình hoà giải:
Khi các bên đã lựa chọn người hoà giải, người hoà giải sẽ gặp đại diện của các bên để
cùng thảo luận các quy tắc cơ bản sau đây:
- Hoà giải phải tự nguyện, không mang tính chất bắt buộc;
- Các bên có thể rút lui khỏi quá trình hoà giải bất cứ lúc nào miễn là trước khi đưa ra giải
pháp cuối cùng bằng văn bản.
- Người hoà giải phải là người điều khiển quá trình hoà giải, các bên phải hết sức giúp đỡ
+ Người hoà giải được tự do liên lạc hoặc gặp riêng từng bên.
+ Người hoà giải được quyền quyết định khi nào gặp riêng từng bên và khi nào họp
người hoà giải gồm:
chung với tất cả các bên. Người hoà giải được quyền thay đổi thời gian, địa điểm
+ Người hoà giải có quyền yêu cầu các bên hoặc đại diện của họ không được trực
họp mặt giữa các bên và có thể yêu cầu các bên không ghi lại nội dung cuộc họp.
tiếp liên lạc với nhau nếu không có sự đồng ý của người hoà giải.
- Đại diện của các bên có thể là một hoặc nhiều người. Người hoà giải có quyền hạn chế
số người đại diện của các bên nhưng mỗi bên phải có ít nhất một đại diện tham gia
thương lượng nhằm tháo gỡ tranh chấp.
- Qúa trình hoà giải phải nhanh chóng, đại diện của các bên phải có mặt tại cuộc họp với
người hoà giải.
- Người hoà giải sẽ không trao đổi thông tin của bên nọ cho bên kia hoặc cho bên thứ ba
trừ khi các bên yêu cầu.
- Toàn bộ quá trình hoà giải phải được giữ bí mật. Các bên và người hoà giải không được
tiết lộ các thông tin có liên quan đến quá trình hoà giải cho người khác, trừ khi các bên đã
đồng ý.
- Trong suốt quá trình hoà giải, các bên nên tránh phải nhờ đến sự can thiệp của Toà án vì
có thể làm tổn hại đến quyền lợi pháp lý của họ.
- Nếu tranh chấp không thể giải quyết bằng hoà giải mà phải đưa ra Toà, người hoà giải
sẽ không đóng góp vai trò là trọng tài viên trừ khi các bên và người hoà giải cùng thoả
thuận bằng văn bản.
- Người hoà giải có thể nhờ các chuyên gia độc lập trợ giúp với sự đồng ý của các bên.
Các chuyên gia này cũng phải cam kết không tiết lộ thông tin có liên quan đến quá trình
hoà giải.
- Người hoà giải sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý về những sai lầm (nếu có) trong
quá trình hoà giải.
- Người hoà giải có thể huỷ bỏ vai trò hoà giải của mình bất cứ lúc nào bằng cách thông
+ Vì lý do cá nhân;
+ Vì người hoà giải tin rằng dù có tiếp tục quá trình hoà giải cũng sẽ không đem lại
báo cho các bên bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do sự rút lui của mình:
kết quả.
d. Gặp gỡ người hoà giải:
Trước khi tiến hành hoà giải, các bên phải đệ trình một bản tóm tắt về vụ tranh
chấp, có thể trình bày bằng miệng hoặc bằng văn bản. Người hoà giải có thể yêu cầu các
bên cung cấp thông tin và các văn bản có liên quan đến vụ tranh chấp.
Người hoà giải thường khuyến khích các bên trao đổi cho nhau các văn bản và chi tiết có
liên quan đến vụ tranh chấp mà họ đã cung cấp cho người hoà giải vì việc trao đổi đó
giúp các bên hiểu rõ quan điểm của nhau hơn, từ đó dễ đi đến một thoả thuận chung
nhằm giải quyết tranh chấp. Nếu các bên không đồng ý trao đổi thông tin thì người hoà
giải phải giữ kín tất cả các văn bản và các chi tiết liên quan đến vụ tranh chấp. Đại diện
của từng bên không có quyền chất vấn người hoà giải về những thông tin mà bên kia
cung cấp. Tuỳ theo yêu cầu của các bên, người hoà giải sẽ trao trả lại những tài liệu mà
các bên đã gửi sau khi quá trình hoà giải kết thúc.
e. Trao đổi thông tin giữa các bên:
Nếu các bên thoả thuận không trao đổi tài liệu và thông tin, khi cần mỗi bên có
thể yêu cầu người hoà giải tổ chức một cuộc họp chung nhằm tìm hiểu thông tin từ phía
bên kia để cùng thoả thuận giải quyết tranh chấp.
g. Đàm phán về các điều kiện để giải quyết tranh chấp:
Người hoà giải được tuỳ ý lựa chọn cách giải quyết nào mà mình coi là hiệu quả
nhất để giải quyết tranh chấp, khi người hoà giải đã nắm vững thực tế của vụ việc tranh
chấp, thì người hoà giải sẽ cùng thảo luận cách giải quyết trong cuộc họp chung hoặc
riêng với các bên.
Nếu các bên không thoả thuận trước rằng sẽ giành quyền chủ động đưa ra các
phương hướng giải quyết tranh chấp thì người hoà giải sẽ đưa ra phương hướng giải
quyết và lý giải tại sao lại chọn phương hướng đó.
Các bên phải cùng nhau thảo luận để có thể đi tới một thoả thuận chung nhằm giải
+ Một giải pháp được đưa ra bằng văn bản;
+ Người hoà giải thông báo với các bên rằng tiếp tục hoà giải cũng sẽ không đem
quyết tranh chấp cho đến khi:
+ Nếu có hai bên tham gia tranh chấp mà một bên rút khỏi quá trình hoà giải, thì
lại kết quả.
+ Nếu có ba bên trở lên tham gia tranh chấp mà một bên rút lui thì các bên còn lại
hoà giải sẽ chấm dứt.
sẽ quyết định có tiếp tục hoà giải nữa hay không.
h. Giải pháp:
Khi các bên đã đạt được một thoả thuận chung, người hoà giải hoặc đại diện của
một bên phải thảo một văn bản ghi rõ giải pháp giải quyết tranh chấp gồm các điều khoản
có liên quan. Bản phác thảo này sẽ được sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của các bên, sau
đó các bên ký nhận và phải được thực hiện.
3. Các bước của quá trình hoà giải:
Quá trình hoà giải phụ thuộc rất nhiều vào mức độ xung đột của các bên. Nếu các
bên căng thẳng với nhau thì sẽ rất khó hoà giải, ngược lại mọi tranh chấp sẽ được giải
quyết nhanh chóng nếu các bên bình tĩnh đàm phán.
Bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng nhất trong quá trình hoà giải, đó là khi
các bên cùng gặp nhau để thoả thuận rằng sẽ dùng biện pháp hoà giải để giải quyết tranh
chấp, khi đó các bên sẽ bớt căng thẳng và sẽ cùng hướng tới vụ việc tranh chấp, xem xét
và công tác với nhau để cùng giải quyết vấn đề. Đại diện của các bên và người hoà giải sẽ
cùng làm việc, tìm ra những phương án đó để giải quyết tranh chấp. Khi các bên cùng
đồng ý với cách giải quyết đó thì việc hoà giải coi như đã thành công.
Trong hoà giải, không có một quá trình hoà giải nào được coi là hoàn hảo cả. Tuy
nhiên, dựa vào các vụ tranh chấp đã được giải quyết thành công thì trình tự dưới đây
được coi là khá lôgic và đạt hiệu quả cao:
Bước 1: Gặp gỡ người hoà giải với các bên:
Cuộc gặp gỡ giữa các bên với người hoà giải là rất cần thiết
vì một số lý do sau:
- Các bên có thể đánh giá được trình độ của người hoà giải;
- Người hoà giải có thể thảo luận với các bên về các vấn đề có liên quan đến quá
trình hoà giải như: các quy tắc cơ bản của quá trình hoà giải (thảo luận và sửa đổi
cho hợp lý), lịch làm việc với các bên...
- Các bên có thể thoả thuận về vai trò của người hoà giải mà họ yêu cầu;
- Các bên sẽ giúp người hoà giải hiểu sơ qua về vụ tranh chấp;
- Cuộc gặp gỡ này sẽ giúp người hoà giải hiểu rõ rằng các bên có thiện chí giải
quyết tranh chấp bằng hoà giải;
- Trong các cuộc gặp gỡ này, các bên sẽ cử ra đại diện của mình và thảo luận về
mức độ uỷ quyền của người đại diện này. Nếu vụ tranh chấp có số tiền lớn thì các
bên không nên uỷ quyền hoàn toàn cho người đại diện ký vào văn bản cuối cùng
mà chỉ nên uỷ quyền tương đối. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc trao đổi
tài liệu nếu cần.
Bước 2: Giúp người hoà giải nắm vững vụ tranh chấp:
Để giải quyết tranh chấp thì bước tiếp theo, người hoà giải phải nắm vững vụ
việc, người Hoà giải sẽ yêu cầu các bên gửi tài liệu cần thiết về vụ tranh chấp. Tài liệu
quan trọng nhất: là một bản tóm tắt về vụ tranh chấp, nếu các bên thoả thuận sẽ trao đổi
tài liệu thì việc trao đổi tài liệu sẽ được tiến hành ở giai đoạn này.
Sau khi đã nộp các tài liệu thì tiến hành cuộc họp thứ hai giữa các bên và người
hoà giải. Trong cuộc họp này, đại diện của các bên sẽ trình bày quan điểm của mình và
bác bỏ những ý kiến của bên kia nếu như chúng được xem là sai trái, các bên được tự do
trình bày theo cách của mình nhưng người hoà giải có quyền hạn chế về thời gian. Người
hoà giải được tự do hỏi các bên chi tiết để hiểu rõ vụ việc và có thể yêu cầu không ghi lại
biên bản cuộc họp này.
Tại cuộc họp riêng, người hoà giải sẽ gặp gỡ riêng với từng bên. Tại cuộc gặp gỡ
riêng này, các bên có thể sẽ trình bày trung thực hơn, vì thế người hoà giải có thể tìm
hiểu được các thông tin chính xác hơn mà các bên không tiết lộ trong cuộc họp chung,
người hoà giải có thể tìm hiểu kỹ hơn một số khía cạnh trong lần trình bày trước hoặc yêu
cầu các văn bản pháp lý có liên quan.
Để hoà giải có hiệu quả thì người hoà giải nên giữ kín mọi chi tiết trong quá trình
hoà giải và phải kiểm soát được mối liên lạc của các bên. Người hoà giải có thể yêu cầu
đại diện của các bên không được tự do liên lạc với nhau mà không được sự cho phép của
người hoà giải.
Bước 3: Xác định thực chất của vụ tranh chấp
Qua bản tường trình, tài liệu mà các bên đã nộp cùng ý kiến trình bày với biên
bản tại các cuộc họp của các bên, người hoà giải có thể thấy được các bên nhìn nhận sự
việc sẽ rất khác nhau, người hoà giải phải xác định được những sự khác nhau đó và tìm
cách giúp các bên nhìn nhận sự việc một cách thống nhất. Trong hoà giải, không có một
biện pháp giải quyết chung nào mà người hoà giải phải xử lý một cách linh hoạt tuỳ vào
từng trường hợp cụ thể.
Bước 4: Thương lượng để tìm ra một giải pháp
Việc thương lượng sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi các bên tập trung vào những lợi
ích thiết yếu của mình để đàm phán, tránh thảo luận những vấn đề phụ, không cần thiết vì
những vấn đề ấy có thể làm các bên mất quyền lợi của bản thân họ và lợi ích của bên kia,
tránh xung đột, thúc đẩy các bên cùng hợp tác để tìm hướng giải quyết có lợi cho tất cả
các bên.
Người hoà giải phải tóm tắt bản tường trình, xác định rõ lợi ích của các bên và tìm ra một
giải pháp.
Dựa vào các cuộc họp riêng với từng bên, thông thường những người hoà giải
giỏi, giàu kinh nghiệm biết trong trường hợp nào thì ngưòi hoà giải đề xuất phương
hướng giải quyết và trường hợp nào các bên nên tự mình đề xuất. Hướng giải quyết được
coi là hợp lệ phải có sự đồng ý của tất cả các bên. Nếu một bên đề xuất một phương
hướng giải quyết với người hoà giải thì người hoà giải không đựơc phép bác bỏ, trừ khi
người hoà giải biết chắc rằng phương án đó không hợp lý, người hoà giải sẽ chỉ đề xuất
hướng giải quyết sau khi đã tìm hiểu rõ nguyện vọng và lợi ích của tất cả các bên.
Biện pháp giải quyết tranh chấp được đề xuất đầu tiên, dù xuất phát từ phía nào đi
chăng nữa, cũng chưa chắc đã là biện pháp cuối cùng, có thể nó sẽ là cơ sở để các bên
tiến hành thương lượng, ở giai đoạn này, những nhà hoà giải giỏi sẽ đóng vai trò con thoi
ngoại giao như gặp mặt từng bên để làm cầu nối các bên lại với nhau hoặc để tìm ra một
giải pháp có tính chất khả thi hơn. Một số người hoà giải khác tổ chức những cuộc họp
chung giúp các bên xích lại gần nhau. Có trường hợp người hoà giải gặp những người
chủ chốt của các bên (gặp riêng hoặc chung) để có thể tìm ra một giải p háp hợp lý, khi
tất cả các bên đã đồng ý với một giải pháp thì người hoà giải hoặc đại diện của một bên
sẽ thảo một bản thoả thuận, văn bản này sẽ đựoc in ra nếu cần và phải được thực hiện.
4. Thời gian hoà giải:
Thời gian hoà giải nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ phức
tạp của vụ việc, số bên tham gia vào tranh chấp nhiều hay ít, mức độ khó khăn khi tìm
hiểu thực chất vụ việc và tìm ra giải pháp. Tuy nhiên, thời gian hoà giải có thể sẽ tính
theo tháng, tuần hoặc ngày chứ không kéo dài quá một năm. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu
tiên, người hoà giải nên thông báo cho các bên biết mỗi giai đoạn của quá trình hoà giải
sẽ kéo dài bao lâu.
Thông thường, các bên nhấn mạnh một điều kiện với người hoà giải, đó là: Một
trong các bên có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nếu người hoà giải
không giải quyết được tranh chấp đó sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên, điều kiện
này sẽ bị huỷ bỏ nếu như sau một thời gian quy định nào đó người hoà giải đã đưa vụ
việc vượt qua giai đoạn khó khăn nhất và có thể đạt được một thoả thuận giữa các bên
trong tương lai gần nhất.
III. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG TÒA ÁN
1. Thủ tục tố tụng vụ án kinh tế
1.1.1 Khởi kiện và thụ ký vụ án kinh tế:
1.1 Thủ tục xét xử sơ thẩm:
a. Khởi kiện vụ án kinh tế: Là việc cá nhân, pháp nhân có quyền khởi kiện vụ án
kinh tế theo thủ tục pháp luật qui định để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu toà án giải quyết vụ án kinh tế.
Đơn kiện phải có đầy đủ các nội dung sau:
- Ngày tháng năm viết đơn;
- Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án;
- Tên của Nguyên đơn, Bị đơn;
- Địa chỉ của Nguyên đơn, Bị đơn;
- Tóm tắt nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp;
- Quá trình thương lượng của các bên;
- Các yêu cầu, đề nghị toà xem xét giải quyết.
Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp trong thời hạn
6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác. Nếu
quá thời hạn đó thì đuơng sự mất quyền khởi kiện và toà án sẽ không thụ lý. Đơn kiện
được gửi kèm theo các tài liệu, chứng từ, công văn trao đổi… để chứng minh và bảo vệ
quyền lợi của mình:
Đơn kiện sẽ bị trả lại trong những trường hợp sau:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
- Thời hiệu khởi kiện đã hết;
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
- Sự việc không thuộc thẩm quyền của toà án;
- Sự việc đã được các bên thảo thuận trước là phải giải quyết bằng thủ tục trọng tài;
b. Thụ lý vụ án kinh tế:
Khi toà án nhận đơn khởi kiện phải xem xét nếu thấy vụ việc thuộc thẩm quyền
giải quyết của mình thì phải thông báo cho nguyên đơn biết và yêu cầu nộp tiền tạm ứng
án phí theo qui định của pháp luật. Toà án chỉ vào sổ thụ lý vụ án khi nguyên đơn đã xuất
trình chứng từ đã nộp tiền tạm ứng án phí theo qui định tại Nghị định số 70CP ngày
12/6/1997 của Chính phủ về lệ phí toà án. Kể từ thời điểm thụ lý vụ án toà án sẽ phân
công Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ việc và các giai đoạn của tố tụng kinh tế đã được
1.1 2 Chuẩn bị xét xử:
bắt đầu.
Trong giai đoạn này toà án cần phải tiến hành những hoạt động và phải ra một số
quyết định theo quy định của pháp luật. Công việc chủ yếu của toà án trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử gồm có:
- Sau khi thụ lý vụ án, toà án phải thông báo cho phía bị đơn và những người có quyền lợi
liên quan đến vụ việc mà nguyên đơn đã khởi kiện trong thời hạn là 10 ngày, đồng thời
những người này phải gửi ý kiến của mình về nội dung đơn kiện và cung cấp cho toà án
những tài liệu có liên quan đến vụ án đó cũng trong thời hạn là 10 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo đó. Toà án có thể tiến hành xác minh, thu thập các chứng cứ, tài liệu để
chuẩn bị cho việc xét xử.
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xét thấy cần thiết toà án có thể tiến hành hoặc uỷ
thác cho toà án khác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết
của vụ án nhưng không có nghĩa vụ phải điều tra.
+ Yêu cầu đương sự cung cấp bổ xung chứng cứ hoặc trình bày những vấn đề cần
Việc xác minh thu thập chứng cứ bao gồm nhiều biện pháp khác nhau:
+ Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý
thiết;
+ Yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn đề cần thiết;
+ Yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập Hội đồng định giá tài sản có tranh
nghĩa cho việc giải quyết vụ án;
+ Xác minh tại chỗ;
+ Trưng cầu giám định;
chấp;
- Trước khi mở phiên toà, toà án phải tiến hành hoà giải giữa các đương sự, đây là công
việc bắt buộc toà án phải tiến hành trong tố tụng kinh tế, hoà giải có thể được tiến hành
trong bất kỳ giai đoạn nào. Khi các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ
án thì toà án phải lập Biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả thuận
của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật nếu hoà giải không thành thì toà
án cũng phải lập biên bản hoà giải không thành và chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử.
- Sau khi thụ lý vụ án trong thời hạn 40 ngày (đối với những vụ án phức tạp thời hạn
+ Đưa vụ án ra xét xử;
+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
+ Đình chỉ giải quyết vụ án.
không quá 60 ngày) toà án phải ra một trong các quyết định sau:
Một là: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, gồm các nội dung sau:
Ngày, tháng, năm địa điểm mở phiên toà;
Việc xét xử được tiến hành công khai hoặc kín;
Tên của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác;
Nội dung tranh chấp;
Họ và tên của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên toà; Họ và tên của Kiểm sát viên
nếu Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp các đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Hai là: Quyết định tạm thời đình chỉ giải quyết vụ án
Sau khi thụ lý vụ án, toà án không nhất thiết phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải
quyết vụ án: lý do ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án gồm:
Nguyên đơn hoặc Bị đơn là cá nhân đã chết, pháp nhân đã giải thể mà cá nhân, pháp
nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do
chính đáng;
Chưa tìm được địa chỉ của Bị đơn hoặc Bị đơn bỏ chốn;
Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự và vụ án kinh tế khác.
Đã có toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là
đương sự của vụ án;
Trong khi đang giải quyết vụ án có liên quan đến doanh nghiệp mà phát hiện doanh
nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản, trong trường hợp này toà án thông báo cho các chủ
nợ, doanh nghiệp hữu quan biết.
Khi những lý do tạm đình chỉ nêu trên không còn thì toà án tiếp tục giải quyết vụ án.
Ba là: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án:
Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau:
Nguyên đơn hoặc Bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được
thừa kế, pháp nhân đã giải thể mà không có cá nhân, pháp nhân kế thừa nghĩa vụ tố tụng.
Người khởi kiện rút đơn kiện;
Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt;
Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày toà án thụ lý vụ án;
Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án;
Đã có quyết định của toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án.
Quyết định đình chỉ của vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị trừ trường hợp người khởi
kiện rút đơn kiện.
1.1 3 Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế
a. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn 10 ngày toà án phải mở phiên
toà, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn đó không quá 20 ngày.
Nếu Viện kiểm sát tham gia phiên toà Sơ thẩm thì ngay sau khi ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử toà án phải đưa vụ án cho Việt kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời
hạn 5 ngày.
Yêu cầu của việc xét xử là kiểm tra đánh giá lại toàn bộ chứng cứ đã thu thập
được trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn pháp luật để giải quyết chính xác quyền và nghĩa
vụ của các đương sự để ra bản án phù hợp với sự thật khách quan, đúng pháp luật.
Giai đoạn tố tụng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nếu toà án ra bản án phù
hợp với sự thật khách quan đúng pháp luật thì bản án có hiệu lực ngay và vụ án được giải
quyết dứt điểm, song nếu xét xử sai thì bản án sẽ bị kháng cáo, kháng nghị việc giải quyết
vụ án kéo dài làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc kinh doanh của các bên.
Hội động xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:
Đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng, Kiểm sát viên vắng mặt trong
trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu tham gia phiên toà;
Người làm chứng vắng mặt mà cần được lấy lời khai hoặc xác minh lời khai tại phiên
toà;
Thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, người giám định, người
phiên dịch bị thay đổi mà không có người thay thế, phiên toà sơ thẩm vụ án kinh tế được
tiến hành dưới sự điều khiển của một Hội đồng xét xử gồm 2 Thẩm phán và một Hội
thẩm.
b. Trình tự thủ tục của phiên toà xét xử Sơ thẩm của vụ án kinh tế cũng tương tự như
các phiên toà xét xử sơ thẩm khác, bao gồm thủ tục: bắt đầu phiên toà, xét hỏi tại phiên
toà, tranh luận tại phiên toà, nghị án và tuyên án.
1.2 .1 Khái niệm:
1.2 Thủ tục Phúc thẩm vụ án kinh tế
Phúc thẩm là một thủ tục tố tụng kinh tế, mà trong đó toà án cấp phúc thẩm tiến
hành xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm của toà án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp
luật mà bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật.
- Chủ thể của quyền kháng cáo là đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền
kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày toà án tuyên án hoặc ra
quyết định đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn này tính từ ngày bản sao
bản án, quyết định được giao cho họ hoặc niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân Xã,
Phường, Thị trấn nơi họ có trụ sở hoặc cư trú.
- Chủ thể của quyền kháng nghị là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp
có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát cùng cấp là 10 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 20 ngày kể từ ngày toà
tuyên hoặc ra quy định.
- Tuy nhiên, toà án có thể chấp nhận kháng cáo, kháng nghị quá thời hạn vì trở ngại
khách quan, nhưng thời hạn kháng cáo, kháng nghị đó không được quá 10 ngày kể từ
ngày trở ngại đó không còn nữa.
+ Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của toà án cấp Sơ thẩm bị kháng
- Trong kháng cáo, kháng nghị phải nêu rõ:
+ Lý do kháng cáo, kháng nghị;
+ Yêu cầu của người kháng cáo, kháng nghị;
cáo, kháng nghị;
- Khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục Phúc thẩm là các bản án, quyết
định Sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án kinh tế. Như vậy không phải mọi quyết định của toà án đều có thể bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thậm chí quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh tế
khi nguyên đơn rút đơn kiện cũng không còn cơ hội để kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày người kháng cáo xuất trình chứng từ
về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm hoặc kể từ ngày nhận được kháng nghị, toà án
cấp sơ thẩm phải gửi kháng cáo, kháng nghị kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án cho toà án cấp
1.2 2 Phiên toà Phúc thẩm:
phúc thẩm.
Trong thời hạn một (01) tháng, kể từ nhận đủ hồ sơ do toà án cấp sơ thẩm gửi
đến, toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà phúc thẩm. Trường hợp vụ án có nhiều tình
tiết phức tạp thì thời hạn đó là hai (02) tháng, Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia nếu
xét thấy cần thiết, khi đó hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát nghiên cứu
trong thời hạn 10 ngày nếu Viện kiểm sát phải tham gia hoặc có yêu cầu tham gia phiên
toà mà không tham gia được thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trường hợp vắng mặt
mà không có lý do chính đáng thì toà án vẫn tiến hành xét xử.
Thủ tục của phiên toà phúc thẩm được tiến hành theo như toà sơ thẩm, nhưng
trước khi xem xét kháng cáo, kháng nghị một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày
nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo, kháng nghị.
Phiên toà phúc thẩm mở để giải quyết những kháng cáo, kháng nghị đối với
những bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, còn khi
phúc thẩm quyết định của toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, toà án không
phải mở phiên toà, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý
kiến của họ trước khi ra quyết định.
Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết vụ việc kháng cáo hoặc kháng
nghị trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị.
Quyền hạn của toà án cấp phúc thẩm gồm:
Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định Sơ thẩm.
Sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm;
Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho toà án cấp sơ thẩm xét xử
lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh, thu
thập chứng cứ của toà án cấp sơ thẩm không đầy đủ mà toà án cấp phúc thẩm không thể
bổ xung được.
Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 38 hoặc đình chỉ giải quyết
vụ án theo qui định tại Điều 39 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
1.3 Thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
1.3.1 Giám đốc thẩm
Sau khi xem xét quyết định của bản án phúc thẩm nếu thấy bản án có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng hoặc kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách
quan hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, thì Chánh án TANDTC,
Viên trưởng VKSNDTC tiến hành thủ tục giám đốc thẩm.
* Quyền hạn của phiên toà Giám đốc thẩm:
Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm quyền có quyền:
Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
Sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị;
Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại
trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc xác minh chứng cứ
của toà án cấp dưới không đầy đủ mà toà án cấp Giám đốc thẩm không thể bổ xung được;
Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết theo qui
định tại Điều 39 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
1.3.3 Thủ tục Tái thẩm:
Bản án, Quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm khi có các căn cứ sau:
Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà
đương sự đã không thể biết được tình tiết quan trọng của
vụ án mà đương sự đã không thể biết được khi giải quyết
vụ án; Có cơ sở chứng minh, kết luận của người giám định,
lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có
giả mạo bằng chứng. Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên,
Thư ký Toà án cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án; Bản án,
Quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà
nước mà toà án dựa vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ
bỏ;
* Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm:
- Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp;
- Chánh án Toà án cấp Tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp Tỉnh có quyền kháng nghị
bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án cấp Huyện; Phiên toà tái thẩm
Hội đồng xét xử tái thẩm có quyền:
- Giữ nguyên Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
- Huỷ Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm;
- Huỷ Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật, đình chỉ việc giải quyết vụ án được quy
định tại Điều 39 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
2. KẾT QUẢ THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT ÁN KINH TẾ TẠI TOÀ ÁN NHÂN
DÂN
Thực tiễn những năm qua cho thấy đơn khởi kiện do đương sự gửi đến toà án
nhân dân yêu cầu được thụ lý, giải quyết tranh chấp kinh tế ngày càng nhiều nhưng tòa án
nhân dân cũng phải trả lại khá nhiều đơn khởi kiện cho đương sự do nhận thức pháp luật
của đương sự còn hạn chế nên đã khởi kiện những việc không đúng thẩm quyền của Tòa
án hoặc tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện, một số nơi tòa án thụ lý đơn của đương sự
khi chưa nghiên cứu kỹ về nội dung, thẩm quyền đương sự yêu cầu trong đơn dẫn đến
hậu quả phải ra quyết định đình chỉ vụ án.
Theo thống kê của VKSNDTC và các Viện kiểm sát địa phương về kết quả thụ lý
và giải quyết án kinh tế tại Tòa án nhân dân từ (1/7/1998 đến 1/7/2002).
Đơn vị: Vụ
Thụ lý giải quyết 1998 1999 2000 2001 6 tháng đầu
78 453 (tăng 532 (tăng 684 (tăng 662 (tăng Thụ lý
290%) 117,4%) 128,4%) 193,6%)
78 (100%) 334 (đạt 496 (đạt 563 (đạt 565 (85,38%) Đã giải quyết
73,73%) 93,23%) 82,30%)
119 36 (6,77%) 121(17,7%) 97 (14,62%) Tồn
(26,27%)
Tính bình quân hàng năm:
Án tăng hàng năm: 196,49%
Án tồn đọng hàng năm: 15,49%
Án được giải quyết hàng năm: 84,51%.
Trong đó:
Án đưa ra xét xử Sơ thẩm : 22,27%.
Án hòa giải thành và có quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự.
Án tạm đình chỉ, đình chỉ : 15,32%.
Do số lượng án hàng năm đều tăng với tỷ lệ lớn nên càng ngày càng đòi hỏi Tòa
án nhân dân, Viện kiểm soát nhân dân có sự đầu tư lớn hơn về số lượng cán bộ, trình độ
nghiệp vụ của cán bộ thì mới đủ điều kiện để giải quyết kịp thời và đúng pháp luật các
tranh chấp kinh tế.
3 Thuận lợi và khó trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án
Từ kết quả thụ lý và giải quyết án kinh tế trên chứng tỏ tòa án, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã ban hành khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ
thể thẩm quyền cũng như trình tự giải quyết tranh chấp tại tòa án theo đúng tính chất, yêu
cầu của các quan hệ kinh tế đang tồn tại và phát triển.
3.1. Thuận lợi.
Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế tạo cơ sở pháp luật cho các toà án kinh tế hoạt động từ ngày
1/7/1994, bên cạnh đó nhiều văn bản pháp luật cũng được ban hành nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho các chủ thể cũng như tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế
như: Thông tư liên nghành số 04/TTLT của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày
28/6/1996. Công văn số 11/ KHXX ngày 23/01/1996 của Tòa án nhân dân tối cao. Văn
bản số 16/1999 ngày 1/2/1999 của Toà án nhân dân tối cao.
Tổ chức toà kinh tế nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân với vai trò như những
toà chuyên trách khác. Mô hình này bảo đảm nguyên tắc Hiến định Tòa án nhân dân tối
cao là cơ quan xét xử cao nhất, có ưu điểm thống nhất các cơ quan xét xử và bộ máy nhà
nước được gọn nhẹ không mất nhiều thời gian.
Giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án được tiến hành với thủ tục rất chặt chẽ và
có thể kéo dài do pháp luật quy định các bên có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Việc thi hành quyết định của tòa án mang tính cưỡng chế nhà nước cao và buộc các bên
phải thi hành đúng theo quy định của pháp luật.
3.2. Khó Khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế hiện
nay tại toà án đang gặp phải những vướng mắc sau:
- Điều 1, Điều 11 Pháp lệnh HĐKT không còn phù hợp với tính năng động, linh hoạt,
tính thời cơ trong kinh doanh nên việc buộc các doanh nghiệp phải ký kết HĐKT bằng
văn bản sẽ gây nhiều khó khăn cho họ. Thực tiễn cho thấy các đơn vị làm ăn lâu năm, ổn
định, họ coi trọng chữ tín, nhiều văn bản HĐKT lập ra chỉ để hợp thức hóa các thủ tục
giao nhận, mua bán hàng, chứ các bên không xem đó là căn cứ để thực hiện quyền và
nghĩa vụ.
Khi xảy ra tranh chấp thì quan hệ kinh tế trên thuộc thẩm quyền toà dân sự hay
toà kinh tế ? bởi vì nó được thực hiện bởi các chủ thể HĐKT, có mục đích kinh doanh,
vậy nó thuộc loại hợp đồng nào? Do luật nào điều chỉnh? Thông tư liên ngành số
04/TTLN ngày 26/8/1996 hướng dẫn áp dụng Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế. Theo Điểm 1 Điều 12 Pháp lệnh này thì toà án có quyền giải quyết các
tranh chấp về HĐKT giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng
ký kinh doanh. Tuy nhiên Điều 57 Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29/4/1991 thì các
hợp đồng có mục đích kinh doanh mà không phải là doanh nghiệp tư nhân theo qui định
của Luật Doanh nghiệp tư nhân là hợp đồng dân sự. Vì vậy, đã có hướng dẫn là các tranh
chấp về hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh
doanh mà không phải là doanh nghiệp tư nhân theo qui định của Luật doanh nghiệp tư
nhân được giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Đồng thời theo Điều 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế lại cho phép ký kết HĐKT
giữa pháp nhân Việt nam với cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt nam. Nghĩa là cá nhân
nước ngoài trong trường hợp này cũng được coi là chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong
khi đó cá nhân Việt nam muốn trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế phải là doanh
nghiệp tư nhân. Đây là sự không bình đẳng, quy định vượt ra ngoài nguyên tắc về địa vị
pháp lý của người nước ngoài thường trú ở nước sở tại, phải chăng pháp lệnh hợp đồng
kinh tế ưu đãi người nước ngoài hơn người Việt nam.
- Theo hướng dẫn của Công văn số 442/KHXX ngày 18/7/1994 của Toà án nhân dân tối
cao và Công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996 của toà án tối cao quy định "Các tranh
chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa các doanh nghiệp tư nhân với
nhau thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân theo thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự ".
Theo ý kiến của chúng tôi việc gạt bỏ hợp đồng có mục đích kinh doanh được ký
kết hợp pháp giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau ra khỏi phạm trù HĐKT, ra khỏi
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế là điều bất hợp lý, bất bình đẳng. Do đó các doanh
nghiệp đều có quyền bình đẳng với nhau trước pháp luật thì mới phù hợp với sự thay đổi
của nền kinh tế đa thành phần như hiện nay.
Quốc hội Khoá 10 đã thông qua Luật doanh nghiệp, trong đó quy định hợp đồng
có mục đích kinh doanh được ký kết giữa doanh nghiệp tư nhân với nhau thì được giải
quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
- Hợp đồng kinh tế vô hiệu và cách giải quyết hợp đồng kinh tế vô hiệu.
Một hợp đồng được ký kết không đảm bảo được các điều kiện theo quy định của pháp
luật sẽ trở nên vô hiệu; Khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định các HĐKT
bị coi là vô hiệu toàn bộ.
Nội dung Hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật.
Một trong các bên ký kết HĐKT không có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng.
Người ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo.
Trong các dấu hiệu trên thì dấu hiệu người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền
dẫn tới HĐKT vô hiệu là phổ biến nhất. Thế nào là người ký HĐKT không đúng thẩm
quyền? Điều 9 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 5,6 Nghị định 17/HĐBT ngày
16/1/1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định người có thẩm
quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký
kinh doanh.
Việc uỷ quyền phải thể hiện bằng văn bản, văn bản uỷ quyền phải ghi rõ họ tên,
chức vụ của người uỷ quyền, của người được uỷ quyền, số chứng minh nhân dân của
người được uỷ quyền, nội dung và thời hạn uỷ quyền.
Người được uỷ quyền chỉ hành động trong phạm vi được uỷ quyền và không được
uỷ quyền cho người khác.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn, thấy có một số vướng mắc về uỷ quyền cần
được xem xét như sau:
Thứ nhất: Việc xác định uỷ quyền sau khi hợp đồng kinh tế đã được ký kết: Về nguyên
tắc việc uỷ quyền đòi hỏi phải được xác định trước khi ký HĐKT. Tuy nhiên trên thực tế,
nhiều HĐKT do Phó giám đốc doanh nghiệp ký, không có uỷ quyền của Giám đốc nhưng
sau khi Phó giám đốc ký hợp đồng thì Giám đốc doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản uỷ
quyền cho Phó giám đốc ký kết HĐKT đã ký. Vậy việc đồng ý như vậy có được chấp
nhận không?.
Thứ hai: Văn bản phân công trách nhiệm của các thành viên trong nội bộ Ban lãnh đạo
của một pháp nhân có phải là văn bản uỷ quyền thường xuyên để ký kết hợp đồng kinh tế
không?
Thứ ba: Việc uỷ quyền ký kết HĐKT đối với các đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy
đủ (Chi nhánh của pháp nhân) cũng là một vấn đề cần quan tâm. Vì hiện nay rất nhiều chi
nhánh của pháp nhân lợi dụng ký kết HĐKT vượt quá phạm vi được uỷ quyền của mình
và lợi dụng tư cách pháp nhân để kinh doanh trái pháp luật.
* Xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu.
Việc xử lý HĐKT vô hiệu được quy định tại Điều 39, Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế. Nội dung cơ bản của điều này là vấn đề xử lý về tài sản đối với các bên ký kết HĐKT
vô hiệu theo các nguyên tắc sau đây:
- Hoàn trả tài bằng hiện vật.
Khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Các bên có nghĩa vụ
hoàn trả cho nhau tất cả các tài sản đã nhận được từ việc thực hiện HĐKT, trong trường
hợp không thể trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền”.
Theo các quy định trên về nguyên tắc xử lý tài sản trước hết là các bên phải hoàn
trả cho nhau bằng hiện vật, có nghĩa là cái gì của bên nào trả về cho bên ấy.
- Hoàn trả bằng tiền.
Trong các trường hợp hợp đồng đã được thực hiện và việc hoàn trả bằng hiện vật
không thể thực hiện được thì các bên có thể hoàn trả cho nhau bằng tiền, thiệt hại phát
sinh các bên phải chịu, theo quy định này nếu bên có trách nhiệm hoàn trả tài sản theo
hợp đồng cho bên kia mà không còn tài sản thì tài sản phải được quy ra tiền. Song giá tài
sản được tính ra tiền tại thời điểm nào thì cả Bộ luật Hình sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
đều không quy định. Điều này gây khó khăn cho việc quy định giá tài sản trong điều kiện
hiện nay.
* Thời hiệu khởi kiện.
Theo quy định tại Điều 31, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì thời
hiệu khởi kiện là 6 tháng từ khi phát sinh tranh chấp, được quy định tại Điểm a, Khoản 3,
mục I thông tư 04/LN, ngày 7/1/1995 của TANDTC và VKSNDTC. Tại nội dung này
của thông tư xác định thời điểm phát sinh tranh chấp như sau:
Nếu trong thời gian HĐKT đang có hiệu lực mà một trong các bên phát hiện có vi
phạm và làm phát sinh tranh chấp là ngày phát hiện được vi phạm.
Nếu HĐKT đã hết hiệu lực mà các bên không có thoả thuận nào khác và phát sinh
tranh chấp thì ngày phát sinh tranh chấp là ngày tiếp theo của ngày HĐKT hết hiệu lực.
Nếu trước ngày HĐKT hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng HĐKT còn hiệu lực mà
các bên có thoả thuận về thời hạn thực hịện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt
HĐKT nhưng mà hết thời hạn đó, một trong các bên không thực hiện, làm phát sinh tranh
chấp thì ngày phát sinh tranh chấp về việc thực hiện thoả thuận là ngày tiềp theo của ngày
hết thời hạn thực hiện thoả thuận đó, trong trường hợp này có đương sự yêu cầu giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ việc chấm dứt HĐKT thì tòa án thụ lý giải quyết nếu
tính từ ngày HĐKT hết hiệu lực đến ngày khởi kiện chưa hết th_'eai hb9n 6 tháng. Nếu
đã hết thời h_n 6 tháng, thì tòa án không thụ lý giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ do các bên đã thoả thuận.
Vấn đề đặt ra là đã hết thời hiệu khởi kiện theo thủ tục tố tụng kinh tế thì được
quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự và theo Văn bản số 16/1999/HKXX ngày
1/2/1999 của TANDTC giải đáp một số vấn đề kinh tế. Trước hết cần khẳng định rằng
khi xác định tranh chấp mà đương sự có đơn yêu cầu toà án giải quyết thuộc một trong
các tranh chấp qui định tại Điều 12 Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế, nếu thời hạn 6
tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp thì toà án áp dụng Khoản 2 Điều 32 Pháp lệnh giải
quyết các vụ án kinh tế để trả lại đơn kiện mà không được thụ lý để giải quyết theo thủ
tục tố tụng dân sự. Hướng dẫn tại Điểm 1 Khoản 3 mục 1 Thông tư liên ngành số
04/TTLN ngày 07/1/1995 của TANDTC và VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số quy
định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
" Nếu đã hết thời hạn 6 tháng, thì toà án không thụ lý giải quyết các tranh chấp
phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng kinh tế mà chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp phát sinh
từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ do các bên thoả thuận. Khi thụ lý giải quyết tranh
chấp phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ do các bên thoả thuận, các toà án lưu
ý và phân biệt là tuỳ theo tính chất, nội dung thoả thuận và yêu cầu của đương sự mà xác
định đó là vụ án kinh tế hay là vụ án dân sự để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh
tế hoặc tố tụng dân sự."
Nếu kể từ ngày phát sinh tranh chấp HĐKT đến ngày một trong các bên yêu cầu
toà án giải quyết tranh chấp đó mà đã hết thời hạn 6 tháng, thì toà án trả lại đơn kiện, nếu
trong thời hạn đó các bên thoả thuận về việc giải quyết tranh chấp đó thì phải xem tính
chất, nội dung của thoả thuận đó có phải là một HĐKT mới hay chỉ là một giao dịch dân
sự.
Trong trường hợp thoả thuận đó thực chất là một HĐKT mới mà trong quá trình
thực hiện thoả thuận đó có tranh chấp và có yêu cầu toà án giải quyết thì toà án phải căn
cứ vào các quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế để giải quyết theo
thủ tục chung.
Trường hợp thoả thuận đó chỉ là một giao dịch dân sự mà trong quá trình thực
hiện thoả thuận đó có tranh chấp và có yêu cầu toà án giải quyết thì toà án phải căn cứ
vào quy định của Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự để giải quyết theo thủ tục chung
Vấn đề thời hạn khởi kiện quy định là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo chúng tôi quy định thời hạn 6 tháng đối với
các tranh chấp phức tạp, liên quan đến nhiều việc, nhiều điểm mà quy định là 6 tháng là
rất ngắn không tạo được khả năng để các đương sự có thời gian thương lượng với nhau
về nhiều vấn đề và nguyên đơn có điều kiện thu nhập chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
của mình khi khởi kiện, cũng cần thiết phải hướng dẫn trường hợp nào pháp luật có quy
định khác để áp dụng thời hạn khởi kiện ở các tòa án được thống nhất.
- Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh
tế:
Để kịp thời ngăn chặn các hành vi tẩu tán tài sản, chứng cứ và bảo đảm thi hành
án khi bản án quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Theo yêu cầu của đương sự
hoặc Viện kiểm soát cũng có thể toà án thấy cần thiết phải áp dụng một số biện pháp
khẩn cấp như:
Kê biên tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản.
Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân phải thực hiện một số hành vi nhất
định.
Cho thu hoạch và bảo quản sản phẩm có liên quan đến tranh chấp;
Cho bán sản phẩm hàng hoá dễ hư hỏng;
Xung quanh vấn đề áp dụng các biện pháp này, thực trạng giải quyết tranh chấp
kinh tế vẫn còn nổi nên một số vấn đề mà pháp luật chưa đề cập đến. Theo quy định tại
Điều 41 của Pháp lệnh chỉ nói tòa án áp dụng các biện pháp này nhưng tòa án là ai, Thẩm
phán phụ trách vụ án hay Chánh án, Phó tòa kinh tế?
Nhưng theo Điều 43 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì việc thay
đổi, huỷ bỏ các biện pháp này trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án quyết định tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.
Khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời tòa án tiến hành xét xử và giải quyết
toàn bộ các vấn đề của vụ án và các biện pháp này cũng được giải quyết trong bản án
hoặc quyết định của tòa án. Nhưng các trường hợp vụ án không được hòa giải, xét xử mà
bị đình chỉ, tạm đình chỉ thì các biện pháp khẩn cấp đã áp dụng sẽ xử lý ra sao? Vấn đề
này chưa có hướng dẫn cụ thể nào, vì vậy khi giải quyết vụ án tòa án sẽ bị vướng
mắc,như trong trường hợp tạm đình chỉ vì Bị đơn bỏ trốn mà tòa án đã tiến hành kê biên
tài sản tranh chấp. Các tài sản đã kê biên trong trường hợp để lâu sẽ hư hỏng, mất giá trị,
mà việc tạm đình chỉ bị kéo dài, nguyên đơn yêu cầu phải kê biên khối tài sản đó để bảo
vệ quyền lợi của mình, trong trường hợp này tòa án sẽ xử lý ra sao?. Việc phát sinh từ các
hợp đồng vay vốn của Ngân hàng có thế chấp tài sản mà bên vay bỏ đi khỏi địa phương
không rõ lý do, địa chỉ và không có tranh chấp thì theo văn bản số 16/1999/HKXX ngày
01/02/1999 hướng dẫn: Nếu ngân hàng có đơn yêu cầu toà án thụ lý để giải quyết ra
quyết định phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng thì toà án không thụ lý
giải quyết mà giải thích cho ngân hàng biết việc xử lý tài sản thể chấp cầm cố bảo lãnh.
Trong trường hợp việc phát sinh từ hợp đồng vay vốn ngân hàng có thể chấp tài sản mà
khi đến hạn trả nợ có tranh chấp, ngân hàng có đơn yêu cầu toà án giải quyết và toà án đã
thụ lý để giải quyết thì bên vay bỏ trốn khỏi địa phương không rõ lý do, không rõ địa chỉ,
theo hướng dẫn của văn bản số 16/1999/HKXX ngày 01/02/1999 của Toà án nhân dân tối
cao. Toà án áp dụng Điểm C Khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Theo quy định tại Điều 42 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì không có biện pháp khẩn cấp tạm thời phát mại tài
sản (trừ trường hợp sản phẩm hàng hoá dễ bị hư hỏng): do đó toà án không được quyền ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Thực tiễn áp dụng một số quy phạm pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp
kinh tế cũng có một số vướng mắc bất cập như sau:
Trường hợp bản án, quyết định của tòa án đang
được thi hành thì tòa án thụ lý giải quyết việc tuyên bố phá
sản doanh nghiệp: Cơ quan thi hành án đang tổ chức thi
hành bản án, quyết định của tòa án thì tòa án yêu cầu dừng
việc thi hành án vì doanh nghiệp (Bên phải thi hành án)
đang bị tòa án thụ lý giải quyết việc tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Pháp lệnh thi hành án dân sự Nghị định số 69/CP của Chính phủ ngày 16/10/1993
về quy định thủ tục thi hành án dân sự chỉ quy định một số trường hợp nhất định để tạm
hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án. Việc tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản không phải là căn cứ để tạm hoãn, tạm đình chỉ thi hành án.
Nếu xem xét việc chi trả theo bản án, quyết định của tòa án là các khoản nợ theo
thủ tục phá sản doanh nghiệp sẽ có nhiều điểm bất hợp lý:
* Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án.
Người phải thi hành án và chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ không thể đồng nhất,
cũng như hiệu lực của bản án, quyết định của toà án khác với hiệu lực thi hành của các
khoản nợ giữa chủ nợ và các doanh nghiệp mắc nợ. Đối với các khoản nợ thì chủ nợ và
các doanh nghiệp mắc nợ có thể thoả thuận với nhau phương pháp giải quyết (như thông
qua hội nghị chủ nợ bằng các biện pháp cải tiến sản xuất, áp dụng biện pháp tài chính cần
thiết ...). Còn đối với bản án việc thi hành là bắt buộc.
* Nhiều trường hợp bản án, quyết định của tòa án phải được thi hành ngay như:
Các quyết định về trả lương, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại, tính mạng, do đó,
việc thi hành án không chỉ dừng lại theo thủ tục phá sản doanh nghiệp.
Theo Điểm 2, Điều 18 của Luật phá sản doanh nghiệp kể từ ngày có quyết định
mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thì doanh nghiệp mắc nợ không được
thanh toán bất kỳ khoản nợ nào, không có bảo đảm cho bất kỳ chủ nợ nào, việc thanh
toán các khoản nợ có bảo đảm phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán. Như
vậy, nếu tiến hành việc chi trả theo bản án, quyết định của tòa án sẽ có điểm mâu thuẫn.
Mặt khác, trên thực tế, nếu tài sản của doanh nghiệp không đủ chi trả cho toàn bộ bản án
và các chủ nợ thì việc chi trả theo bản án sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của chủ nợ.
Tóm lại, nếu thực hiện theo hướng ưu tiên thi hành những bản án, quyết định của
tòa án hay theo hướng xem xét việc chi trả theo bản án, quyết định là một khoản nợ trong
quá trình giải quyết tuyên bố phá sản đều có những khó khăn, vướng mắc.
- Một số vấn đề khó khăn hiện nay chúng tôi cho rằng rất quan trọng là: Trình độ và kinh
nghiệm của Thẩm phán, Hội thẩm trực tiếp giải quyết các vụ án kinh tế còn hạn chế nhất
định, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiệp vụ làm cho việc giải quyết các vụ
án kinh tế chưa kịp thời, phải xét xử nhiều lần, qua nhiều cấp. Bởi những lý do sau:
* Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không quy định thẩm phán chuyên
trách, đa số thẩm phán của tòa kinh tế được tuyển chọn từ các trọng tài viên thuộc cơ
quan trọng tài kinh tế Nhà nước trước đây, số thẩm phán này có trình độ hiểu biết về
pháp luật kinh tế và quản lý kinh tế nhưng lại hạn chế về nghiệp vụ tòa án, về kỹ năng xét
xử và tố tụng kinh tế. Còn một số thẩm phán của Tòa dân sự, Tòa hình sự được tuyển
chọn sang họ chưa có kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tư
pháp tại tòa án.
* Về Hội thẩm Nhân dân còn hạn chế về khả năng, trình độ nghiệp vụ vì Hội thẩm
ít được học tập, đào tạo về nghiệp vụ, hiểu biết về pháp luật nhất là Luật kinh tế. Hạn chế
về ràng buộc trách nhiệm khi bản án có vi phạm pháp luật, chỉ có Thẩm phán mới chịu
trách nhiệm còn Hội thẩm hầu như không phải chịu trách nhiệm gì.
Qua đó chúng ta thấy được những vướng mắc phát sinh ngay cả trong cơ quan xét
xử những khó khăn này cần phải được khắc phục để đảm bảo cho việc giải quyết tranh
chấp kinh tế hiện nay đạt hiệu quả cao hơn
IV. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường tài phán trọng tài hiện nay
tương đối phổ biến và mạng tính chất quốc tế phục vụ cho quan hệ kinh tế Quốc tế hết
sức đa dạng, đây là một hình thức có nhiều ưu thế trên thế giới.
Để đảm bảo hiệu quả cho hoạt động trọng tài nhiều nước đã ký hiệp định về trọng
tài và tham gia công ước quốc tế về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài.
1. Kết quả hoạt động xét xử của các Trung tâm Trọng tài
Theo báo cáo hoạt động của trung tâm Trọng tài
quốc tế Việt Nam năm 2001 về hoạt động xét xử như sau:
+ Đã thụ lý 18 vụ, với tổng trị giá tranh chấp 2. 200.000 USD.
+ Đã tổ chức xét xử 6 vụ.
+
+ 4 vụ Nguyên đơn chưa nộp phí trọng tài .
+ Trả lại đơn kiện 1vụ .
+ 7 vụ đang trong thời hạn giải quyết .
1 vụ Nguyên đơn rút kiện .
Theo báo cáo của các trung tâm trọng tài kinh tế về tình hình hoạt động xét xử
như sau :
+ Tổng số vụ việc thụ lý là 12 vụ .
+ Tổng số đã được giải quyết bằng hoà giải là 7 vụ, trong đó hoà giải thành 4 vụ,
- Trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội (HEAC) :
+ Số vụ việc giải quyết bằng quyết định (phán quyết của trọng tài) là 2 vụ.
hoà giải không thành 3 vụ.
- Trung tâm trọng tài kinh tế Thăng Long (ECOARCEN) cho đến nay chưa thụ lý một vụ
tranh chấp nào theo thẩm quyền.
- Trung tâm trọng tài kinh tế Sài Gòn đã thụ lý 11 vụ, nhưng chưa giải quyết vụ nào.
Trung tâm Trọng tài kinh tế Bắc Giang, cho đến nay đã thụ lý và đã giải quyết bằng hoà
giải 1 vụ rút ngắn thời gian.
2.Thuận lợi và khó khăn
2.1 Thuận lợi
Pháp lệnh trọng tài Thương mại số 08/2003 UBTVQH 11 ngày 25/2/2003 có hiệu
lực ngày 1/7/2003 mở rộng phạm vi giải quyết các tranh chấp của trọng tài thương mại
đây là một thuận lợi đối với các Trung tâm trọng tài.
Những tranh chấp có yếu tố nước ngoài trước đây do trung tâm trọng tài quốc tế
đặt bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam giải quyết. Nay Pháp lệnh
trọng tài thương mại có nới rộng thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp khác theo quy
định tại Điều 2 Mục 4 và Mục 5 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003
PL/UBTVQH 11, tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài
tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài.
Ngay từ khi giao kết hợp đồng hai bên đã có thoả thuận về điều khoản trọng tài
hết sức cụ thể, do vậy, hai bên có thể chọn trọng tài ngay sau khi mới thiết lập giao dịch
kinh tế, hoặc khi tranh chấp xảy ra các bên được tự nguyện lựa chọn Trung tâm trọng tài
có uy tín mà họ cảm thấy có thể tin tưởng được, họ cũng có quyền chọn ra một trọng tài
viên cụ thể để đảm đương nhiệm vụ. Để đảm bảo uy tín cho Trung tâm các trọng tài viên
được chọn sẽ phải làm nhiệm vụ một cách khách quan, trung thực, theo đúng quy định
của pháp luật.
Tính chất không công khai trong tố tụng trọng tài sẽ bảo vệ được bí mật kinh
doanh của các bên. Trọng tài thường tôn trọng sự thoả thuận của các bên, hoặc hướng cho
các bên tìm đến một giải pháp hợp lý, hợp tình, việc giải quyết của trọng tài rất linh hoạt
nhưng vẫn đảm bảo được sự công bằng, việc thi hành các phán quyết trọng tài có thể
nhanh chóng hơn bản phán quyết của toà án vì trong đó đã hàm chứa sự thoả thuận giữa
các bên từ khi khởi kiện.
Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại.
Nếu nói trong tất cả các khâu của quá trình tố tụng
thì việc thực thi các quyết định của trọng tài kinh tế là
khâu quan trọng nhất, vì nó là kết quả cuối cùng của thủ
tục xét xử và mọi quyết định nếu không được thi hành thì
cũng không có ý nghĩa gì. Khác với Điều 31 của Nghị định
116, Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH11
quy định thi hành quyết định trọng tài sau 30 ngày. Nếu
một bên không tự nguyện thi hành quyết định trọng tài thì
bên kia có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp
Tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên
phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài đây là một
thuận lợi cơ bản đối với phương pháp giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài.
Về mối quan hệ giữa toà án và trọng tài thương mại theo Pháp lệnh số 08/PL
UBTVQH 11, mặc dù toà án và trọng tài thương mại là 2 cơ quan tài phán khác nhau về
bản chất, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một số vấn đề thuộc lĩnh
vực tố tụng trọng tài. Điểm nổi bật là trọng tài sẽ được sự hỗ trợ tích cực từ phía toà án,
sự hỗ trợ này thể hiện ở chỗ trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định toà
án có thể xem xét lại tính hợp pháp quyết định trọng tài đã có hiệu lực pháp luật mà
không được tự nguyện thi hành thì toà án có thể phê chuẩn và sau đó cưỡng chế thi hành
quyết định của trọng tài .
2.2 Khó khăn:
Bên cạnh những ưu điểm giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài, thực tiễn
pháp luật giải quyết bằng trọng tài còn gặp một số vướng mắc sau:
Hiện nay các Trung tâm trọng tài hoạt động theo Nghị địnhh 116/CP quy định Trọng
tài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, cho nên các trọng tài viên phải tự đứng ra thành lập
và phải tự bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động của mình. Liệu trong điều kiện hiện nay
điều này có dễ dàng thực thi hay không? Ngày 25 /02/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
11đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại, quy định địa vị pháp lý của Trung tâm
trọng tài là một tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân có con dấu riêng và được lập
chi nhánh văn phòng đại diện. Như vậy có thể xem Trung tâm trọng tài như một doanh
nghiệp được không ? Hoạt động của trọng tài có nhằm mục đích kinh doanh không? và
nhà nước hỗ trợ khuyến khích như thế nào.
Điều kiện làm trọng tài viên của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam có thể có những
trọng tài viên là người nước ngoài, vì việc giải quyết tranh chấp ngoại thương cần rất
nhiều kiến thức về nhiều lĩnh vực, trong khi trọng tài viên của các trung tâm trọng tài
kinh tế là người Việt Nam đang cư ngụ tại Việt Nam. Hiệu quả này có làm giảm bớt khả
năng hoạt động của trọng tài kinh tế?, chưa kể đến việc chọn các trọng tài viên, liệu họ có
đủ sức đảm đương nhiệm vụ hay không? việc thi tuyển trọng tài viên vẫn còn nặng về
hình thức, chưa chú ý đến thực chất của vấn đề là nước ta đang cần tìm những trọng tài
viên có đầy đủ năng lực uy tín để làm việc.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, với sự mở rộng các thành phần kinh tế, chủ doanh
nghiệp không nắm vững pháp luật, ít tin tưởng vào sự nghiêm minh của phát luật. Ngay
cả bản án có hiệu lực của toà án nhân dân các cấp việc thi hành cũng hết sức khó khăn,
kéo dài. Việc giải quyết tranh chấp bằng con đường tài phán trọng tài, từ giai đoạn đầu
tiên hai bên phải có sự thoả thuận đưa ra giải quyết trước cơ quan trọng tài nào? đến giai
đoạn cuối cùng là thi hành quyết định trọng tài bằng con đường tự nguyện, nếu hai bên
không tự nguyện thì pháp luật lại chưa qui định chặt chẽ, phù hợp với nền kinh tế linh
hoạt và mềm dẻo hiện nay ở nước ta.
Về môi trường pháp lý.
Khó khăn lớn nhất hạn chế hoạt động có hiệu quả của các trung tâm trọng tài kinh
tế ở nước ta hiện nay chính là hệ thống các văn bản phát luật về trọng tài kinh tế còn
nhiều cấp bậc và không đồng bộ, thể hiện như:
Hiện tại ở nước ta đang tồn tại 2 loại tổ chức trọng tài kinh tế phi Chính phủ,
hoạt động trên 2 mặt bằng pháp lý khác nhau. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam thì
được Chính phủ quyết định thành lập (theo quyết định ngày 28/4/1993 ) và hoạt động
theo quy tắc trọng tài do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam, trong đó các
trung tâm trọng tài kinh tế khác thì được Chủ tịch UBND cấp Tỉnh cho phép thành lập và
sau đó hoạt động theo các Quy định 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ.
Các quy định về điều kiện, thủ tục xét chọn trọng tài nên đối với trung tâm
trọng tài Quốc tế Việt nam và các trung tâm trọng tài kinh tế theo Nghị định 116/CP cũng
rất khác nhau, sự không thống nhất của môi trường pháp lý này đã làm cho các trung tâm
trọng tài kinh tế thiếu tính thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt
động có thể dẫn đến những sự hiểu biết khác nhau về vai trò, vị trí của các trung tâm
trọng tài Việt Nam. Măc dù theo điều 61 PL/08 UBTVQH11 quy định các Tổ chức trọng
tài được thành lập trước ngày pháp lệnh này có hiêu lực phải sửa đổi bổ sung Điều lệ,
Quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của pháp lệnh trong thời hạn 12
tháng. Trong khi chờ đợi Nghị định thông tư và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp
lệnh số 08 /PL UBTVQH11 thì những khó khăn trên vẫn tồn tại như một thực trạng
vướng mắc của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường trọng tài nước ta
hiện nay, những vướng mắc này đã được sửa đổi, bổ sung trong Pháp lệnh trọng tài
thương mại số 08/PL UBTVQH11 ban hành ngày 25/3/2003 để việc giải quyết tranh
chấp kinh tế được phù hợp hơn, thuận lợi hơn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải
quyết tranh chấp kinh tế tại các Trung tâm trọng tài.
CHƯƠNG III
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC
TA
I. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH TẾ
Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh tế (HĐKT), một trong những vấn đề khó
khăn nhất đối với các bên trong hợp đồng là khi có tranh chấp xảy ra thì phải chọn được
cách giải quyết tranh chấp nhanh nhất, tiết kiệm chi phí và đáng tin cậy. Một phương
pháp giải quyết tranh chấp (khiếu nại, hoà giải hay đi kiện ra toà án hoặc trọng tài) không
thể luôn là phương án tối ưu đối với mọi tranh chấp mỗi phương pháp đều có ưu điểm và
nhược điểm riêng. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người ta chọn phương pháp giải quyết
1. Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp giải quyết
tranh chấp trước khi đi kiện:
tranh chấp này hay phương pháp kia.
Như đã nêu, các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện gồm có: khiếu nại
và hoà giải. Các phương pháp này có những ưu điểm sau:
Trước tiên, chúng thoả mãn tâm lý phổ biến của các nhà kinh doanh là không
muốn dựa vào tài phán (Toà án hay Trung tâm trọng tài) để phân xử các tranh chấp ngay
từ ban đầu. Khi tranh chấp phát sinh, các bên muốn mình hoặc thông qua người thứ 3 để
dàn xếp tranh chấp theo con đường hữu nghị.
Các phương pháp này được tiến hành dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên
đương sự, không ai có thể hiểu rõ mọi tình tiết, nguyên nhân tranh chấp bằng chính các
bên tranh chấp, do vậy họ được quyền tự do lựa chọn cách giải quyết hợp tình hợp lý
bằng chính những cố gắng và nỗ lực của bản thân họ. Vì lý do này, các phương pháp
thương lượng trực tiếp có khả năng giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.
Một ưu điểm nữa của các phương pháp này là những người trung gian (các hoà
giải viên) nếu được lựa chọn thường là những người am hiểu lĩnh vực kinh tế, thương
mại. Họ nắm bắt được nguyện vọng giải quyết tranh chấp nhanh chóng của các nhà kinh
doanh cùng với khả năng thông thạo nghiệp vụ kinh doanh, lại không bị ràng buộc bởi
những quy tắc pháp lý cứng nhắc, vì vậy người trung gian có thể dành toàn bộ thời gian
cần thiết, nhanh chóng tìm ra phương pháp giải quyết tranh chấp có tính thuyết phục và
có tính khả thi.
Bí mật thông tin và bảo toàn uy tín đã trở thành một yêu cầu có tính chất sống còn
của các nhà kinh doanh trên thương trường. Các phương pháp thương lượng trực tiếp với
cách giải quyết kín đáo, không công khai, không ồn ào, không nghi thức rườm rà đã đáp
ứng được nhu cầu của các nhà kinh doanh. Hơn nữa, các thành viên tham gia đóng vai trò
chủ động tích cực trong việc xúc tiến các bước tiến hành nên họ có điều kiện biến các
cuộc thương lượng thành những cuộc đàm phán có ý nghĩa và sẵn sàng chấm dứt việc
thương lượng vô ích. Với tính chất linh hoạt như vậy, khiếu nại và hoà giải giúp các bên
giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và thực sự có hiệu quả.
Về khía cạnh pháp lý, các phương pháp này không ép buộc các bên tranh chấp từ
bỏ hoặc trì hoãn việc đi kiện ra Toà án kinh tế hay các trung tâm trọng tài. Mặt khác,
khiếu nại còn là bước bắt buộc khi đi kiện theo quy định của pháp luật Việt nam và trong
quá trình giải quyết tranh chấp ở Toà án kinh tế, trung tâm trọng tài thì việc đạt được thoả
thuận bằng con đường thương lượng được các cơ quan này rất hoan nghênh.
Các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện giúp các bên tranh chấp
tự do lựa chọn phương pháp giải quyết hợp tình, hợp lý phù hợp với thực tiễn kinh doanh.
Tuy nhiên, các phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm như các phương pháp
này chỉ nên được áp dụng và có thể mang lại kết quả tốt khi các bên tranh chấp có thái độ
hợp tác, tôn trọng lẫn nhau để cùng nhanh chóng giải quyết tranh chấp. Nếu một bên
thiếu nhiệt tình, không có thiện chí thì việc vận dụng phương pháp này sẽ tốn thời gian
vô ích. Vai trò của người trung gian chỉ dừng lại ở vai trò của người góp ý kiến, không có
thẩm quyền ra quyết định phân xử. Nhược điểm lớn nhất của các phương pháp này là
phương án giải quyết tranh chấp được các bên nhất trí không có giá trị ràng buộc các bên
và không được pháp luật cưỡng chế thi hành.
Các phương pháp giải quyết tranh chấp mang lại cho các nhà kinh doanh cơ hội
lựa chọn phương pháp theo đúng trình tự logic, phù hợp với những đặc trưng cơ bản của
hoạt động kinh doanh. Đó là khi gặp phải tranh chấp, các bên liên quan đầu tiên nên tự
giải quyết tranh chấp. Nếu chưa mang lại kết quả, các bên có thể nhờ một người thứ 3
đứng ngoài cuộc, sáng suốt góp ý kiến hoặc với nỗ lực của người thứ ba hoà giải viên mà
tranh chấp vẫn chưa được giải quyết thì các bên mới giao tranh chấp cho cơ quan tài phán
(toà án hay các trung tâm trọng tài).
Phổ biến trong kinh doanh hiện nay, các nhà kinh doanh có xu hướng lựa chọn
các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện theo trình tự logic trên, tuỳ thuộc
vào mối quan hệ kinh doanh giữa hai bên và tính chất vụ án tranh chấp. Song các phương
pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện này chỉ có thể mang lại một phương pháp
giải quyết tranh chấp không có giá trị pháp lý, không được pháp luật cưỡng chế thi hành
và rõ ràng việc chấp hành phương án giải quyết đó phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các
bên. Chính vì vậy, các nhà kinh doanh vẫn có nhu cầu tìm đến các phương pháp giải
quyết tranh chấp có khả năng mang lại kết quả phân xử có hiệu lực pháp lý, ràng buộc
các bên thi hành, về mặt lý thuyết, cả toà án và trọng tài đều có thể đáp ứng được yêu cầu
2. Nhược điểm của đi kiện ở Toà án so với đi kiện ở các Trung
tâm trọng tài:
đó.
Toà án và các Tung tâm trọng tài đều là các cơ quan tài phán có thẩm quyền xét
xử các tranh chấp kinh tế, mỗi cơ quan tài phán có một cách thức tổ chức hội đồng xét
xử, cách thức giải quyết tranh chấp và phải tuân theo các quy tắc tố tụng khác nhau. Vậy
toà án hay các Trung tâm trọng tài sẽ là cơ quan tài phán có khả năng đáp ứng nhu cầu
giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí và có độ tin cậy cao của các nhà kinh
doanh. Thực tiễn giải quyết tranh chấp ở toà án kinh tế trong những năm gần đây (từ
1994 đến nay) đã chứng tỏ các nhà kinh doanh gặp nhiều bất lợi khi đi kiện tại toà án
kinh tế, những bất lợi đó là:
a. Quyền tự do lựa chọn của các bên đương sự bị hạn chế:
Thông thường khi kiện ra toà án, nguyên đơn phải tiến hành kiện bị đơn tại toà án
nơi bị đơn có trụ sở kinh doanh hay cư trú. Nguyên đơn không được tự do chọn Toà án
kinh tế Tỉnh này hay toà án kinh tế Tỉnh kia để giải quyết tranh chấp mà phải tuân theo
những quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Toà án các cấp, ngược lại, khi các
bên quyết định giao vụ việc cho trọng tài giải quyết các bên có quyền quyết định tổ chức
trọng tài nào sẽ xử tranh chấp giữa các bên.
Toà án là cơ quan tư pháp của nhà nước, các quy định về Hội đồng xét xử rất
phức tạp, cố định, khó có thể thay đổi được, các bên không được quyền tự do chọn các
Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký toà án... theo ý của mình. Những người này
đều do toà án chỉnh định. Trong khi đó các trung tâm trọng tài cho phép các bên đương
sự chọn đích danh người mà mình cho là vô tư, có uy tín và am hiểu chuyên môn làm
trọng tài viên. Điều này không thể tìm thấy trong tố tụng toà án. Hội đồng xét xử tại toà
án có thẩm quyền phải tuân thủ các thủ tục cứng nhắc và các bên đương sự không được
phép thay đổi các thủ tục đó. Ngược lại, các bên tham gia tố tụng trọng tài có thể lựa
chọn và hoàn toàn có thể lập nên một quy tắc tố tụng trọng tài thích hợp cho tình tiết của
vụ việc. Phải thừa nhận rằng quyền tự do trong công việc giải quyết tranh chấp một trong
những bộ phận của quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo đảm lại bị hạm chế khi
các bên giao tranh chấp cho toà án xét xử.
b. Nhu cầu giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí khó được đáp ứng:
Dựa vào phương pháp trọng tài để phân xử tranh chấp các bên tranh chấp được
bảo đảm nguyên tắc tự do lựa chọn, do vậy họ có khả năng kiểm soát trình tự tiến hành
của trọng tài và có thể đẩy nhanh tốc độ giải quyết tranh chấp của trọng tài nhằm thoả
mãn yêu cầu kinh doanh của mình. Nhu cầu giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng
khó có thể đáp ứng được bằng hình thức tố tụng toà án vốn là loại tố tụng được đặc trưng
bởi nhiều cấp xét xử khác nhau từ sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm, quyết định của
toà án có thẩm quyền có thể bị kháng án lên ít nhất một hoặc đôi lần khi hai toà án ở cấp
cao hơn, do đó kéo dài thời gian thưa kiện của các bên tranh chấp. Cũng do phải qua
nhiều cấp xét xử trong một vụ kiện nên chi phí cho vụ tranh chấp cũng tăng lên. Về điểm
này trọng tài với nguyên tắc xét xử một lần có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các nhà
c Nhu cầu giải quyết tranh chấp bí mật của doanh nghiệp
không được đáp ứng:
kinh doanh.
Nguyên tắc xét xử công khai trong tố tụng toà án: Phiên họp xét xử tiến hành
công khai, quyết định của toà án được công bố rộng rãi là điều mà các nhà kinh doanh tối
kỵ. Kinh doanh trên thương trường không chỉ đơn giản là việc ký kết giao dịch trao đổi
hàng hoá nhằm thu lợi nhuận mà gần như là tham gia vào chiến trường thương mại. Đối
với các nhà kinh doanh, bí mật thông tin và uy tín kinh doanh là vấn đề sống còn, nên họ
muốn tranh chấp được giải quyết một cách kín đáo không công khai. Chỉ có trọng tài với
tư cách là một cơ quan xét xử không công khai, phán quyết không được công khai rộng
rãi mới đáp ứng được nhu cầu chính đáng này của các nhà kinh doanh.
Việc phân xử các tranh chấp kinh tế do tính chất phức tạp, đa dạng và
nhiều khía cạnh mang tính chất nghiệp vụ kinh doanh đòi hỏi người phân xử
phải có trình độ pháp luật có kiến thức chuyên môn và bề dày kinh nghiệm
về lĩnh vực thương mại và cả những tiêu chuẩn về đạo đức. Trong tố tụng ở
toà án, các thẩm phán được đào tạo và tuyển dụng theo những tiêu chuẩn
d. Kiến thức chuyên môn của các Thẩm phán còn hạn chế:
chặt chẽ có hiểu sâu về pháp luật nhưng thường bị hạn chế về kiến thức đối
với lĩnh vực khác, đặc biệt là các kiến thức về nghiệp vụ kinh doanh. Điều
đó hạn chế phần nào năng lực đánh giá của họ, nhược điểm này được khắc
phục ở tố tụng trọng tài. Trọng tài viên là các chuyên gia giỏi về tranh chấp
được các bên đương sự tín nhiệm, đề cử ra để giải quyết các vụ tranh chấp
cụ thể. Bằng năng lực chuyên môn của mình như: am hiểu về nghiệp vụ kinh
doanh; hiểu biết chuyên sâu về pháp luật các trọng tài viên có khả năng xem
xét, đánh giá sự việc đúng đắn, khách quan hơn.
Trung tâm trọng tài yêu cầu trọng tài viên của mình
phải có phẩm chất đạo đức tốt trung thực, vô tư khách
quan có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp
luật, kinh tế và phải được cấp thẻ trọng tài viên theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Bên cạnh những nhược điểm trên, giải quyết tranh
chấp bằng toà án còn có những Ưu điểm nhất định. Ưu
điểm lớn nhất của tranh chấp bằng toà án: Toà án là cơ
quan của nhà nước nên các bản án, quyết định của toà án
được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của pháp
luật.
II. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1. Các biện pháp phòng ngừa tranh chấp kinh tế:
Tranh chấp có thể phát sinh ngay trong quá trình đàm phán, ký kết
cũng như trong quá trình thực hiện HĐKT. Các quy định của pháp luật hiện
hành là cơ sở pháp lý ràng buộc các bên tham gia HĐKT. Các bên trong
HĐKT chỉ có thể dùng HĐKT, quy định của pháp luật có liên quan để bảo
vệ quyền lợi của mình và buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ quy định trong
HĐKT. Đồng thời, khi có tranh chấp phát sinh, các bên căn cứ trước hết vào
a. Xây dựng một HĐKT hoàn chỉnh:
HĐKT để giải quuyết tranh chấp, Rõ ràng, HĐKT có vai trò rất quan trọng
trong hoạt động kinh tế.
Tranh chấp phát sinhh trong quan hệ HĐKT là một trong các bên vi
phạm nghĩa vụ HĐKT và gây thiệt hại cho bên kia. Nếu các nghĩa vụ đã
được quy định rõ ràng và cụ thể trong HĐKT mà các bên vẫn vi phạm thì
việc quy trách nhiệm không khó khăn. Song tranh chấp phát sinh sẽ phức
tạp và khó giải quyết nếu HĐKT không quy định cụ thể, rõ ràng những nội
dung liên quan. Do đó biện pháp phòng ngừa tranh chấp tốt nhất là xây dựng
một HĐKT hợp pháp, chặt chẽ đầy đủ và rõ ràng. Một HĐKT hoàn hảo là
một HĐKT kết hợp chặt chẽ được cả hai yếu tố, về mặt nghiệp vụ cũng như
pháp luật, bao gồm các yếu tố về hình thức, chủ thể, nội dung các điều
khoản của hợp đồng và chữ ký, con dấu của các bên.
a.1 Về hình thức hợp đồng
HĐKT chỉ có hiệu lực khi nó được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Do vậy, việc quy định hình thức văn bản cho HĐKT là cách tốt nhất để
tránh phát sinh tranh chấp. Song có những thương vụ không cho phép soạn
thảo đầy đủ mọi thoả thuận giữa các bên bằng một văn bản. Trong trường
hợp này, để tránh tranh chấp các bên có thể ký kết HĐKT bằng các tài liệu
giao dịch mang tính văn bản, có chữ ký của các bên xác nhận nội dung trao
đổi, thoả thuận như công văn, đơn chào hàng, đợt đặt hàng, giấy chấp
nhận....
a.2 Về chủ thể hợp đồng
Nội dung về chủ thể hợp đồng là nội dung không thể thiết được trong
HĐKT. Chủ thể HDKT phải hợp pháp, theo quy định của pháp luật, chỉ có
pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh mới được phép ký kết HĐKT.
Trước khi ký kết hợp đồng, các bên phải tìm hiểu kỹ tư cách chủ thể của
nhau. Việc không tìm hiểu kỹ tư cách chủ thể của các bên có thể dẫn đến
hậu quả nghiêm trọng. Các bên có thể tìm hiểu tư cách chủ thể của nhau một
cách trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan quản lý. Thông thường, các thông
tin về chủ thể được nêu ngay ở phần đầu của HĐKT, bao gồm tên, địa chỉ,
điện tín của các bên. Xác minh rõ những thông tin này, các bên có thể giảm
bớt khả năng xảy ra tranh chấp.
a.3 Về các điều khoản hợp đồng
HĐKT có rất nhiều loại, mỗi loại có những nét đặc đặc thù riêng nên
rất khó có thể đưa ra cách phòng ngừa tranh chấp phù hợp với tất cả các
loại. Tuy nhiên, dù là loại này hay loại kia thì một HĐKT vẫn có những điều
khoản bắt buộc, đó là các điều khoản chủ yếu của HĐKT, những điều khoản
này quyết định gía trị pháp lý của HĐKT. Vì vậy, để tránh tranh chấp xảy
ra, trước tiên các bên phải ký kết các điều khoản chủ yếu một cách hoàn
chỉnh.
- Điều khoản về ngày, tháng ký kết và các chủ thể của HĐKT:
Ngày, tháng ký kết hợp đồng là điều khoản rất quan trọng và nhất
thiết phải có trong HĐKT vì nó thường liên quan đến thời hạn hiệu lực của
hợp đồng, có nhiều cách quy định thời hạn hiệu lực của hợp đồng khác nhau
nhưng cách tốt nhất và hay được áp dụng nhất là căn cứ vào thời điểm ký
kết hợp đồng. HĐKT có thể có hiệu lực từ khi ký kết hoặc các bên cũng có
thể quy định như sau: HĐKT này bắt đầu có hiệu lực ngay sau khi ký kết.
Do vậy, để hạn chế khả năng xảy ra tranh chấp, các bên nên ghi rõ ngày,
tháng ký kết trong HĐKT.
- Điều khoản về đối tượng HĐKT được tính bằng số lượng, khối lượng hoặc
giá trị quy ước.
Đối với điều khoản này, trước hết các bên cần lưu ý đến tên đối tượng,
có nhiều cách xác định tên đối tượng trong hợp đồng, tuỳ vào từng loại đối
tượng cụ thể mà trong hợp đồng có cách ghi phù hợp. Nếu đối tượng trong
hợp đồng có nhiều công dụng, thì các bên nên ghi công dụng hay mục địch
sử dụng đính kèm theo tên của đối tượng. Như vậy, để tránh các tranh chấp
về sau, khi quy định tên đối tượng, các bên ghi tên đối tượng (có thể là tên
khoa học, tên thương mại hay tên thông thường) kèm theo một đặc điểm nào
đó gắn với đối tượng như công dụng, nhãn hiệu, nơi sản xuất, nhà sản xuất
(đối với hàng hoá) ... nhằm xác định chính xác đối tượng mà các bên muốn
đề cập tới trong HĐKT.
- Điều khoản về số lượng, khối lượng hoặc giá trị:
Các bên trong quan hệ HĐKT có thể quy định một cách cụ thể số
lượng, khối lượng hoặc giá trị của đối tượng hợp đồng, có nghĩa là, các bên
có thể quy định 1000 tấn than hay 10.000 máy bơm... trong một HĐKT. Tuy
nhiên, quy định như vậy thì tranh chấp sẽ xảy ra khi một bên vi phạm thoả
thuận này ví dụ: giao thiếu 0,05 tấn than. Các quy định này chỉ phù hợp khi
đối tượng hợp đồng có thể tính được theo cái, chiếc... Khả năng xảy ra tranh
chấp sẽ giảm đi khi các bên áp dụng cách quy định phỏng chứng về số
lượng, khối lượng và giá trị của đối tượng hợp đồng. Các quy định có dung
sai như vậy phù hợp với hàng rời, trong thực tiễn ký kết HĐKT ở Việt Nam,
các bên áp dụng cách quy định có dung sai chưa nhiều nhưng nếu các bên sử
dụng phương pháp này, chắc chắn khả năng xảy ra tranh chấp sẽ giảm đi.
- Điều khoản về chất lượng, chủng loại, quy cách, tính đồng bộ của hàng
hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật:
Vấn đề chất lượng là vấn đề tương đối phức tạp, người ta có thể quy
định chất lượng bằng nhiều cách. Trong thực tế, ba phương pháp quy định
chất lượng sau đây được áp dụng phổ biến nhất, đó là:
Căn cứ vào tiêu chuẩn để thoả thuận chất lượng, có thể là tiêu
chuẩn nhà nước hoặc tiêu chuẩn địa phương.
Thoả thuận chất lượng bằng sự mô tả tỉ mỉ;
Thoả thuận chất lượng theo mẫu hàng, thường được áp dụng đối
với hàng hoá có chất lượng ổn định.
Chọn phương pháp quy định chất lượng nào là tuỳ thuộc vào các bên
và loại đối tượng trong quan hệ HĐKT, nhưng sự quy định của các bên về
chất lượng trong hợp đồng càng chi tiết bao nhiêu thì khả năng xảy ra tranh
chấp càng giảm đi bấy nhiêu.
- Điều khoản về giá cả:
Khi quy định giá cả trong hợp đồng các bên cần phải nêu rõ đơn vị
tính giá và phương pháp định giá, chọn đơn vị tính giá cần căn cứ vào tính
chất của đối tượng và thông lệ giao dịch đó trên thị trường. Giá trong hợp
đồng có thể được quy định theo đơn vị khối lượng hay đơn vị thường dùng
trong giao dịch đối tượng đó như: trọng lượng, độ dài, diện tích, cái, chiếc..
họăc những đơn vị khác như trăm, tá, chục. Hoặc giá cũng có thể được tính
theo trọng lượng đối với đối tượng là hàng hoá như quặng, tinh dầu, hoá
chất.. Khi quy định giá các bên còn có thể quy định theo tỷ lệ tạp chất trong
đối tượng, ví dụ giá của gạo 5% tấm là 2200 đ/Kg.
Khi đã chọn một đơn vị tính giá nào đó, các bên cũng cần qui định rõ
thêm trong hợp đồng: Ví dụ trong một hợp đồng mua bán, giá được tính theo
trọng lượng thì phải quy định rằng đó là trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh
hay trọng lượng cả bì coi như tịnh hoặc phải thoả thuận xem giá bao bì có
được tính trong giá hàng hay không.
Phương pháp định giá là do các bên lựa chọn. Đối với những mặt
hàng mà nhà nước quản lý thì phải định giá phù hợp với quy định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, tất cả các thoả thuận của các bên phải được
ghi một cách chi tiết, rõ ràng trong hợp đồng để hạn chế tranh chấp xảy ra.
Trên đây là một số lưu ý khi các bên ký kết các điều khoản chủ yếu
của HĐKT, tuỳ vào từng loại hợp đồng cụ thể mà các bên ký kết thêm các
điều khoản khác phù hợp với đặc thù riêng của loại HĐKT đó. Ví dụ trong
hợp đồng liên kết kinh tế: Do tính chất đặc thù của chủng loại hợp đồng liên
kết đòi hỏi các bên phải quy định chặc chẽ, rõ ràng về nghĩa vụ và quyền lợi
của mỗi bên trong liên kết kinh tế, nên trong hợp đồng phải có thêm các điều
khoản về phương thức ăn chia hay phân phối lợi nhuận giữa các bên ... Đối
với trường hợp liên kết kinh tế trên quy mô lớn, trong một thời gian ổn định,
lâu dài, cần phải thành lập Hội đồng quản trị để điều hành sản xuất kinh
doanh, thì phải quy định rõ trong hợp đồng liên kết (hoặc quy chế đính kèm)
về thành phần Hội đồng quản trị, quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng
quản trị, quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng quản trị, quan hệ giữa các
chủ thể với Hội đồng quản trị ...
a.4 Về chữ ký và con dấu:
Toàn bộ những cố gắng của các bên nhằm soạn thảo một HĐKT chặt
chẽ và rõ ràng như nêu ở trên sẽ không còn giá trị nếu HĐKT không được
ký và đóng dấu hợp pháp.
Văn bản hợp đồng phải do hai bên chủ thể ký và đóng dấu, người ký
vào HĐKT phải là người có đủ thẩm quyền đối với hợp đồng và con dấu
phải là con dấu có giá trị hiệu lực. Tuy đây là khâu cuối cùng của sự hình
thành một HĐKT nhưng nó lại có ý nghĩa quyết định. Do vậy, các bên phải
rất lưu ý vấn đề này. Cũng như đối với vấn đề chủ thể HĐKT, việc thẩm
định tư cách, thẩm quyền của người ký tên vào hợp đồng và giá trị của con
dấu là rất cần thiết bảo đảm an toàn cho các bên trong giao dịch.
Trên đây là một số điểm mà các bên cần lưu ý khi ký kết HĐKT để có
được một hợp đồng chặt chẽ, có khả năng ngăn ngừa và hạn chế tranh chấp
ở mức cao nhất.
b. Bảo đảm trình độ cần thiết của người tham gia đàm phán:
Trong mỗi giao dịch kinh tế, người tham gia đàm phán, ký kết hợp
đồng có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại
của giao dịch đó. Người tham gia đàm phán ký kết hợp đồng không chỉ phải
có đủ tư cách, thẩm quyền về mặt pháp lý mà còn phải bảo đảm kiến thức về
nghiệp vụ và pháp luật nhất định cũng như nắm được nghệ thuật đàm phán,
giao dịch cần thiết để đi đến một thoả thuận có lợi cho mình.
Kiến thức về nghiệp vụ bảo đảm các bên sẽ không có sơ hở đáng tiếc
về nghiệp vụ khi ký kết hợp đồng như: ký kết hợp đồng khi chưa tìm được
nguồn hàng hoặc nguồn tiêu thụ dẫn đến phải huỷ hợp đông hay ký hớ về
giá ... Kiến thức về mặt nghiệp vụ góp phần bảo đảm tính khả thi của hợp
đồng được ký kết.
Hiểu biết về pháp luật cũng là yếu tố không thể thiếu, nhiều khi giao
dịch bị đổ vỡ hoàn toàn do các bên không nắm được các quy định của pháp
luật. Một số nhà kinh doanh đã không phân biệt được bên ký kết và người ký
hợp đồng dẫn đến ký kết với người không có đủ tư cách, thẩm quyền, hoặc
đã có HĐKT được ký kết để mua bán đối tượng cấm của pháp luật...
Mọi kiến thức về nghiệp vụ và pháp luật sẽ không mang lại kết quả
đích thực của nó nếu người tham gia đàm phán, ký kết không nắm được
nghệ thuật đàm phán, nghệ thuật giao dịch. Hợp đồng có thể được hình
thành từ việc giao dịch qua thư tín hay gặp gỡ trực tiếp giữa các bên. Mỗi
một hình thức yêu cầu một nghệ thuật riêng, ví dụ khi sử dụng thư tín, các
bên phải chuyển tải được những nội dung, thông tin cần thiết, đồng thời phải
thể hiện tính lịch sự, chính xác qua ngôn ngữ diễn đạt và hình thức của lá
thư.
Như vậy, để có được sự thành công nhà kinh doanh cần phải hội tụ
được những yếu tố như kiến thức về nghiệp vụ, hiểu biết về pháp luật và
nghệ thuật trong đàm phán, giao dịch. Để đạt được như vậy cần có các
chưong trình đào tạo nghiệp vụ và giới thiệu nghệ thuật kinh doanh thích
hợp cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, cũng cần phải có các chương trình
tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật đối với các cán bộ
kinh doanh, đặc biệt là các giám đốc hoặc các cán bộ chủ chốt trong doanh
nghiệp bởi vì họ thường là những người trực tiếp hoặc được uỷ quyền ký kết
HĐKT.
c. Hoàn thiện Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (HĐKT):
Sự đối lập về quyền lợi giữa các bên, sự hạn chế về kiến thức nghiệp
vụ và ý thức pháp luật của các chủ thể luôn là các nguyên nhân dẫn đến
tranh chấp trong HĐKT. Không chỉ có vậy, những quy định chưa rõ ràng,
chưa sát với thực tiễn của pháp luật cũng làm gia tăng khả năng sảy ra tranh
chấp.
Sau khi ra đời và được áp dụng, Pháp lệnh HĐKT cũng đã góp phần
quan trọng vào việc ổn định quan hệ kinh tế và giải quyết tranh chấp, tuy
nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế – xã hội, nền kinh tế
hàng hoà nhiều thành phần phát triển rõ nét nên một số quy định trong Pháp
lệnh HĐKT không còn phù hợp nữa. Để tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho
sự phát triển ổn định của quan hệ HĐKT, thiết nghĩ một số điều sau đây
trong Pháp lệnh HĐKT cần phải được sửa đổi, bổ sung.
c.1
Về chủ thể HĐKT
Theo Điều 2 Pháp lệnh HĐKT thì HĐKT chỉ được hình thành giữa pháp
nhân với pháp nhân hoặc pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Điều này là chưa phù hợp trong điều kiện hiện nay, khi mà số lượng các
doanh nghiệp tư nhân ngày càng nhiều và nhu cầu về quyền bình đẳng giữa
các thành phần chủ thể ngày càng cao. Vì vậy, để bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật giữa các thành phần chủ thể HĐKT, để phù hợp với yêu cầu
năng động của hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường nên
mở rộng chủ thể HĐKT như sau: Chủ thể của HĐKT bao gồm pháp nhân và
cá nhân có đăng ký kinh doanh, Công ty hợp danh. Điều này có nghĩa là hợp
đồng giữa hai cá nhân có đăng ký kinh doành nhằm mục đích kinh doanh
thu lợi nhuận phải được coi là HĐKT.
Đồng thời cũng cần bổ sung Điều 42, 43 một cách tương ứng. Tức là: các
quy định của Pháp lệnh HĐKT được áp dụng trong việc ký kết và thực hiện
HĐKT giữa pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh với người làm công
tác khoa học kỹ thuật, Nghệ nhân, Hộ kinh tế gia đình, Tổ hợp tác và các Tổ
chức cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
c.2
Về HĐKT vô hiệu
Điều 8 Pháp lệnh HĐKT quy định một HĐKT bị coi là vô hiệu toàn bộ khi:
Nội dung HĐKT vi phạm điều cấm của pháp luật;
Một trong các bên ký kết HĐKT không có đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng;
Người ký kết HĐKT không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo;
Vậy thì thường hợp HĐKT được ký sai hình thức hay do bị cưỡng ép,
đe doạ thì sao? đó có phải là HĐKT vô hiệu không?
Theo chúng tôi nên sửa Khoản 1 Điều 8 Pháp lênh HĐKT như sau để phù
hợp với thực tế hơn:
Nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức
xã hội.
Một trong các bên ký kết HĐKT không có đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng.
Bên ký kết hoặc người ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền theo quy
định của pháp luật.
2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp:
Như đã phân tích ở các phần trên, tranh chấp kinh tế xảy ra là điều
khó tránh khỏi, khi tranh chấp xảy ra các bên tranh chấp có thể giải quyết
bằng cách khiếu nại, hoà giải hay đi kiện, nhưng điều mà các bên chú ý hơn
cả là làm thể nào để giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả nhất. Sau đây là
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp:
a. Đặc biệt lưu ý đến điều khoản về việc giải quyết tranh
chấp
Khi ký kết HĐKT không bên nào muốn tranh chấp phát sinh, do vậy
điều khoản về giải quyết tranh chấp được coi là điều khoản dự phòng. Nếu
hợp đồng được thực hiện một cách tốt đẹp nhất thì các bên dường như có thể
bỏ qua điều khoản về giải quyết tranh chấp ghi trong hợp đồng, song khi
tranh chấp phát sinh thì điều khoản về giải quyết tranh chấp lại đặc biệt có ý
nghĩa và cần thiết. Trên thực tế, bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền đòi lại
quyền lợi đã bị vi phạm bằng cách thương lượng trực tiếp với bên vi phạm
hoặc đi kiện ra toà án hoặc trọng tài.
Do tranh chấp là vấn đề liên quan đến quyền lợi nên không phải lúc
nào các bên cũng có thể dễ dàng thoả mãn khi giải quyết tranh chấp bằng
cách thương lượng trực tiếp, mặc dù phương pháp thương lượng trực tiếp
thông thường là các giải pháp đầu tiên được đề cập đến để giải quyết tranh
chấp, khi không thể giải quyết được bằng con đường thương lượng trực tiếp
thì các bên phải nhờ đến toà án hoặc trọng tài và giải quyết tranh chấp là một
yêu cầu thực tế. Vấn đề đặt ra là: có phải hễ có tranh chấp xảy ra mà không
giải quyết được bằng thương lượng thì đương nhiên được đưa ra toà án hoặc
trọng tài không? Hoàn toàn không phải như vậy, toà án và các trung tâm
trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng,
nhưng thẩm quyền đó không phải là đương nhiên. Nghĩa là, toà án hoặc các
trung tâm trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng khi
giữa hai bên trong hợp đồng có thoả thuận giao tranh chấp đó cho toà án
hoặc trọng tài. Thoả thuận này có thể được làm thành văn bản riêng hoặc
nêu thành một điều khoản trong hợp đồng.
Điều khoản về việc giải quyết tranh chấp phát sinh có thể được nêu
ra trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh, song cách tốt nhất mà các bên
cần áp dụng là đưa điều khoản về việc giải quyết tranh chấp thành một điều
khoản của hợp đồng ngay từ khi ký kết hợp đồng. Sở dĩ như vậy, là do sau
khi tranh chấp phát sinh các bên thường ít đủ bình tĩnh để suy xét và lựa
chọn cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp sự bất đồng về quyền lợi sau khi
tranh chấp xảy ra sẽ khiến cho các bên khó có thiện chí thoả thuận lựa chọn
một cơ quan giải quyết tranh chấp phù hợp. Vì vậy, các bên nên lựa chọn và
quy định cơ quan giải quyết tranh chấp ngay khi ký kết hợp đồng, khi mà
tranh chấp chưa phát sinh.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam các tranh chấp về hợp đồng
có thể được Toà án, các Trung tâm trọng tài giải quyết, khi chọn một trong
ba cơ quan giải quyết tranh chấp trên, các bên phải ghi rõ tên của cơ quan đó
cùng với Quy tắc tố tụng của nó (trừ toà án). Điều này rất quan trọng vì nếu
không ghi rõ như vậy tranh chấp sẽ không được giải quyết. Ví dụ: Khi ký
kết hợp đồng công ty A và công ty B đã thoả thuận trong điều khoản giải
quyết tranh chấp hợp đồng như sau: “Tất cả các tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tranh chấp này sẽ được giải quyết bởi Trung tâm Trọng tài kinh tế Hà
nội theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam”. Khi có tranh chấp xảy ra, nếu
hai bên đưa tranh chấp ra Trung tâm trọng tài kinh tế Hà nội thì sẽ bị từ chối
vì Trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội không áp dụng Quy tắc tố tụng của
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. Cuối cùng, do thoả thuận về cơ quan
giải quyết tranh chấp trái pháp luật mà tranh chấp không được giải quyết.
b. Cố gắng giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thương lượng trực
tiếp:
Mặc dù các phương pháp thương lượng trực tiếp có thể không thoả
mãn được yêu cầu của các bên nhưng bên có quyền lợi bị vi phạm vẫn nên
tiến hành thương lượng trước khi đi kiện. Sở dĩ như vậy là do bên đương sự
là những người hiểu rõ tranh chấp nên dễ dàng nhân nhượng với nhau, rút
ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, không bị đọng vốn và lệ phí giải quyết
tranh chấp đỡ tốn kém.
Việc giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng có ý nghĩa rất
quan trọng trong hoạt động kinh tế, Trước hết các phương pháp thương
lượng góp phần đảm bảo quá trình kinh doanh của các bên tiến hành được
bình thường, Việc khiếu nại hay hoà giải kịp thời bảo vệ được quyền lợi cho
bên bị vi phạm. Khi bên vi phạm thoả mãn toàn bộ hay một phần yêu cầu
của bên bị vi phạm thì có nghĩa là quyền lợi của bên bị vi phậm đã được
phục hồi. Nếu quyền lợi không được đảm bảo, phục hồi sẽ ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của bên bị vi phạm. Thứ hai: Khiếu nại là cơ sở để toà
án hoặc trọng tài chấp nhận đơn kiện Thứ ba: Thông qua khiếu nại, các bên
có thể hiểu rõ về bạn hàng, từ đó có quyết định tiếp tục kinh doanh với đối
tác đó nữa không.
Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng con đương thương lượng có nhiều
điểm thuận lợi cho cả hai bên. Giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại và hoà
giải có thành công, có hiệu quả hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các bên
chủ thể hợp đồng. Dù là với tư cách người vi phạm hay người bị vi phạm thì
các chủ thể cũng cần có sự hiểu biết về nghiệp vụ cũng như luật pháp và
thiện chí với bạn hàng. Khi tranh chấp phát sinh các bên cố gắng bằng mọi
cách giải quyết tranh chấp thông qua các phương pháp thương lượng, các
bên chỉ nên đi kiện khi đã cố gắng hết sức mà tranh chấp vẫn không giải
quyết được bằng con đường thương lượng trực tiếp.
c. Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của tòa án:
Để có thể nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của toà án, trước hết cần
phải nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ toà án, đặc biệt là ở các toà
án địa phương (Cấp Tỉnh, Huyện)
Toà án nhân dân các cấp trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án kinh
tế trong những năm vừa qua về cơ bản là thực hiện đúng thẩm quyền luật
định. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp toà án nhân dân thụ lý sai
thẩm quyền và tiến hành hoà giải thành và ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự thiếu căn cứ và không phù hợp pháp luật. Sau đây là
một vài ví dụ:
Vụ án "Tranh chấp nghĩa vụ góp vốn trả nợ" giữa Nguyên đơn là Ông Trần
Văn Ng - giám đốc Công ty thương mại Hoài Nam, Quy Nhơn và Bị đơn là
các Ông Hồ Đăng T, Quách Đình N và Lê Hữu Ph.
Ngày 29/5/1995 Ông Trần Văn Ng ký hợp đồng liên doanh sản xuất thuỷ
sản đông lạnh số 04 cùng các Ông Đăng T, Đình N, Hữu Ph là các cá nhân
không phải là thành viên của công ty TNHH Hoài Nam.
Để thực hiện hợp đồng liên doanh, Ông Trần Văn Ng đã lập 3 khế ước vay
của chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Bình Định 130 triệu đồng để
thành lập xưởng chế biến thuỷ, hải sản. Do làm ăn kém hiệu quả nên không
có khả năng thanh toán, Ngân hàng yêu cầu Ông Ng thanh toán nợ, cả vốn
và lãi. Sau nhiều lần yêu cầu các Ông T, N, Ph cùng tìm cách trả nợ cho
ngân hàng nhưng không được các bên hợp tác thực hiện, ngày 29/11/1995
Ông Ng gửi đơn kiện đến Toà án kinh tế Toà án Nhân dân tỉnh Bình Định
yêu cầu phía liên doanh là các Ông T, N, Ph cùng công ty có trách nhiệm trả
nợ cho ngân hàng.
Toà kinh tế Toà án Nhân dân Tỉnh Bình Định đã thụ lý và giải quyết vụ án
theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Sau khi tiến hành hoà giải thành,
toà án kinh tế đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số
211 ngày 12/2/1995. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị giám đốc
thẩm quyết định trên. n giám đốc thẩm số 05/KT ngày 15/10/1996 của Toà
án nhân dân tối cao xử chấp nhận kháng nghị, huỷ quyết định công nhận sự
thoả thuận của các đương sự tại toà án nhân dân Tỉnh Bình Định, giao hồ sơ
về Toà án nhân dân Tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết theo thủ tục các vụ án
dân sự. Hợp đồng giữa các bên kể trên không phải là HĐKT mà là hợp đồng
dân sự bởi vì các cá nhân T, N, Ph là các cá nhân không có đăng ký kinh
doanh, cũng không phải là thành viên của công ty TNHH Hoài nam, việc thụ
lý giải quyết vụ tranh chấp của Toà án Nhân dân Tỉnh Bình Định là sai thẩm
quyền và trái pháp luật.
Vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa kho bạc nhà nước Tỉnh Thanh Hoá
với công ty chè - cà phê Thanh Hoá: Ngày 29/12/1992, Công ty chè - cà phê
Thanh Hoá ký hợp đồng vay của kho bạc Thanh Hoá 150 triệu đồng với lãi
suất 0,6%/tháng trong 36 tháng, thời hạn trả nợ là 30/12/1995. Đến hạn trả
nợ, Công ty chè - cà phê Thanh Hoá vẫn không trả được nợ, nên ngày
18/6/1996 giám đốc Kho bạc gửi đơn kiện đến Toà án kinh tế Tỉnh Thanh
Hoá yêu cầu Công ty chè - cà phê Thanh Hoá trả nợ gốc và lãi theo hợp
đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Giám đốc Kho bạc uỷ quyền cho Ông Bùi
Đình Chung tham gia tố tụng trước Toà án nhân dân Tỉnh Thanh Hoá, Toà
án kinh tế TAND Tỉnh Thanh Hoá đã tiến hành hoà giải thành và lập biên
bản hoà giải thành. Nội dung biên bản hoà giải thành là Công ty chè - cà phê
Thanh Hoá trả cho Kho bạc Thanh Hoá 150.000.000 đồng theo hợp đồng tín
dụng, không kèm theo lãi. Người ký vào biên bản hoà giải thành phía kho
bạc Nhà nước Thanh Hoá là Ông Nguyễn Tấn Vinh, là người không được
giám đốc Kho bạc uỷ quyền. Ngày 2/8/1996, TAND Tỉnh Thanh Hoá ra
quyết định số 2120/TA công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự.
Quyết định này sai cả về nội dung lẫn hình thức:
- Về nội dung: Quyết định này không đúng theo yêu cầu của giám đốc Kho
bạc Nhà nước Thanh Hoá, đòi Công ty chè - cà phê Thanh Hoá trả
150.000.000 đồng tiền gốc kèm theo lãi tính theo hợp đồng tín dụng đã ký
kết giữa hai bên. Quyết định này cũng không nêu rõ thời gian, phương thức
trả nợ để hai bên thực hiện.
- Về hình thức: Ông Bùi Đình Chung là người được giám đốc Kho bạc uỷ
quyền tham gia tố tụng nhưng Ông Chung không ký vào biên bản hoà giải
thành mà biên bản hoà giải thành lại do Ông Vinh ký. Ông Vinh là người
không được Giám đốc Kho bạc uỷ quyền nên quyết định này vi phạm khoản
1 Điều 22 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
Như vậy, trong một số trường hợp các Cán bộ của Toà án các cấp, những
người đứng ra bảo đảm pháp luật được thực hiện lại không nắm vững pháp
luật hoặc vì lý do nào đó mà đã thực hiện trái pháp luật. Muốn nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp của Toà án thì trước hết phải giảm một cách tối đa
những trường hợp như vậy.
Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án hiện nay còn gặp nhiều trở ngại
khác. Tổng kết hai năm hoạt động của toà kinh tế các cấp cho thấy số vụ
việc mà toà án giải quyết giảm đi rất nhiều so với số vụ mà Trọng tài kinh tế
giải quyết trước đây. Ví dụ trong năm 2001 Toà án giải quyết 684 vụ án kinh
tế (trong đó tranh chấp HĐKT chiếm phần lớn). Con số này chỉ tương đương
với 1/5 số vụ việc mà Trọng tài kinh tế giải quyết trước đây. Số vụ việc Toà
án kinh tế cả nước thụ lý giải quyết hiện nay chưa bằng số vụ trong một
Tỉnh, Thành phố trung bình mà Trọng tài kinh tế giải quyết trước đây.
Nguyên nhân chủ yếu của thực tế này là ở Việt Nam hiện nay, các doanh
nghiệp chưa quen tác phong đưa các tranh chấp kinh tế ra toà án giải quyết,
mà thường coi đây là vấn đề rất nặng nề, kiện nhau đến toà là việc bất đắc
dĩ, hết tình hết nghĩa với nhau. Họ cho rằng toà án là cơ quan xét xử đối với
những việc làm phạm pháp chứ không coi đó là nơi giải quyết các tranh chấp
hoặc vi phạm về hợp đồng. Trong thực tế, các bên tranh chấp đã dựa vào các
thế lực khác để giải quyết tranh chấp như nhờ Cơ quan Công an, Viện kiểm
sát kể cả dùng những biện pháp như khởi tố, truy tố, bắt giam để thu hồi
nợ.... có khi các chi phí không chính thức mà các doanh nghiệp phải trả để
các Cơ quan Công an, Viện kiểm sát giải quyết vụ việc cho mình còn tốn
kém hơn cả các chi phí phải bỏ ra khi đưa vụ việc ra cơ quan có thẩm quyền
giải quyết (toà án, trọng tài) nhưng nó có ưu điểm là nhanh, hiệu quả, không
bị phiền hà, không bị phê phán về những sai sót về phía mình, không cần
công khai tranh chấp.
Mặt khác, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế của toà kinh tế hiện nay còn
nhiều phiền phức, chậm chễ, không gắn với hiệu quả. Từ thủ tục nộp đơn,
tạm ứng án phí, cung cấp các chứng lý, làm việc, đối chất, hoà giải, phiên
toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm và nhiều vụ việc khác và nhiều khi Giám
đốc thẩm có khi kéo dài hàng năm, cuối cùng xét xử xong lại phải chuyển
sang bộ phận thi hành án. Khi đã chuyển sang bộ phận này rồi, lúc nào thi
hành còn tuỳ thuộc ở cơ quan thi hành án. Với thời gian như vậy, đối
phương có khi cũng không còn tài sản để thu hồi mà thiệt hại phát sinh thì
không biết tới mức nào.
Đối với các nhà kinh doanh, việc quan tâm đầu tiên khi giải quyết tranh chấp
là hiệu quả, cụ thể là nhanh, gọn, sớm thu hồi vốn, tránh các thiệt hại phát
sinh tiếp trong thời gian giải quyết để có điều kiện tiến hành thương vụ khác,
thậm chí kể cả có thiệt hại so với quyền lợi được hưởng một phần họ vẫn sẵn
sàng. Hơn nữa, mặc dù tranh chấp quyết liệt với nhau song các bên vẫn
muốn có một cơ quan uy tín giải quyết trên cơ sở có lý, có tình để khi giải
quyết xong họ vừa rút được ra cho mình những bài học nhưng vẫn cảm thấy
thoải mái, thậm chí tiếp tục làm ăn với nhau. Đây là tâm lý chung của hầu
hết các doanh nghiệp có xảy ra tranh chấp kinh tế.
Để cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của mình,
toà án cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ giải quyết tranh chấp có kiến
thức về pháp luật kinh tế, công tâm đức độ, có thể đáp ứng tốt được những
yêu cầu thực tại của xã hội. Theo chúng tôi cần phải đào tạo một đội ngũ
thẩm phán, việc đào tạo này nên giao cho toà án tối cao vì:
Toà án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất và tập trung nhiều Thẩm phán
có năng lực, trình độ, có quá trình công tác lâu năm đúc kết được nhiều kinh
nghiệm.
Nhiều hoạt động kinh tế mới phát sinh trong cơ chế thị trường như, tranh
chấp về thương hiệu, các loại hình công ty, thị trường chứng khoán, hoạt
động ly-xăng.. cần được bồi dưỡng kiến thức mà các toà án địa phương khó
thực hiện được.
d. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế:
Ở nước ta hiện tại, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được quy định trong
một số văn bản dưới luật như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
ngày 16/3/1994; Nghị định 116 - CP của Chính phủ ngày 5/9/1994 về tổ
chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế; quyết định số 91/PTM - TT của
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ngày 4/4/1996 phê
chuẩn Quy tắc tố tụng trọng tài trong nước của trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/PL UBTVQH11 ngày
25/02/2003.. thực tế nghiên cứu và áp dụng các văn bản này cho thấy một số
vấn đề sau đây chưa phù hợp, cần có sự sửa đổi bổ sung:
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chưa có quy định về thời hiệu khởi kiện đối với
tranh chấp phát sinh từ HĐKT. Thời hiệu khởi kiện chỉ được quy định trong
Điều 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế là 06 tháng, có nghĩa
là về mặt nguyên tắc thời hiệu này chỉ được áp dụng khi đưa tranh chấp ra
giải quyết taị Toà án. Điều này quy định không hợp lý vì có những vụ án
phức tạp cần thời gian để hai bên tự giải quyết hoặc thu thập chứng cứ, điều
21 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/PL UBTVQH11 quy định thời
hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là 02 năm kể từ ngày xảy
ra tranh chấp.
Thiết nghĩ, quy định này nên được đưa sang Pháp lệnh HĐKT và được áp
dụng cho cả việc giải quyết tranh chấp theo tố tụng trọng tài.
d.1 Tuyên bố HĐKT vô hiệu ?Xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
Theo khoản3, Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì tuyên bố HĐKT vô
hiệu là thuộc thẩm quyền của Trọng tài kinh tế Nhà nước. Từ khi tổ chức
này chấm dứt hoạt động trong năm 1994 đến nay, vấn đề này còn bỏ trống,
chưa có một văn bản pháp luật nào đề cập tới, gây trở ngại cho việc xử lý
HĐKT vô hiệu mỗi khi xảy ra. Để việc xử lý HĐKT vô hiệu diễn ra nhanh
chóng, hiệu quả, Pháp lệnh HĐKT nên có quy định mới về vấn đề này.
Xử lý HĐKT vô hiệu: Khoản 2 điều 39 Pháp lệnh HĐKT quy định I” Các
bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc thực
hiện HĐKT trong trường hơp không thể trả bằng hiện vật thì phải trả bằng
tiền” như vậy thì giá trị tài sản được tính ra tiền tại thời điểm nào?. Theo
quan điểm của chúng tôi có thể quy định như sau:
Trong trường hợp không có tài sản để hoàn trả thì được trả bằng tiền theo
giá ở thời điểm xử lý tài sản.
Trường hợp một bên đã nhận tiền trước và đã giao được một phần hàng
đối trừ tiền hàng, phần tiền còn lại các bên hoàn trả cho nhau không tính lãi
suất đối với số tiền chưa thanh toán với nguyên tắc thiệt hại phát sinh các
bên phải chịu.
d.2 Về hoà giải
Theo Điều 5 và Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì
hoà giải là thủ tục bắt buộc của mọi tranh chấp HĐKT. Nếu chưa hoà giải thì
không được đưa vụ tranh chấp ra xét xử.
Trong thực tế kinh doanh, nhiều doanh nghiệp biết được quy định này đã cố
tình trì hoãn việc hoà giải để thực hiện xong việc hoà giải để thực hiện xong
việc chiếm dụng vốn hoặc kéo dài việc chiếm giữ tài sản của phía bên kia.
Sau đây là một ví dụ về vấn đề này:
Đầu năm 1995, Công ty xuất nhậnp khẩu (XNK) Hồng Bàng, Hải phòng ký
hợp đồng liên doanh với công ty TNHH Hải Việt, theo đó Hồng Bàng góp
một cửa hàng để cho Hải Việt bán hàng xuất khẩu, việc hạch toán lỗ lãi diễn
ra hàng tháng và bên Hải Việt được hưởng 70% còn phía Hồng Bàng được
30%. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên Hải Việt liên tiếp vi phạm hợp
đồng, không chia tiền cho phía Hồng Bàng.
Công ty XNK Hồng Bàng đã có đơn kiện đến Toà án Nhân dân Thành phố
Hải phòng yêu cầu Hải Việt trả tiền và đòi lại nhà. TAND Thành phố Hải
phòng đã thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập công ty TNHH để hoà giải
nhưng phía Hải Việt luôn trì hoãn bằng các lý do: giám đốc đi công tác,
giám đốc đang ở nước ngoài... Sau đó 3 tháng thì giám đốc công ty TNHH
Hải Việt bị bắt vì làm ăn phạm pháp. Thế là vụ án kéo dài cho tới tháng
3/1996 mà phía công ty XNK Hồng Bàng vẫn chưa đòi được tiền và cũng
chưa lấy lại được nhà, vẫn bị Hải Việt chiếm dụng.
Ví dụ trên cho thấy: Quy định về hoà giải như vậy là chưa kín kẽ, vẫn có chỗ
hở cho công ty Hải Việt lợi dụng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của công ty XNK Hồng Bàng nói riêng, đến sự ổn định kinh tế của toàn xã
hội nói chung.
Quy định này nên được thay đổi như sau: Hoà giải vẫn là thủ tục quan trọng
trước khi đưa tranh chấp ra xét xử. Tuy nhiên, trong trường hợp mà hành vi
vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật quá rõ ràng thì Toà án phải đưa ra xét
xử để đình chỉ ngay các hành vi vi phạm pháp luật. Khi triệu tập các bên
đương sự đến để hoà giải, nếu bị đơn được triệu tập đến lần thứ 2 mà vẫn
vắng mặt không có lý do chính đáng, thì Toà án đưa vụ việc ra xét xử.
e. Về việc công nhận và thi hành quyết định hay phán quyết của trọng tài:
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá các cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế,
bên cạnh Toà án kinh tế, Chính phủ Việt nam đã cho phép thành lập Trọng
tài kinh tế và cho phép mở rộng thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp
kinh tế của Tung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam. Giải quyết tranh chấp
HĐKT bằng con đường trọng tài có nhiều ưu điểm so với việc giải quyết
tranh chấp bằng Toà án (như đã phân tích ở phần trước) nhưng hiện nay các
nhà kinh doanh vẫn chưa yên tâm khi giao tranh chấp kinh tế cho Trọng tài
giải quyết. Trở ngại lớn nhất này đã được Pháp lệnh Trọng tài Thương mại
số 08/PL UBTVQH11 quy định tại điều 57 thi hành quyết định trọng tài.
Sau 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài các bên
phải thi hành quyết định trọng tài. Bên được thi hành quyết định trọng tài có
quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú
hoặc nơi cón tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài.
g. Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tam thời nói chung là nên hết sức thận
trọng vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi cũng như hoạt động kinh doanh
của các đương sự. Như đã trình bày ở chương 2 theo quan điểm của chúng
tôi nên để thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án thực thi quyền này. Vì bản
thân Thẩm phán có quyền thay đổi, huỷ bỏ nó trước khi Toà được tiến hành,
như vậy đảm bảo nguyên tắc ai có quyền thay đổi người đó có quyền huỷ bỏ
các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
h. Bản án, quyết định của toà án đang được thi hành thì toà án thụ lý giải
quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp:
Trong thực tiễn việc phá sản doanh nghiệp các văn bản pháp luật còn nhiều
mâu thuẫn, không đồng nhất. Như trong trường hợp bản án, quyết định kinh
tế của toà án đang được thi hành thì toà án thụ lý giải quyết việc tuyên bố
phá sản doanh nghiệp những khó khăn vướng mắc của quy định này đã được
trình bày ở Chương 2 chúng tôi xin phép được nêu giải pháp như sau:
Các bản án, quyết định của toà án đang được thi hành thì tiếp tục thi hành
không dừng lại để chờ thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, không xem
xét các khoản chi trả cho bản án, quyết định của toà án là một khoản nợ để
giải quyết theo thủ tục phá sản doanh nghiệp.
Các quyết định của bản án về trả lương, cấp dưỡng, bồi thường tính mạng
sức khoẻ... tiếp tục thi hành còn các khoản chi trả khác chờ thủ tục giải
quyết phá sản doanh nghiệp và sẽ thanh toán theo tỷ lệ với các khoản nợ
khác. Nếu việc phá sản được dừng thì bản án tiếp tục thi hành.
Các khoản chi trả theo bản án, quyết định của Toà án coi như một khoản
nợ có đảm bảo trong thủ tục phá sản doanh nghiệp.
KẾT LUẬN.
Ở Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được ra từ khi đất
nước giành độc lập, tuy nhiên ở giai đoạn đầu các tranh chấp kinh tế chưa đa
dạng và phức tạp.
Sự ra đời cơ chế mới là yêu cầu khách quan, Điều 15 Hiến pháp
1992 đã khẳng định : “ Nhà nước phát triển nền kinh tế tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường..”
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nhiều thành phần đã phát sinh
các quan hệ kinh tế mới, song song với chúng là các tranh chấp mới, các
tranh chấp kinh tế này rất đa dạng về chủ thể, phong phú về nội dung, quyết
liệt về tính chất tranh chấp mà trước đây chưa có. Chính vì vậy cơ chế giải
quyết tranh chấp cũ không còn phù hợp về hình thức cũng như cách thức
giải quyết.
Trước yêu cầu đó nhà nước đã thành lập toà kinh tế nằm trong hệ
thống Toà án Nhân dân và các trung tâm trọng tài kinh tế (Phi Chính phủ),
các cơ quan tài phán này có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế
phát sinh trong nền kinh tế thị trường. Trong quá trình hoạt động các cơ
quan tài phán đã đạt được hiệu quả nhất định, góp phần thúc đẩy kinh tế phát
triển, ổn định xã hội, tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nội dung và tình
hình tranh chấp trong kinh tế ngày càng biến động và phát triển, việc giải
quyết kinh tế tranh chấp kinh tế còn hạn chế cả về văn bản pháp luật kinh tế
và cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp.
Do đó, nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh tế được đặt ra, là cần phải sửa đổi bổ sung nhưng quy định không còn
phù hợp đã được phân tích kỹ ở Chương II.
Gồm một số vấn đề sau:
- Hình thức của hợp đồng kinh tế;
- Chủ thể của hợp đồng kinh tế;
- Mục đích ký kết hợp đồng kinh tế;
- Hợp đồng kinh tế vô hiệu và cách giải quyết hợp đồng kinh tế vô hiệu.
- Thời hiện khởi kiện...
- Thành lập Trung tâm trọng tài thương mại.
- Quyết định trọng tài.
- Thi hành quyết định của trọng tài.
- Môi trường pháp lý.
Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn người viết xin mạnh dạn nêu một số
kiến nghị về quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế nhằm góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật về kinh tế và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu giải
quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Hiến pháp 1992.
2. Bộ luật Dân sự
3. Bộ luật Hàng Hải
4. Luật doanh nghiệp tư nhân.
5. Luật công ty
6. Luật doanh nghiệp tư nhân.
7. luật tổ chức toà án nhân dân sửa đổi năm 1993.
8. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
9. Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự .
10. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
11. Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm.
12. Nghị định 116/Cp ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động
của trung tâm trọng tài kinh tế .
13. Nghị định 69/CP ngày 16/10/1993 về thủ tục thi hành án
dân sự .
14. Quyết định 204/TTG ngày 28/4/1993 của Thủ tướng
Chính phủ về tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam.
15. Quyết định 114/TTG ngày 26/2/1996 của Thủ tướng
Chỉnh phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của
trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam.
16. Quyết định 305/BTC ngày 9/8 /1990 của Bộ Tài chính.
17. Thông tư liên ngành 04/TTLN ngày 7/1/1995 của
VKSDNTC và TANDTC.
18. Công văn 11/KHXX ngày 23/1/1996 của TAND.
19. Công văn 442/KHXX ngày 18/1/1994 của TANDTC.
20. Văn bản số 16/1999/HKXX ngày 01-02-1999 của
TANDTC.
21. Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31-07-1999 của
Chính phủ.
22. Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt nam quyết định
của trọng tài nước ngoài.
23. Giáo trình Luật kinh tế1998 của Đại học luật Hà Nội.
24. Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại
1997 của Tiến sỹ Nguyễn Thị Mơ và TS Hoàng Ngọc Thiết.
25. Tạp chí kinh doanh và pháp luật 2001, 2002
26. Các nguồn tài liệu tham khảo khác được thu thập từ Bộ
Tư Pháp và Bộ Thương mại.
27. Giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng XNK án lệ trọng
tài và kinh nghiêm của PGS.TS Hoàng ngọc Thiết.