intTypePromotion=1

Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình): Phần 1

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
252
lượt xem
75
download

Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình): Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình) gồm nội dung 5 chương đầu tài liệu, bao gồm: Một số vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình, nguồn gốc của nghệ thuật tạo hình – vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội, vài nét về lịch sử mĩ thuật Việt Nam, các thể loại hội họa – đồ họa, luật xa gần.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình): Phần 1

  1. ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA PHẠM THỊ CHÂU - TRẦN TIỂU LÂM GIÁO TRÌNH MĨ THUẬT Tập một NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH (In lần thứ hai) NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
  2. Lời mở đầu Vẽ là nhu cầu tất yếu đối với trẻ em mẫu giáo. Các em dùng hình vẽ để thể hiện thể giới khách quan muôn hình muôn vẻ theo cảm nhận hồn nhiên và trong sang của riêng mình. Đánh giá đúng khả năng của các em và hướng dẫn các em vẽ là một yêu cầu quan trọng đối với giáo viên. Đánh giá không đúng hoặc hướng dẫn sai lệch có nguy cơ làm thui chột hoặc mất đi khả năng nhận thức thẩm mĩ đúng đắn của các em. Muốn làm được điều đó giáo viên phải có một nhận thức về thẩm mĩ toàn diện, một khả năng chuyên môn nhất định. Giáo trình mĩ thuật (tập một) nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Bằng những lý luận tổng quát, khái niệm chung nhất, những kiến thức chuyên môn cô đọng, cơ bản nhất với cách viết đơn giản ,dễ đọc ,dễ hiểu, Giáo trình nhằm trang bị cho giáo viên có trình độ nhất định, để làm tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời cũng là vốn kiến thức đầu tiên giúp những giáo viên yêu thích môn mĩ thuật có cơ sở để tự học hỏi và vươn lên. Các tác giả
  3. CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH 1.KHÁI NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm bằng hình tượng sinh động, cụ thể ,gợi cảm(từ điển Tiếng Việt –NXB Giáo dục năm 1998). Do nhu cầu và thực hiện cuộc sống sinh động, phong phú, có nhiều loại hình nghệ thuât xuất hiện: Nghệ thuật hội họa,nghệ thuật văn học,nghệ thuật văn học, nghệ thuật sân khấu ,nghệ thuật điện ảnh… Trong đó có những loại hình nghệ thuật cùng chung một ngôn ngữ biểu đạt như hội họa –điêu khắc- kiến trúc - trang trí – đồ họa. Vì vậy chúng có cùng một tên gọi:nghệ thuật tạo hình. Các loại hình nghệ thuật tạo hình sử dụng ngôn ngữ đường nét, hình mảng, khối, màu sắc để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật như bức tranh,pho tượng, công trình kiến trúc,trang trí làm đẹp cho cuôc sống,môi trường. Chúng ta có thể hình dung được định nghĩa,khái niệm về nghệ thuật tạo hình như sau: Nghệ thuật tạo hình là từ dung để chỉ các loại hình nghệ thuật tạo nên những hình tượng mang tính tạo hình trực tiếp bằng hệ thống ngôn ngữ tạo hình. Tác phẩm tạo hình mang tác động trực tiếp vào thị giác của người thưởng thức bằng hình khối, màu sắc, bố cục…So với các loại hình nghệ thuật khác ta sẽ thấy rõ đặc điểm của nghệ thuật tạo hình. Nghệ thuật âm nhạc sử dụng ngôn ngữ âm thanh,để tạo nên những ca khúc ,bản nhạc …tác động đến người thưởng thức qua giác quan thính giác.Tác phẩm âm nhạc cũng tạo nên những hình tượng nghệ thuật.Song những hình tượng đó không hiện lên bằng hình ảnh cụ thể mà thông qua những giai điệu, tiết tấu giúp người nghe cảm nhận lên tưởng…Vì vậy, nghệ thuật âm nhạc không phải là một loại hình nghệ thuật trực tiếp. Đối với các loại hình nghẹ thuật sân khấu, điện ảnh thì hình tượng nghệ thuật lại được tạo nên bằng ngôn ngữ tổng hợp:âm thanh,màu sắc…Kết hợp với sự biểu diễn của diễn viên và hệ thống kỹ thuật,ánh sáng…hỗ trợ.Do đó các loại hình nghệ thuật này cũng cố một hệ thống ngôn ngữ và cách biểu đạt khác với nghệ thuật hội họa , điêu khắc…Như vậy ta thấy rằng mỗi loại hình nghệ thuật thường có một ngôn ngữ biểu đạt riêng và tác động vào một hy nhiều giác quan của con người, đưa đến cho con người sự cảm thụ và những cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Thông qua đó con người có thể cảm nhận được những điều hay điều tốt…từ hiện thực cuộc sống, với nhiều loại hình nghệ thuật ,với nhiều loại ngôn ngữ khác nhau con người cảm nhận được cuộc sồng một cách đầy đủ,hoàn thiện và sinh động bằng nhiều giác quan phong phú của mình.Âm nhạc đem lại cho con người những cảm thụ nghệ thuật thông qua thính giác. Nghệ thuật tạo hình lại tác động đến con người qua con đường thính giác thậm chí cả xúc giác…
  4. Nghệ thuật tạo hình là một trong những loại hình nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người,nó bao gồm nhiều ngành có cùng chung một phương tiện biểu đạt, tạo nên các mối quan hê không gian và tác động đến người xem bằng cảm hứng thị giác.Vì vậy nghệ thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật thị giác hay mĩ thuật. Theo từ điển từ vựng mĩ học của su-ri-o (souriau) 1990 thì nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật đưa tới thị giác những tác phẩm có không gian hai hoặc ba chiều như hội họa, điêu khắc, kiến trúc,trang trí… 2.NGÔN NGỮ CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH Nghệ thuật tạo hình là tên gọi chung của nhiều loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, đồ họa , kiến trúc ,trang trí, song do yêu cầu của chương trình trong phần này xin được đề cập đến ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật tạo hình: Hội họa –Đồ họa và Điêu khắc. 2.1.Ngôn ngữ của nghệ thuật hội họa Hội họa là nghệ thuật dung màu sắc, hình mảng, đường nét để diễn đạt cảm xúc của người vẽ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, xã hội. Nói một cách khác hội họa là một loai hình nghệ thuật tạo hình sử dụng đường nét, hình mảng ,màu sắc sắp xếp trên một mặt phẳng không gian hai chiều để xây dựng hình tượng nghệ thuật, biểu hiện hiện thưc cuộc sống phong phú và đa dạng, Như vậy ta thấy rằng hội họa là một loại hình nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên mặt phẳng bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình. Không gian trong một bức tranh có thể là không gian thực được biểu hiện bằng quy luật của mắt nhìn xa và gần, hay còn gọi là luật xa gần. Do đặc điểm của mắt nhìn do đó hình ảnh trong không gian ba chiều có những sự thay đổi, ví dụ như trong thưc tế thì hai đường thắng song song không bao giờ găp nhau tại một điểm. Nhưng theo mắt nhìn thì tất cả scác đường thẳng song song lại có độ hụt và sẽ tụ vào một điểm trên đường chân trời.Với sự nghiên cửu về các quy luật diễn tả x gần bằng đường nét, tương quan màu sắc, đâm nhạt các họa sĩ Phục hưng đã thành công trong việc diễn tả chiều sâu của không gian.Ngoài ra trong hội họa các họa sĩ còn có thể dùng các thủ pháp ước lệ để gợi cảm xa gần, gơi không gian mà vẫn thuận mắt và tạo cảm xúc thẩm mĩ. Cách tạo không gian ước lệ được thấy rõ trong Hội họa Ai Cập và một số nền nghệ thuật khác. Sang thể kỷ XX, một số họa sĩ hiện đại cũng sử dụng gian ước lệ như ma-tít-xơ (Matisse), k-lim (klimt), Pi-cat-xô (picasso)…
  5. Trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều họa sĩ đã sử dụng không gian ước lệ để biểu đạt hiện thực có hiệu quả. Tranh “Tre”của họa sĩ Trần Đình Thọ là một ví dụ. Trên nền tranh với màu đỏ lỗng lẫy, bằng cách sắp xếp các hình tượng khóm tre, bóng nước vạt đất…tác giả gợi cho người xem cảm nhận về chiều sâu không gian trời và nước khác nhau. Qua một số tác phẩm hội họa như trên đã phân tích ta thấy một trong những đặc trưng của ngôn ngữ hội họa đó là tính không gian. Bởi vậy theo giáo sư Phạm Công Thành: nghê thuật tạo hình còn được gọi là nghệ thuật không gian. Những hình tượng được xây dựng trong tranh bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình đưa lại cho người xem những hình ảnh cụ thể chân thực của thực tế khách quan.Hội họa là một nghệ thuật tạo hình trưc tiếp với hai đặc trưng là tính không gian và tính tạo hình trưc tiếp bằng các yếu tố đường nét, hình khối, màu sắc…Đây cũng là đặc trưng nghệ thuạt củ tao hình nói chung. 2.1.1 Đường nét (line) Theo từ điển thuật ngữ mĩ thuật phố thông thì đường nét (line) là đường hiện lên ở trong tranh rõ rang,đứt đoạn hoặc liên tục dùng để phác hình, viền hình, xác định hình…Theo từ điển tiếng anh thì Line là vệt hẹp, dài, thẳng, hoặc cong kẻ trên mặt phẳng đường - vạch - đường nét trong nghệ thuật – biên giới…) Nếu tách riêng đường và nét ta thấy đây là hai khái niệm khác nhau. Ta vẫn thường quan niệm đường là lối đi được tạo lập, khoảng không gian phải đi qua, là cách thức, biện pháp (đường lối), là phương tiện, mặt của vấn đề (đường công danh, đường tình yêu)…Trong hội họa cũng sẽ gặp các khái niệm đường chân trời, đường diềm, đường trục, đường uốn lượn, đường viền…Như vậy ta thấy thuật ngữ “đường’’ trong mĩ thuật gắn với phương hưởng, sự vận động của các mảng hình, màu sắc, đậm nhạt.Trong hình học nét là quỹ đạo của một điểm trong không gian. Về cơ bản có hai loại nét đó là nét thẳng và nét cong. Nét thẳng cho thấy sự chuyển động của điểm theo một hưởng nhất định: Ví dụ như quỹ đạo của điểm chuyển động theo chiều thắng đứng tạo ra nét thẳng đứng. ũng
  6. như thể nếu điểm chuyển động theo chiều nằm ngang hoặc chéo tạo ra nét thẳng ngang, hoặc nét thẳng chéo.Mặt khác quỹ đạo vận động của một điểm nếu đổi hưởng sẽ tạo ra nét cong, gãy ,dích dắc, uốn lượn… Đường nét có thể tồn tại một cách cụ thể trên tranh mà cũng có thể chỉ được cảm nhận thông qua sự vận động, nhịp điệu của mảng màu, hình hoặc ranh giới của các mảng màu… Trong tranh “Sương sớm ba vì” của họa sĩ Lưu Công Nhân vẽ năm 1993 bằng chất liệu màu dầu không có sự hiển diện của nét một cách cụ thể. Ở đây họa sĩ đã dùng màu trắng ngà của nễn xanh “xén”hình của các nhân vật và các hình tượng trong tranh gợi cho người xem cảm thấy những đường nét thẳng, sắc, dứt khoát tạo hình hai người nông dân và con trâu, nét mờ của dãy núi, nét thẳng của con đường, nét sẽ giúp chúng ta hiểu về yếu tố ngôn ngữ tạo hình này rõ ràng hơn . Những nét tải hiện trên mặt phẳng cho ta liên tưởng một vật hay một mặt phẳng nào đó. Nét viền bao quanh sẽ tạo nên hình mảng. mặt khác mật độ dày, thưa của nét trong một bức tranh cũng góp phần biểu hiên và sẽ đưa lại cho người xem những cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Sự biểu đạt của nét còn tùy thuộc vào hình thức của nét như nét thanh - nét đậm, nét mềm mại-nét cứng ; nét thô – nét chau chuốt, nét thẳng – nét cuộn xoay… Với mỗi hình thức trên sẽ gợi cảm giác khác nhau và tạo sự phong phú cho sự biểu đạt của các tác phẩm.Để diễn tả bầu trời đêm đầy sao, họa sĩ van –gốc đã sử dụng những nét màu cuộc xoáy, cuồn cuộn. Khi xem tranh mọi người đều có chung cảm xúc sao động vì cách vẽ đầy tâm trạng của ông Mỗi tác giả có cách sử dụng nét khác nhau. Nét vẽ thường biểu hiện cá tính, tình cảm của họa sĩ. Với sự sắp xếp của các nét đậm nhạt… còn có thể gợi khối của các nhân vật, hình tượng trong tranh. Sự thay đối nét trước,sau ,cũng góp phần tạo dựng lên không gian cho một hình tượng, một tác phẩm.
  7. Mọi sự vật, hình tượng nhân vật đều tồn tại nhờ có hình, khối và màu sắc. Dưới sự tác đông của ánh sang,mắt ta cảm nhận và nhìn thấy các sự vật, con người ,thú , chim muông… ở những hình dạng những màu sắc vốn có. Muốn thể hiện thiên nhiên ,vạn vật vào trong tranh người họa sĩ phải sử dụng tất cả các yếu tố tạo hình như đường nét, màu sắc ,hình khối…Trong đó đường nét có vai trò quan trọng. Ở mỗi tác giả, trong mỗi tác phẩm cụ thể, yếu tố đường nét lại được sử dụng khác nhau để tạo nên những hiểu quả biểu cảm thẩm mĩ pù hợp với nội dung , chủ đề của tác phẩm. Nếu sử dụng nhiều đường thẳng dễ gây cảm giác nghiêm trang, mực thước…Nếu tất cả đều la đường nét cong mềm mại thì lại dễ xa vào yếu ớt… Vì vây khi xây dựng tác phẩm các họa sĩ luôn cân nhắc sư hài hòa của các yếu tố tương phản của đường nét như mềm – cứng; gai góc – mượt mà… Tác phẩm ‘ Cô gái trên quả cầu” của Pi-cat-xô là một minh chứng. Hình tượng nhân vật đàn ông trong tranh được tác giả dựng lên bằng những đường nét thẳng, khỏe ,dứt khoát thì hình tượng cô Gái trên quả cầu được tạo dựng bằng nhừng đường cong dài mảnh. Sự khác biệt đó đã tạo được sự tương phản giữa sự khỏe khoẳn, chắc chắn, vững chãi vói sự mềm mại, thanh mảnh.
  8. Cũng như vậy, hình ảnh bà mẹ trong tranh “Cái bát”cuẩ họa sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc được tạo dựng bằng hệ thống nét rất đa dạng, phong phú. Với cách khai thác yếu tổ nét như vậy tác giả đã khắc họa một hình ảnh bà mẹ Việt Nam nhỏ bé, gan góc, chịu đựng, vất vả vì con, vì cách mạng. Qua một số ví dụ như vậy, ta thấy trong hội họa không thể thiểu vai trò của đường nét.Đường nét tạo nên hình, mảng, gợi khối, gợi không gian và tính cách, tình cảm, tâm trạng của các nhân vật.Hay nói cách khác đường nét chính là một trong những yếu tổ cơ bản của ngôn ngữ tạo hình. 2.1.2 .Hình khối Hình là tổng thể các đường nét để cho ta thấy được đặc điểm của một vật này so với vật khác (Từ điển tiếng việt thông dụng – NXB Giáo dục 1998 ). Ví như chiếc khăn hình chữ nhật, mảnh trăng hình lưỡi liềm, hồ hình bản nguyệt. Điều kiện để thấy những hình bao gồm: vật thể, ánh sáng và con mắt của chúng ta. Như vậy hình là hiệu quả thụ cảm của thị giác đối với vạt thể trong không gian do tác động của ánh sán. Người họa sĩ sử dụng các yếu tố đường, nét, mảng đẻ tạo nên các hình ảnh con người, đồ vật trong thiên nhiên… trên mặt phẳng tranh. Mỗi vật thể tồn tại có hình dáng nhất định và chiểm một chỗ, một khoàng nào đó trong không gian.Điều này cũng bộc lộ hai đặc điểm nhận dạng: hình và khối của vật thể.khi có ánh sáng chiếu vào, các diện của vật thể sẽ tiếp nhận ánh sáng khác nhau, diện nào nhận được nhiều ánh sáng sẽ sáng nhất.Cứ như thể sẽ tồn tại diện trung gian, diện tối. Tối, sáng, trung gian và các độ khác nhau tùy thuộc vào sự tiếp nhận nhiều hay ít ánh sáng chiếu vào vật thể. Khi diễn tả các
  9. độ, diện sáng tối đó, người họa sĩ đã tạo nên hình khối trên mặt phẳng cho các hình tượng trong tranh. Sự thay đổi, biển dạng của hình, khối sẽ tạo nên hiệu quả vận động cho các hình tượng.Xem xét trong thực tế ta thấy có những khối cơ bản như khối lập phương khối chữ nhật, khối cầu và khối tam giác đều. khối lập phương là khối gây cảm giác bền vững, ổn định và tĩnh vì nó được tạo bởi các hình vuông góc đều đặn. Khối chữ nhật là biến dạng của khối lập phương, các góc vẫn là vuông, nhưng các mặt của khối lại là hình chữ nhật. Theo nhà nghiên cứu mĩ thuật Nguyễn Quân thì “ chiều cao tạo cảm giác vững chãi, êm đềm, nữ tính.Chiều cao tạo cảm giác vươn lên, chinh phục nam tính” ( Con mắt nhìn cái đẹp – NXB Mĩ thuật 2004). Vì vậy ở khối chữ nhật có sự cân bằng giữa thể tĩnh lặng và thể vận động tạo nên sự hài hòa, thuận mắt hơn. Khối cầu gợi cảm giác đầy đủ, khép kín, cân bằng, và động (dễ lăn). Vì vậy trong nghệ thuật hội họa, sử dụng bổ cục hình tròn luôn gợi hiệu quả về sự “no”, đầy ,tròn trặn và vận động. Khối tam giác đều cho cảm giác vững vàng hơn cả khối lâp phương và khối chữ nhật. Các khối kể trên được tạo bởi các mặt cân bằng. Ngoài ra còn các khối biến dạng. Đó là khối được tạo lập bởi hai loại hình cơ bản như khối trụ, khối chop, khối nón, khối cụt. Theo xê-dan thì: “thiên nhiên tồn tại ở một số khối hình cơ bản. Điều này đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình thể kỉ xx và cho ra đời xu hưởng nghệ thuật lập thể, đứng đầu là họa sĩ Pi-cát-xô. Vì vậy bên cạnh hình yếu tố khối cũng là một trong những yếu tố của các ngôn ngữ tạo hình. Bằng cách diễn tả đậm, nhạt, màu sắc các họa sĩ dã biểu hiện được khối đầy đặn, căng tròng khi diễn tả con người, vạn vật đem lại cho người xem những cảm xúc thẩm mĩ về chất da thịt sống động, trái quả chín mọng cây cối xanh tươi… tất cả những điều đó thổi hồn, thổi khí cho bức tranh, làm bức tranh sống động, tràn đày khí lực. Như vậy bên cạnh các yếu tố đường nét, thì hình, khối cũng góp phần tạo nên chân dung và sức sống cho bức tranh . Tuy nhiên , khối trong hội họa là khối ảo, được tạo nên bởi các mảng đậm nhạt trung gian… trên mặt phẳng hai chiều. Nó chính là một yếu tố của ngôn ngữ tạo hình nói chung và của nghệ thuật hôi họa nói riêng. 2.1.3 Màu sắc Khi ta quan sát trong tự nhiên, con mắt không những nhận biết được các hình , khối, đường nét mà còn nhận biết được màu sắc của các sự vật, hiện tượng. Sở dĩ như vậy là do đặc điểm, cấu tạo của con mắt. Hàng trăm triệu tế bào trong mắt giúp chúng ta cảm nhận được ánh sáng. Không những thể các tế bào còn phân biệt được các màu cơ bản như:màu lục, màu lam và màu đỏ. Ngoài ra mắt ta còn nhận biết màu trắng, màu đen. Mặc dù vậy trên dải màu cầu vồng ta còn thấy xuất hiện nhiều màu như vàng,da cam , lam, chàm, tím, phân tích những màu này ta thấy do hai màu pha trộn tạo nên như màu da cam ( vàng+ đỏ), màu tím (đỏ + lam), màu lục (vàng + lam). Ba màu đỏ, vàng ,lam được coi là ba màu cơ bản hay còn được gọi là ba màu gốc. Và cứ như vậy hai màu bất kì trộn với nhau sẽ tạo màu thứ ba. Sự thay đối, biển hóa của màu sắc là vô tận. Theo nghiên cứu vật lý con mắt của chúng ta nhận biết được 10 triệu màu riêng biệt. Với nhũng nghiên cứu quang học về màu sắc trong tự nhiên, các họa sĩ đã khai thác và đưa vào trong tranh những bảng màu vô cùng phong phú. Bên cạnh
  10. tính chất vật lí, màu sắc còn có tính chất tâm lí và mang ý nghĩa xã hội. Trong quá trình sống sử dụng màu sắc, con người ở từng vùng, miền, quốc gia, đan tộc khác nhau, thường “gán” cho mầu sắc các ý nghĩa khác nhau. Ví như màu đỏ hay được dùng trong đám tang của nhiều dân tộc trên thể giới với quan niệm màu đỏ đồng nghĩa với sự taí sinh, tái hiện cuộc sống nhưng với người Trung Quốc, màu đỏ lại là màu được dùng tuyệt đối trong đám cưới. Ngay cả với từng họa sĩ cũng có những gam màu yêu thích riêng của mình. Gô – ganh thích khai thác những màu tương phản mạnh, tạo cảm giác về sự hoang sơ, thần bí, trong loạt tranh vẽ Ta-hi-ti. Van-gốc lại thích bảng màu mạnh nhưng rực rỡ, trong sang như vàng, đỏ, trắng. Các họa sĩ phục hưng chinh phục người xem ở bảng màu hòa sắc, hài hòa… Trong vòng tròn, các màu vẽ phía đỏ gây cảm giác nỏng và ngược lại. Như thể là trong lí thuyết về màu sắc có them khái niệm màu nóng và màu lạnh. Trong thực tế các màu nóng, lạnh còn tạo hiệu quả xa gần rất rõ.Màu đậm, nóng gợi cảm giác gần lại. Các màu lạnh, nhạt gợi cảm giác xa ra. Do đó trong hội họa muốn biểu hiện không gian xa gần cần lưu ý tương quan nóng, lạnh, tương quan đậm, nhạt của màu sắc. Trong nghệ thuật tôn giáo các họa sĩ hay dùng màu đỏ để tạo sụ chú ý về thị giác: Chúa, Đức mẹ hay mặc áo màu đỏ trong hầu hết các tranh thờ. Về điểm này họa sĩ Tô Ngọc Vân đã rất thành công khi vẽ tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ’ trên gam màu trắng xanh, ghi lạnh, ông đưa vào mấy mảng màu đỏ trên môi, màu hồng trên má cô thiếu nữ. dù chỉ là mảng mù đỏ song cũng đủ làm bức tranh đạt sự hài hòa, ấm áp, gần gũi. Ngoài ra khi dùng màu sắc trong tranh cần chú ý tới sắc và độ của màu. Độ là sự thay đổi đậm nhạt của môt hay nhiều màu: độ đậm, độ trung gian, độ sáng…Như vậy độ chỉ đậm nhạt của màu, còn sắc là sắc thí của màu như sắc
  11. xanh, sắc đỏ, sắc vàng…Nếu lấy màu trắng cộng với một màu nào đó thì tùy theo lượng màu trắng nhiều hay ít sẽ tạo ra các độ đậm nhạt của màu đó. Nhưng nếu đem các màu đỏ cộng với các màu khác sẽ cho chúng ta những sắc thái của màu : Ví dụ như màu tím đỏ, tím sẫm,tím hoa sim,tím hồng, tím huế…Sắc và độ là hai yếu tổ của màu trong tác phẩm hội họa. Trong một bức tranh nếu dùng màu sắc có độ gần nhau sẽ gợi cảm giác hài hòa, êm ả. Tuy vậy hài hòa cùng gam màu dễ gây cảm giác buồn, lạnh lẽo, cô đơn. Những bức tranh trong thời kì màu lam của Pi- cat–xô cho ta thấy rỗ điều này. Toàn bộ tranh được họa sĩ sử dụng gam màu lam, vàng nhợt nhạt đã tao nên các hình tượng những con người yếu ớt, bệnh tật, buồn bã, cô độc, khốn khó, bế tắc. Nhưng sang thời kì màu hồng tranh ông bớt màu lam, thêm vào đó là những màu hồng, vàng ,nhẹ nhàng, ấm áp. Các tác phẩm thời kì này đã tạo nên sự hi vọng, lạc quan hơn . Hiệu quả này chính do màu sắc tạo nên. Thậm chí trong nhiều tác phẩm các họa sĩ còn dùng những tương phản màu mạnh như : đỏ -lục; vàng- tím; lam –da cam… Các cặp màu này bổ túc cho nhau, màu này làm màu kia nổi bật hơn. Khi đặt màu vàng cạnh màu tím ta cảm giác dường như màu vàng sáng hơn, màu tím sẫm hơn, sâu hơn. Qua phân tích trên chúng ta thấy rõ vai trò của màu sắc trong hội họa. Màu sắc tạo nên sự hài hòa,đẹp mắt cho bức tranh, Màu sắc còn gây hiệu quả về tương quan xa, gần, mạnh yếu, nặng nhẹ, nóng lạnh. Khả năng biểu đạt của màu sắc rất phong phú và đa dạng, có thể nói là vô tận. Điều này còn tùy thuộc vào khả năng cảm nhận tinh tế của mỗi cá thể. Song mỗi tác phẩm lại có một gam màu khác nhau, không tác phẩm nào trùng lặp. Màu sắc trong các tác phẩm tạo ra còn tùy thuộc vào tâm lí thị hiếu và khả năng cảm nhận của từng họa sĩ. Hội họa hiên đại ngày nay bên cạnh các yếu tố đó còn có sự gia nhập của các yếu tổ lí trí, khoa học. Nhưng dù truyền thống hay cổ đại thì những hình thức biểu hiện của màu sắc luôn luôn và mãi mãi là điểm thu hút, khám phá của các họa sĩ.
  12. Như vậy t thấy rằng các yếu tổ tạo nên một bức tranh gồm có đường nét, hình khối, màu sắc. Trong đó đường nét tạo nên hình; mảng đậm nhạt tạo nên khối. Màu sắc có tiếng nói mạnh mẽ , giúp họa sĩ bộc lộ rõ ý đồ, tư tưởng chủ đề muốn thể hiện. Cùng một bố cục hình khối giống nhau nhưng nếu ta vẽ bằng nhiều gam màu khác nhau sẽ cho ta nhiều hiệu quả thẩm mĩ khác nhau nhưng chỉ có một gam màu phù hợp mới có thể biểu hiên được tư tưởng, chủ đề.Do đó màu sắc cũng giữ một vai trò quan trọng trong hội họa. Nó cùng với các yeus tố đường nét, hình khối tạo nên tiếng nói riêng cho hội họa. Khi sử dụng các yếu tổ ngon ngữ kể trên để tạo dựng tác phẩm, các họa sĩ sẽ phải sắp xếp chúng sao cho có một hình thức phù hợp với nội dung để tác phẩm có một “tiếng nói” mạnh mẽ và rung động long người. Vì vậy khi bàn về ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình nói chung và ngôn ngữ hội họa nói riêng ta cũng không thể bỏ qua hai yếu tổ: Bổ cục và nhịp điệu. Hai yếu tổ này ẩn sau các yếu tố nét- màu- khối hình. 2.1.4.Bố cục và nhịp điệu Bố cục là sự sắp xếp các yếu tố ngôn ngữ tạo hình để tạo nên một tác phẩm. Trong hội họa muốn tạo nên bức tranh đẹp cần chú ý bố cục tạo ra sự hài hòa của đường nét, màu sắc và hình khối. Vì vậy chính bố cục làm nên hình thức biểu đạt cho tác phẩm. Hình thức phù hợp sẽ bộc lộ được nội dung, chủ đề quan niệm thẩm mĩ và thể giới quan của họa sĩ. Bố cục là một vấn đề quan trọng trong khi xây dựng tác phẩm nghệ thuật sắp xếp thể nào cho đẹp, cho hay, độc đáo tùy thuộc vào tư tưởng thị hiểu và quan niệm của người họa sĩ. Trong lịch sử hội họa, qua các thời kì phát triển các tác giả đã tạo nên một số hình thức bố cục như sau:  Bố cục theo các hình cơ bản: Trong hình thức này ta sẽ thấy trong tất cả các nhân vật, hình thức chính sẽ được sắp xếp trong các hình cơ bản như hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác… hoặc các hịn biến dạng.
  13.  Bố cục dàn trải mặt phẳng tranh hoặc theo từng lớp Kiểu bố cục này thường gặp trong nghệ thuật dân gian hay trong mĩ thuật thời cổ đại. Theo quan niệm dân gian,mọi hình tượng trên tranh đều phải được nhìn thấy rõ ràng,không bị che khuất. Do đó các nhân vật được sắp xếp dàn trải trên mặt phẳng. Hình ỏ xa ỏ gần đều được sắp xếp theo thứ tự từ trên cao xuống thấp với tỉ lệ như nhau. Mọi vật được nhìn ở cùng mọi điểm nhìn với đặc điểm đặc trưng và ở hình dạng dễ nhận biết nhất. Mặt khác để diễn tả nhiều công việc và nhiều nhân vật, các tác giả chọn hình thức bố cục các nhân vật thành các lớp khác nhau.
  14. Ngoài ra với quan niệm tạo hình khác nhau, cũng hình thành những hình thức bổ cục khác nhau. Có thể sắp xếp các nhân vật gần xa theo luật phối cảnh Phục hưng. Cách sắp xếp này cho thấy các nhân vật theo quy luật của mắt mình. Không gian trong tranh được diễn tả giồng như thực. Nếu tạo hình theo kiểu ước lệ, thì tỉ lệ các nhân vật được thể hiện theo địa vị nhân vật trong cuộc sống, tầm quan trọng của nhân vật hay công việc họ đang làm là chính hay phụ. Với quan niệm này cũng tạo ra một cách sắp xếp bố cục, ở cách bổ cục này các nhân vật quan trọng sẽ ở trên cao và có tỉ lệ to nhất. Tỉ lệ các nhân vật sẽ giảm dần theo sự nhỏ đi của địa vị nhân vật. Ngoài các hình thức bổ cục kể trên còn có hình thức bổ cục tự do không theo khuôn mẫu, quy định nào.Những bố cục tự do thường dễ tạo vẻ độc đáo cho tranh. Bố cục tranh là khâu quan trọng trong qua trình sáng tác. Mỗi tác giả luôn tìm tòi để tạo ra cho tranh của mình một bổ cục độc đáo. Bố cục cũng giống các ngôn ngữ tạo hình, nó có những qui định ,đặc điểm chung song được biểu hiện theo những cách nghiên cứu riêng của từng nghệ sĩ, từng trường phái… vì vậy không có gì là cổ định mà nó luôn vận động, phát triển để tạo ra nhiều hình thức bố cục phong phú mới lạ và độc đáo hơn. Đó cũng là cái đích để các họa sĩ vươn tới. Cùng với việc sắp xếp, bố cục hình, mảng trong tranh, các nghệ sĩ đã tạo nên sự vận động của các yếu tổ đường nét, hình khối, máu sắc. Đó chính là những đường lượn, nhịp điệu của hình, mangr màu sắc, đậm nhạt trong tranh, thậm chỉ nhịp điệu của cả những khoảng trống. Những đường lượn, nhịp điệu đó càng phong phú bao nhiêu tranh càng đẹp bẩy nhiêu. Vì vậy nhịp điệu là một điều không thể thiểu khi xây dựng tâc phẩm và mặc dù ẩn sau các yếu tố màu - nét - hình khối… thì nó cũng đã trở thành một yếu tố thuộc ngôn ngữ tạo hình - một thứ ngôn ngữ ẩn: Đó chính là yếu tố nhịp điệu trong hội họa. Như vậy đẻ sáng tạo nên một bức tranh không thể bỏ qua các yếu tố đường – nét – hình khối- màu bố cục – nhip điệu.Các yếu tố đó là đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình nói chung và ngôn ngữ của nghệ thuật hội họa nói riêng . Điều quan trọng là các nghệ sic sử dụng chúng ra sao trong tác phẩm của mình để tạo nên những tác phẩm thành công và có giá trị tồn tại muôn đời. 2.2. Ngôn ngữ đồ họa Đồ họa là một ngành vẽ lấy kĩ thuật in ấn để tạo nên tác phẩm va có khả năng nhân bản để phổ biển rộng rãi. Nếu tác phẩm hội họa là một độc bản thì với đồ họa từ bản khắc có thể tạo ra nhiều bản giống bản gốc. Tác phẩm đồ họa cũng như tác phẩm hội họa được gọi một tên chung là tranh. Tuy vậy tranh hội họa được vẽ trực tiếp bằng các phương tiện bút, màu. Tác phẩm tranh đồ họa được tạo nên gián tiếp nhờ kỹ thuật in ấn. Muốn có một tác phẩm đồ họa phải trải qua giai đoạn khắc – in mới trở thành bức tranh.Việc vẽ trực tiếp bằng bút lông, bút sắt hay bằng dao vẽ (sơn dầu), bằng thép (sơn mài)… khác hoàn toàn với việc “ vẽ ” bằng dao khắc (khắc gỗ) bằng kĩ thuật ăn mòn axít để khắc lên kim loại, đá… Khắc tranh đồ họa bao gồm khắc nổi, khắc lõm, khắc phẳng (in đá). Chính điều này tạo nên ngôn ngữ đặc trưng đồ họa. Như vậy la có một thể loại đồ họa được tạo nên nhờ sự tham gia đắc lực của kĩ thuật in. Đó là thể loại đồ họa in ấn.
  15. Bên cạch nó còn có những thể loại tranh vẽ trên giá vẫn được gọi là đồ họa như tranh cổ động, tranh quảng cáo, tranh minh họa…Mặc dù vậy các thể loại tranh này vẫn mang tính nhân bản và được gọi là thể loại đồ họa giá vẽ. Nhìn chung tranh đồ họa mang tính nhân bản.Đôi khi có thể loại tranh khắc cũng chỉ in độc bản, Đó là một ngoại lệ trong đồ họa. Chính vì sự khác nhau như vậy mà hội họa và đồ họa cũng là một trong những ngành của nghệ thật tạo hình song lại có một dặc trưng ngôn ngữ riêng. Hay nói cách khác là các yếu tổ ngôn ngữ tạo hình được sủ dụng trong đồ họa khác với trong hội họa. Để tạo độ đậm nhạt trong đồ họa phải sử dụng tối đa hiệu quả biểu đạt của nét khắc:Nét dày – thưa, thanh – đậm, nông – sâu,song song- đan chéo, tương quan giưa nét- mảng để biểu hiện. Vì vậy nét chính là một đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật đồ họa. Các nghệ sĩ tạo ra nhiều hình thức biểu đạt của nét để tạo nên tác phẩm đồ họa. Cùng với nét là mảng lớn, nhỏ hòa cungf sự phong phú trong hình thức biểu đạt của nét. Nếu trong hội họa màu sắc đống một vai trò khá quan trọng thì trong đồ họa màu sắc chỉ đóng vai trò thứ yếu sau hình mảng nét đậm nhạt. Thể kỉ XVII ở nhật khi tranh khắc gỗ mới bắt đầu phát triển, người ta đã tạo nên tranh gỗ khắc gỗ đen trắng, sau đó mới có thể loại tranh khắc gỗ hai màu: xanh lục và hồng nhạt. Mãi đến Haranoobu( 1730 – 1770)tranh khắc gỗ nhiều màu ra đời, đánh dấu bước tiến mới của tranh khắc gỗ Nhật.Song dù ở thể loại tranh khắc gỗ đen trắng hay khắc gỗ màu thì vẻ độc đáo của tranh khắc vẫn là hệ thống nét với nhiều hình thức biểu đạt phong phú đa dạng. Chính điều này tạo nên “chất đồ họa” một cách mạnh mẽ, rõ ràng. Ngoài ra vẻ độc đáo của tranh khắc còn ở các mảng màu đặc, xốp, dày, mỏng… do hiệu quả của kĩ thuật in đưa lại. Qua phân tích ta thấy trong đồ họa yếu tố đường nét, mảng là đặc trưng tạo hình rất quan trọng. Màu sắc góp phần biểu hiện cùng hình, nét ,mảng. Lịch sử mĩ thuật Việt Nam đã ghi đậm sự độc đáo của một thể loại đồ họa. Tranh khắc gỗ màu dân gian. Đó cũng chính là truyền thống nghệ thuật lâu đời đáng tự hào của người Việt. Phát huy truyền thống đó, tranh khắc gỗ hiện đại đã tạo dựng một cơ đồ khá vững vàng và to lớn, Nhiều tác phẩm thành công được lưu trữ thành công trong bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam. Một trong số đó là tác phẩm “ Ông và cháu” của họa sĩ Huy Oánh. Bằng sự tương phản của các yếu tố ngôn ngữ như nét và mảng, tác giả đã rất thành công khi khắc họa hình ảnh hai ông cháu, hai thể hệ trẻ và già.Trên chân dung người ông ta thấy yếu tố nét được khai thác triệt để. Điều đó đã thể hiện sự từng trải, rắn rói khỏe khoẳn của người ông. Ngược lại hình tượng cô cháu gái tác giả lại sử dụng ngôn ngữ mảng kết hợp với nét cong để diễn tả vẻ mềm mại,căng tròn chất da thịt của tuổi thanh xuân . Sự hài hòa giữa hai yếu tố ngôn ngữ đặc trưng của nghệ thuật đồ họa đã tạo nên sự thành công và giá trị cho tác phẩm. Đây là tác phẩm đồ họa đen trắng. Ở tác phẩm này hai yếu tổ đen và trắng đã góp phần biểu hiện sự hài hòa giữa cáctương phản mạnh mẽ và hiệu quả. Như vậy ta thấy rõ đối với đồ họa màu sắc không phải là yếu tổ quyết định. Mà chủ yếu ngôn ngữ của đồ họa là nét và mảng. Hình thức biểu hiện của nét và mảng sẽ biểu chất cho hình tượng của nhân vật
  16. 2.3. Ngôn ngữ điêu khắc: Điêu khắc là một loại hình nghệ thuật tạo hình. Vì vậy nó cũng có cùng một kênh ngôn ngữ như hội họa, đồ họa. Mặc dù vậy nếu như hội họa đồ họa dùng các yếu tổ đường nét, hình khối, màu sắc để biểu hiện không gian chiếu lên mặt phẳng hai chiều thì điêu khắc lại dùng các yếu tổ ngôn ngữ tạo hình để biểu hiện hình tượng nghệ thuật với không gian đa chiều. Hay nói cách khác không gian trong tranh được tạo ra bởi mảng đậm, nhạt trên mặt phẳng tranh. Còn không gian trong điêu khắc là không gian thực. Tác phẩm điêu khắc có hình, khối thực, tồn tại và chiểm chỗ trong không gian thực.Trong tác phẩm có sự biểu hiện của khối kết hợp với đường nét, màu sắc, trong đó khối chiểm vị trí quan trọng và là yếu tố làm nên đặc trưng cho tác phẩm điêu khắc. Khi nói tới điêu khắc, người ta chỉ nghĩ đến không gian đặt tượng. Không gian đó góp phần tạo nên đặc điểm tạo hình, qui mô, kích thước, chất liệu của các bức tượng. Tượng đặt trong nhà có thể có qui mô nhỏ. Nhưng nếu đặt ngoài trời hoặc với các thể loại tượng đài, không gian đặt tượng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng hình thức thể hiện của tác phẩm. - Chất liệu điêu khắc khá phong phú. Người ta có thể làm tượng bằng các chất liệu đá, đất nung, thạch cao, gỗ, đồng, kim loại, xi măng, bê tông thậm chỉ có thể dùng các nguyên liệu quý như vàng, ngà voi, …Mỗi chất liệu gợi cho người xem một cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Chất đá trơn nhẵn lạnh khác với chất gỗ ấm áp, khác với chất xi măng rắn chắc… Tượng bằng đồng đen gợi cảm giác uy nghi, sâu lẳng. Tượng đá gợi cảm giác về sự bề thể, trang nghiêm. Tượng gỗ lại cho ta cảm nhận sự thô mộc, đơn giản, ấm củng gần gũi… Đôi khi trong điêu khắc hiện đại, còn có sự kết hợp bởi nhiều yếu tố chất liệu, Sự kết hợp ăn ý sẽ tăng thêm sức sống động cho tác phẩm. Trong nhiều nền mĩ thuật cổ, muốn cho tượng đạt hiệu quả giống thực, các nhà điêu khắc còn nghĩ đến việc tô màu cho tượng. Màu sắc sẽ che khuất màu của chất liệu và mang đến cho tác phẩm điêu khắc một tiếng nói khác. Đối với các tác phẩm điêu khắc, các nghệ sĩ khai
  17. thác triệt đểmàu tự thân của chất liệu để biểu hiện. Tuy vậy, như trên đã nói , đôi khi tác giả đưa thêm yếu tố màu vào tác phẩm điêu khắc nhằm tăng thêm hiệu quả biểu đạt. Vì vậy ta vẫn coi màu sắc là một yếu tổ ngôn ngữ của nghệ thuật điêu khắc. Nói đến điêu khắc ta nghĩ ngay đến khối. Dưới tác động của ánh sáng ta cảm nhận được khối của các sự vật, hình tượng. Vì vậy muốn tăng hiệu quả khối cho tác phẩm cần chủ ý đến yếu tó ánh sáng, môi trường, không gian… Trong điêu khắc cổ, các tấc phẩm thường được biểu hiện với khối lồi, khối tròn, khối đóng kín. Ngày nay với điêu khắc hiện đại, các tác giả đã tạo ra nhiều hình thức biểu hiện của khối như khối lồi – lõm, khối đặc – thùng, khối biến dạng, khối đóng – mở…Các yếu tổ tương phản về khối được sử dụng trong điêu khắc nhằm tạo hiệu quả ánh sáng và biểu hiện ý tưởng , nội dung một cách sâu sắc. Ngoài ra trên cùng một tác phẩm tác các tác giả còn phối hợp các yếu tổ biển dạng, tinh giản hình thể tới mức chỉ còn là biểu tượng để biểu cảm. Đối với tác phẩm điêu khắc, bề mặt tượng chính là một phần cơ bản của ngôn ngữ. Đó là hình thức tồn tại của tác phẩm điêu khắc. Hơn nữa sự khác nhau về bề mặt tượng còn góp phần tả chất cho hình tượng nhân vật. Ta hãy lấy tác phẩm “Vệ nữ Mi-lô” làm ví dụ. Ở tác phẩm này phần thân trên được thẻ hiện bằng mảng chắc, khối nền. Khi ảnh sáng chiếu vào chúng ta cảm nhận được chất da thịt min màng, sống động , bộ ngực thiểu nữ căng đầy… phần thân dưởi che khuất bởi lớp vải quẩn quanh. ở đây bề mặt tượng không xòn trơn nhẵn mà được tạo bởi các nếp vải với đường nét phong phú sao động. Điều này gợi chất vải mềm mại,che rủ. Khi xem một bức tượng ta cỏ thể di xung quanh đẻ quan sát và tìm hiểu vẻ đẹp ở mọi phía. Mặt khác ta còn huy động một giác quan nữa để cảm nhận một cách trực tiếp. Đó chính là xúc giác. Khi sờ vào tác phẩm bàn tay ta có thể trực tiếp cảm nhận chất trơn nhẵn, hay xù xì của bề mặt tượng, gợi cảm giác về chất rõ ràng và mạnh mẽ.
  18. Với các yếu tố khối – hình cách sử lí bề mặt tượng và mối tương quan với môi trường sống thực đa chiều sinh động sẽ tạo dựng, hình thành tác phẩm điêu khắc. Đó cũng chính là ngôn ngữ , tiếng nói của nghệ thuật điêu khắc. 3. ĐỐI TƯỢNG PHẢN ÁNH CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH Đứng ỏ góc độ triết học thì nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội. Ý thức xã hội phản ảnh tồn tại xã hội. Hay ta có thể nói nghệ thuật phản ảnh hiên thực xã hội. ý thức xã hội không chỉ phảm ảnh thể giới khách quan mà nó còn góp phần cái tạo, sáng tạo ra nó. Nghệ thuật là dạng biểu hiện cao của ý thức. Nó còn những thuộc tính khách quan đặc biệt: đó là năng lực phản ảnh và sáng tạo. Nghệ thuật chính là hình ảnh chủ quan của thể giới thẩm mĩ khách quan, nó được sáng tạo theo qui luật của cái đẹp. Nghệ thuật tạo hình là một loại hình của nghệ thuật. Vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của nghệ thuật và có những đặc điểm riêng của loại hình. Nếu lập luân như vậy thì nghệ thuật tạo hình cũng phản ảnh hiện thực xã hội bằng ngôn ngữ của loại hình.
  19. Khi nói tới đối tượng là nói tới cái đích đạt tới của sự nhận thức và hành động của con người. Theo bi-ê-lin-xki là đối tượng của nghệ thuật cũng giống đối tượng của khoa học, đó chính là hiện thực cuộc sống diễn ra xung quanh chúng ta. Nhìn vào quá trình hình thành tác phẩm ta thấy rõ ràng điều đó. Người nghệ sĩ đứng trước hiện thực khách quan, trước cái đẹp trong cuộc sống họ cảm xúc, rung động trước vẻ đẹp đó, điều này thúc đảy hành động sáng tạo của người nghệ sĩ, trên cơ sơ đó tác phẩm được hình thành.Như vậy thì hiện thực cuộc sống( khách thể thẩm mĩ) chính là đối tượng của nghệ thuật nói chung và là đối tượng của nghệ thuật tạo hình nói riêng. Ở đây chúng ta cần phân biệt đối tượng của nghệ thuật tạo hình với nội dung nghệ thuật của một tác phẩm. Đối tượng là hiện thực cuộc sống, là cái chung, cái khách quan. Nội dung nghệ thuật la cái riêng, cái cụ thể trong từng tác phẩm.Ngược lại khi người nghệ sĩ chọn được một khoảng khắc, giây phút nào đó của hiện thực cuộc sống, họ tìm cách phản ảnh nó vào trong tác phẩm. Khi ấy đối tượng nghệ thuật sẽ trở thành nội dung nghệ thuật. Nhìn chung, tất cả mọi nền nghệ thuật từ cổ xưa đến ngày nay đều có một đối tượng nghệ thuật đó là hiện thực cuộc sống. Tuy vậy mỗi nền nghê thuật lại có một cách biểu hiện riêng của mình .Với cách biểu hiện riêng biệt đó, đôi khi hiện thực cuộc sống được phản ảnh trong từng nền nghệ thuật lại có những hình dáng nghệ thuật biểu hiện khác hẳn nhau. Điều này tùy thuộc vào quan niệm tạo hình, quan điểm tiếp cận với hiện thực cuộc sống của từng nghệ sĩ ,từng xu hưởng trường phái nghệ thuật. 4. MỖI QUAN HỆ CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VỚI CÁCH NGHÀNH NGHỆ THUẬT KHÁC 4.1. Các loại hình nghệ thuật Trong giáo trình mĩ học dành cho các trường cao đẳng, đại học sư phạm thì loại hình,thể loại nghệ thuật là hình thức tồn tại của nghệ thuật. Là những hình thức đặc biệt phản ảnh cuộc sống với nhiều hình thức phương tiện khác nhau và phong phú. Các loại hình nghệ thuật tạo hình dùng các yếu tổ biểu hiện như đường nét – hình khối – màu sắc. Nghệ thuật âm nhạc ngôn ngữ lại là âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu. Văn học là loại hình sử dụng ngôn ngữ để xây dựng hình tượng nhân vật. Nghệ thuật mua khai thác các tác động, cử chỉ, nhìn chung là những hoạt động của cơ thể con người tuân theo những qui luật tạo hình mĩ cảm để biểu hiện tình cảm, nội dung của vở diễn, điệu múa… Các loại hình nghệ thuật không ra đời cùng một lúc và cũng không phải ngay khi xã hội loài người hình thành đã có nghệ thuật. Nguyên nhân ra đời của các loại hình nghệ thuật là vấn đề được bàn cãi và tranh luận rất nhiều. Nếu tuyệt đối hóa vai trò của khách thể thì cho rằng sự phong phú đa dang của hiện thực khách quan là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các loại hình nghệ thuật. Ngược lại nếu đề cao vai trò của chủ thể thì nguyên nhân ra đời của nghệ thuật là do sự đa dạng, phong phú của các giác quan của con người. Có những loại hình nghệ thuật đến với con người bằng thị giác, nhưng lai có những loại hình nghệ thuật được cảm nhận thông qua thính giác….Tuy vậy theo quan điểm biện chứng
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2