
GIÁO TRÌNH
TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

Chương 1. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC VĂN
HÓA
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
Văn hóa là một phần không thể thiếu đối với mỗi người, văn hóa luôn
gắn liền với hoạt động sống, với cách thức sinh hoạt, làm ăn, sản xuất,... của
con người. Văn hóa hình thành cùng với sự hình thành, phát triển của xã hội
loài người. Từ những nền văn hóa sơ khai, cổ xưa nhất đến những nền văn
hóa hiện đại, con người đã trải qua những sắc thái văn hóa khác nhau. Qua
các thời kỳ khác nhau, văn hóa biến đổi theo vòng quay của lịch sử, sự phát
triển không ngừng và tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày hôm nay đã giúp
con người có nhiều khả năng giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu
trong đời sống của mình, trong đó có Việt Nam, từ sau đổi mới kinh tế (năm
1986). Con người ngày càng có nhiều cơ hội để tiếp xúc, giao lưu với văn hoá
hiện đại, với văn minh tiên tiến nhất của thế giới. Điều này khiến những suy
nghĩ, những cách nhìn nhận vấn đề đã có những thay đổi phù hợp với thời kỳ
mới. Cách thức hành động, lối sống, các giá trị chuẩn mực cũng có những
biến đổi với những nhóm xã hội khác nhau (tuổi tác, tôn giáo, nghề nghiệp,
đẳng cấp,...). Văn hóa có nhiều thay đổi theo cả chiều hướng tích cực cũng
như là tiêu cực: hiện tượng người dân kéo nhau ra đường để cổ vũ, ủng hộ
những người mà mình coi là thần tượng, là biểu trưng cho sự phát triển văn
hoá nhân loại, đến các tụ điểm câu lạc bộ vui chơi, giải trí để sinh hoạt, để tụ
tập nhau vừa ăn uống, vừa làm ăn để tạo sự hợp tác, để thi đua, đắm chìm
vào các phương tiện điện tử (nhất là trẻ em), các chương trình trò chơi được
cài đặt trong máy vi tính và các đĩa CD có nội dung xấu,... ngày càng phổ biến
trong nhiều tụ điểm công cộng, quan hệ ứng xử giữa người với người dựa
trên sự chi phối của kinh tế, mối quan hệ theo hướng tình cảm được đẩy
xuống một cách trầm trọng, môi trường bị ô nhiễm nặng do sự thiếu ý thức
của con người hay đó là hậu quả của những lối sống mới, thậm chí ngay
chính nền văn hóa, nghệ thuật của dân tộc mình cũng không hiểu rõ hoặc

không hiểu một cách cặn kẽ trong khi văn hóa nước khác thì lại nói như chính
của dân tộc mình và nạn phá rừng nuôi tôm, săn bắt thú quý hiếm làm mất
cân bằng sinh thái trong thiên nhiên đang ngày càng phổ biến,... Tất cả những
thực trạng đó đã đặt ra những đòi hỏi cần phải được giải quyết.
Xem xét những biến động xã hội trong bối cảnh thời đại nói chung, của
Việt Nam ngày nay nói riêng dưới góc độ Xã hội học và Xã hội học Văn hoá
cho thấy: Xã hội học Văn hoá (cùng với các chuyên ngành khác của Xã hội
học như: Xã hội học Gia đình, Xã hội học Nông thôn, Xã hội học Đô thị, Xã
hội học Tôn giáo,...) đã và đang đóng vai trò không nhỏ trong việc tìm hiểu
thực trạng (những giá trị xã hội, giá trị kinh tế, giá trị phát triển trong các yếu
tố văn hoá, sự vận hành của văn hoá trong cuộc sống hiện tại và tương
lai,...). Phân tích những nguyên nhân, dự đoán, dự báo hàng loạt các vấn đề
văn hoá nảy sinh trong đời sống xã hội nhằm đáp ứng những mong đợi của
xã hội, đưa ra những giải pháp và có những kiến nghị mang tính khả thi.
1.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
“Văn hóa” là một thuật ngữ trừu tượng và phức tạp mặc dù thời gian
tồn tại cũng như phát triển của văn hóa là rất lâu. Song để hiểu hết về thuật
ngữ này cũng như để có được một khái niệm đúng về văn hóa còn là một câu
hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Với chiều dài lịch sử gắn liền với sự xuất hiện
của loài người, văn hóa đã gắn chặt với nếp sống, hành vi, suy nghĩ của con
người. Mỗi một khu vực địa lý khác nhau, một cộng đồng, dân tộc khác nhau
có những nền văn hóa khác nhau, thậm chí ngay cả giữa các nhóm xã hội ở
cùng một địa vực cũng có những nét văn hóa riêng đặc trưng cho văn hóa
nhóm, cộng đồng. Sự đặc thù của không gian địa lý, nếp sống, kinh tế đã tạo
ra sự đa dạng trong văn hóa vùng miền, bởi vậy, không ngạc nhiên khi có sự
khác nhau trong cách con người quan niệm về văn hóa. Tuy nhiên, không thể
không thừa nhận, giữa các nhóm, cộng đồng, dân tộc vẫn có những đặc điểm
văn hóa đặc trưng cho xã hội loài người. Qua mỗi một thời kỳ khác nhau, văn
hóa lại có những thay đổi mới, những giá trị tinh hoa được bảo tồn và bổ sung
đồng thời cũng đào thải những giá trị văn hóa đã lỗi thời. Điều này cho thấy

sự phát triển của văn hóa luôn song hành cùng với sự phát triển của xã hội
loài người. Mỗi một xã hội cụ thể thì có một nền văn hóa tương ứng với thời
kỳ đó. Cho đến nay, khi thế giới đã bước vào thế kỷ XXI, song thuật ngữ “văn
hóa” vẫn là một dấu hỏi chấm chưa có lời giải đáp.
Hiện nay, trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, “văn hóa” ngày càng
chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của mỗi quốc gia,
điều này đã tạo thành một trào lưu nghiên cứu biến “văn hóa” trở thành một
trong những đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội - nhân
văn, trong đó phải kể đến Xã hội học.
a) Quan niệm thông thường về văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong đời
sống xã hội, chúng ta có thể thấy có nhiều cách hiều về văn hóa khác nhau
như: văn hóa nói, văn hóa viết, văn hóa đọc,... Dưới góc độ đời thường về
“văn hóa” thì có nghĩa là chúng ta loại bỏ cách nhìn trực giác, tiền khái niệm
về văn hóa - những cách nhìn có thể ngăn cản con người đạt tới một cách
nhìn khoa học.
Trong cuộc sống đời thường, từ “văn hóa” như một thực thể khách
quan tồn tại từ lâu cùng với con người, con người thường dùng văn hóa để
thể hiện sự khác biệt giữa con người và con vật. Nó thường được dùng để
chỉ những hoạt động xã hội của con người như: sự lịch lãm, lễ độ, khiêm
nhường, biết kiềm chế bản thân trong các mối quan hệ ứng xử xã hội, sự
hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, sự phong phú về tri thức và kinh nghiệm
sống. Ở đây, văn hóa được coi là những hành vi tuân thủ những nguyên tắc
hay quy phạm đạo đức, xã giao của các cá nhân một cách tự nhiên, là cách
xử lý những người vi phạm quy tắc một cách chính xác và tế nhị, chỉ trình độ
học vấn, những tri thức, sự thành thục, lão luyện mà con người có được trong
hoạt động nhận thức và hoạt động xã hội. Đó là sự tuân thủ một cách tuyệt
đối những quy chuẩn đạo đức mà xã hội gắn cho mỗi người, việc thực hiện
nghiêm chỉnh những quy phạm đó sẽ tạo ra một con người có văn hóa. Trong
cách hiểu thông thường này thì thuật ngữ “văn hóa” được hình thành theo

nghĩa đối lập với sự “vô học”, “dốt nát”, “vô đạo đức”,... Tuy nhiên, trên thực tế
thuật ngữ “văn hóa” nhiều khi cũng bị hiểu lẫn lộn với “văn hiến”, “văn minh”,
“văn vật” mặc dù những từ này có những nghĩa khác nhau: Văn hiến là từ
dùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người có tài, có đức sáng tạo ra,
là từ chỉ truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Văn vật là khái niệm hẹp
dùng để chỉ những công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử (là văn
hóa thiên về các giá trị vật chất). Ví dụ: Hà Nội ngàn năm văn vật. Văn minh
được dùng để chỉ các xã hội đạt đến một trình độ phát triển cao về tri thức,
khoa học kỳ thuật, về trình độ đô thị hóa và khả năng con người làm chủ lực
lượng tự nhiên và mang tính quốc tế. Ví dụ như: Văn minh châu Âu, Văn minh
Công nghiệp,...
Trong thực tế, từ “văn hóa” còn được dùng để chỉ những sản phẩm xã
hội có liên quan đến đời sống xã hội và tinh thần của con người như các công
trình kiến trúc mang tính lịch sử, thẩm mỹ chứa đựng những giá trị xã hội và
văn hóa của dân tộc hay của nhân loại như: đền đài, cung điện, lăng tẩm,
đình, đền, chùa, miếu, mạo,...; những công trình đã được nhà nước và cộng
đồng ghi nhận và xếp hạng; để chỉ các sản phẩm vật chất khác như: sách,
báo, tranh ảnh, các xuất bản phẩm,... - những tác phẩm mang sự tinh tế trong
văn học nghệ thuật và nó còn là phức thể những đặc điểm vật chất và tinh
thần làm nên bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội nhất định, dấu hiệu
để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác như: văn hóa làng, văn hóa
gia đình, văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa,...
Ở một giai đoạn nào đó, những hoạt động tinh thần có tính tư tưởng,
học thuật cao, những hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật của các nhà khoa
học, nhà tư tưởng, các văn nghệ sĩ đôi khi cũng được thừa nhận là có giá trị
văn hóa đích thực.
Như vậy, có thể nói: Theo quan niệm thông thường, từ “văn hóa” được
hiểu là sự lịch lãm trong giao tiếp ứng xử, sự tinh tế trong văn học nghệ thuật,
sự hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, sự phong phú trong tri thức và kinh
nghiệm sống của con người,...

