Hành lang đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng
của loài người. Từ bao đời nay, con người sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái, các
loài và nguồn gen của chúng.
Tuy nhiên, cũng chính con người đã gây ra những tác động m biến đổi một cách sâu
sắc các hsinh thái, nhiều loài bị tuyệt chủng hoặc du nhập nhiều loài ngoại lai m
hại ảnh hưởng lớn đến quyền lợi và sự thịnh vượng của các thế hệ mai sau. Trong quá
trình phát triển, con người đã tạo ra nhiều nguồn gen quý, nhưng cũng m mất đi
nhiều nguồn gen khó có thể phục hồi được.
Nhận thức được vai trò và ý nghĩa to lớn của ĐDSH trong đời sống vật chất tinh
thần của loài người, đồng thời ý thức được những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến suy thoái và mất ĐDSH, nhiều nước trên thế giới đã có những nỗ lực
nhằm duy trì bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên ĐDSH của mình, trong
đó việc xây dựng hệ thống c vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên - hình
thức bảo tồn tại chỗ (in-situ). Mặc vậy, phần lớn hệ thống các khu bảo tồn thiên
nhiên này tồn tại một cách độc lập hoặc không được kết nối với các khu vực khác, bao
gồm cả các khu bảo tồn những khu vực không thuộc hệ thống khu bảo tồn nhưng
tính ĐDSH cao. Bên cạnh đó, do dân số ngày càng, nên những hoạt động bảo tồn
cũng không tránh khỏi việc cần phải quan m đến các bên liên quan, trong đó các
cộng đồng địa phương sinh sống tại các khu vực lân cận hoặc ngay bên trong các khu
bảo tồn và những khu vực giữa các khu bảo tồn thiên nhiên này.
Cho đến nay, bên cạnh việc xây dựng hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên, nhiều
nước trên thế giới khu vực đã quan m đến việc thiết lập hệ thống hành lang kết
nối các khu này với nhau nhằm tăng cường khả năng bảo tồn ĐDSH. Các khu vực kết
nối này (hành lang xanh hoặc hành lang ĐDSH) vai trò rất quan trọng trong việc
ngăn chặn giảm thiểu tình trạng chia cắt về sinh cảnh và các hệ sinh thái, di chuyển
di cư cũng như tương tác của các loài, đồng thời góp phần vào các hoạt động sinh
kế của cộng đồng địa phương cũng như thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hình 1. Quy hoạch bảo tồn ĐDSH theo mô hình của Hoa Kỳ
Việt Nam một trong những nước được đánh giá tính ĐDSH cao. Chính phủ
nhân dân Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn ĐDSH, trong đó có việc xây
dựng một hệ thống các vườn quốc gia khu bảo tồn trên cạn các văn bản, quy phạm
liên quan. Bên cạnh đó cũng đã có những nỗ lực trong việc thực hiện các hoạt động về
xây dựng các hành lang kết nối các khu bảo tồn thiên nhiên này với nhau với các
nước trong khu vực (như Lào và Campuchia).
Hình 2. Hành lang sinh học Trung Mỹ (Màu đậm là những khu bảo tồn hiện có. Màu
nhạt là những khu bảo tồn đang được xây dựng)
1. Khái niệm và chức năng ca hành lang ĐDSH
Hành lang ĐDSH trên thực tế đã được ứng dụng để thúc đẩy việc di chuyển của c
loài động vật trong quản lý các loài được phép săn bắn tại Hoa Kỳ từ những năm 1940
(Harris, 1984; 1988; Harris Scheck, 1991). Trong giai đoạn này một hệ thống các
khu cư trú tách biệt đã được xây dựng dọc theo đường di cư để khôi phục các quần thể
chim nước vùng Bắc Mỹ. Gần đây, khái niệm hành lang ĐDSH đã được lồng ghép
với hai thuyết địa sinh học đảo của MacArthur và Wilson (1967) các quần thể
riêng biệt của cùng một loài tương c với nhau (Levins, 1969; McCullough, 1996;
Hanksi Gilpin, 1997). Hai thuyết này đã được dùng m sở cho nhiều cách
tiếp cận trong sinh học bảo tồn bao gồm việc sử dụng trong quy hoạch diện tích cũng
như hình dạng của các khu bảo tồn dùng hành lang để thúc đẩy việc di chuyển của
các loài động vật và thực vật.
Bên cạnh đó, hành lang ĐDSH chức năng góp phần vào việc duy trì sự tồn tại của
các quần thể trong tự nhiên bằng cách giữ cho các quần thể này khỏi bị tiêu diệt do
các yếu tố ngẫu nhiên, tăng đa dạng di truyền giữ lại các chu trình sinh quan trọng
(Hess Fischer, 2001; Cheryl-Lesley các cộng sự, 2006). Hành lang ĐDSH đã
chính thức được coi một thành phần bản trong quy hoạch cảnh quan nằm trong
lĩnh vực sinh thái cảnh quan vào những m 1980 khi được Forman Godron
(1981; 1986) sử dụng lần đầu tiên vùng Bắc Mỹ. Theo hệ thống mới này, cảnh quan
(landscape) bao gồm các ma trận trong đó các vùng sinh cảnh sống kích thước
khác nhau (patches) hành lang sinh học các cấu trúc dạng đường thẳng nối liền
các vùng này (Hình 1).
Ngoài chức năng là nơi di chuyển của các loài động thực vật, hành lang còn vai trò
khác như nh lang xanh. Trong phạm vi ki niệm hành lang xanh, hành lang sinh
học còn chức ng xã hội ngiải trí, thẩm mỹ kết nối cộng đồng văn hóa.
Những chức năng này đã được chấp nhận một cách rộng rãi được đưa vào tài liệu
quy hoạch hành lang sinh học của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Tuy nhiên theo Luật
ĐDSH (2008) của Việt Nam, hành lang ĐDSH chđóng vai trò nơi di chuyển cho
các loài động thực vật: “Hành lang ĐDSH khu vực nối liền các vùng sinh thái t
nhiên cho phép các loài sinh vật sống trong các vùng sinh thái đó thể liên hệ với
nhau”.
2. Mt số ví dụ c thể về hành lang ĐDSH
Hành lang ĐDSH Trung Mỹ: Hành lang ĐDSH lớn nhất thế giới này nối liền các
khu vực rừng tnhiên từ phía Nam của Mêhitới tất cả vùng Trung Mỹ kết thúc
tại kênh đào Panama, là cầu nối sinh học giữa hai lục địa (Hình 2). Hành lang sinh học
này chạy qua 7 nước vùng Trung Mỹ bao gồm: Mêhicô, Costa Rica, El Salvador,
Guatemala, Honduras, Belize, Nicaragua và Panama. Vào m 1997, một công ước
chung đã được kết giữa các nước này tại hội nghị thượng đỉnh nhằm chính thức
thành lập hành lang sinh học này. Năm 1999, Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(WWF) đã phát động chiến dịch quảng bá cho hành lang ĐDSH này và nâng cao nhận
thức về tầm quan trọng cũng nlợi ích của nó. Một số các tổ chức quốc tế trong đó
UNDP tham gia tích cực nhất vào việc đóng góp tài chính cho một số tổ chức phi
chính phủ và các dán ủng hộ hành lang này. Kết quban đầu cho thấy đã môt số
thành công trong việc khôi phục một số quần thể động vật tăng số lượng thể
một số loài quan trọng.
Hành lang sinh học Bhutan: Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn
ĐDSH, Chính phủ Bhutan đã thiết lập một hệ thống khu bảo tồn rộng lớn đặc trưng
cho nhiều vùng sinh thái khác nhau tcận nhiệt đới cho tới ôn đới. Hiện nay, tổng s
diện tích của các khu bảo tồn chiếm 26% diện tích cả nước. Hệ thống khu bảo tồn này