VI N H N L M KHOA HỌC XÃ HỘI VI T NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH VŨ
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
QUA BA TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (NGUYỄN MINH CHÂU),
ĐẤT TRẮNG (NGUYỄN TRỌNG OÁNH),
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
VI N H N L M KHOA HỌC XÃ HỘI VI T NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ANH VŨ
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
QUA BA TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (NGUYỄN MINH CHÂU),
ĐẤT TRẮNG (NGUYỄN TRỌNG OÁNH),
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62.22.01.20
Người hướng dẫn: PGS. TS. Phan Trọng Thƣởng
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu,
những kết luận, nhận định trong luận án là trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ công trình một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2016
Tác giả luận án
Nguyễn Anh Vũ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................................. 1
2. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................................................... 4
3. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................................ 5
6. Đóng góp của luận án ..................................................................................................................... 6
7. Cấu trúc của luận án ........................................................................................................................ 7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU..................................... 8
1.1. Tình hình nghiên cứu về hiện thực chiến tranh trong văn xuôi những năm chống Mỹ cứu nước và tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu .............................................. 8
1.2. Tình hình nghiên cứu về hiện thực chiến tranh trong văn xuôi sau 1975 và hai tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ................................ 14
CHƢƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TỪ 1945 ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XX ............... 30
2.1. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 .................... 35
2.1.1. Giai đoạn 1945- 1954 .......................................................................................................... 35
2.1.2. Giai đoạn 1955- 1964 .......................................................................................................... 39
2.1.3. Giai đoạn 1965- 1975 .......................................................................................................... 41
2.2. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 .................... 47
2.2.1. Từ bối cảnh hiện thực thời kỳ hậu chiến .......................................................................... 47
2.2.2. Đến sự xuất hiện của một số hướng tiếp cận mới về chiến tranh ................................ 49
2.3. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1986 đến cuối thế kỷ XX .... 52
2.3.1. Giai đoạn 1986- 1990 .......................................................................................................... 52
2.3.2. Giai đoạn 1990 đến cuối thế kỷ XX ................................................................................... 54
2.3.3. Những cách tân về thi pháp thể loại .................................................................................. 55
CHƢƠNG 3: CÁC GÓC TIẾP CẬN HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG BA TIỂU THUYẾT DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH, ĐẤT TRẮNG VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH ......................................................................................................... 61
3.1. Các mô hình phản ánh hiện thực trong văn học .................................................................... 61
3.2. Từ đại tự sự đến dấu hiệu của các tiểu tự sự ........................................................................... 64
3.3. Hiện thực chiến trường .............................................................................................................. 68
3.3.1. Bản anh hùng ca chiến trường trong Dấu chân người lính ......................................... 69
3.3.2. Chiến trường khốc liệt và bi tráng trong Đất trắng ....................................................... 73
3.3.3. Chiến trường đối lập với nhân tính trong Nỗi buồn chiến tranh ................................. 78
3.4. Nhân vật người lính trong và sau chiến tranh ......................................................................... 82
3.4.1. Nhân vật anh hùng sử thi trong Dấu chân người lính ................................................... 82
3.4.2. Nhân vật người lính kết hợp chất sử thi và thế sự trong Đất trắng ............................. 87
3.4.3. Người lính nhìn từ góc độ số phận con người cá nhân trong Nỗi buồn chiến tranh 91
3.5. Tình yêu trong chiến tranh ........................................................................................................ 99
3.5.1. Vận mệnh dân tộc đặt trên hạnh phúc cá nhân trong Dấu chân người lính ........... 100
3.5.2. Tình yêu lý tưởng mang xúc cảm đời thường trong Đất trắng .................................. 102
3.5.3. “Thân phận của tình yêu” trong Nỗi buồn chiến tranh .............................................. 105
CHƢƠNG 4: THI PHÁP TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH QUA DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH, ĐẤT TRẮNG VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH .......................... 111
4.1. Nghệ thuật tổ chức kết cấu ...................................................................................................... 111
4.1.1. Kết cấu tiểu thuyết sử thi trong Dấu chân người lính .................................................. 112
4.1.2. Kết cấu tiểu thuyết phóng sự trong Đất trắng ............................................................... 115
4.1.3. Kết cấu tiểu thuyết dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh ...................................... 117
4.2. Không gian và thời gian nghệ thuật ....................................................................................... 120
4.2.1. Không gian nghệ thuật ...................................................................................................... 120
4.2.1.1. Không gian sử thi trong Dấu chân người lính ........................................................... 120
4.2.1.2. Không gian chiến trường mang đậm tính phóng sự của Đất trắng ..................... 123
4.2.1.3. Không gian đa chiều trong tâm tưởng của Nỗi buồn chiến tranh ......................... 125
4.2.2. Thời gian nghệ thuật .......................................................................................................... 127
4.2.2.1. Thời gian hiện tại hướng tới tương lai của Dấu chân người lính .......................... 127
4.2.2.2. Thời gian hiện tại căng thẳng trong Đất trắng .......................................................... 129
4.2.2.3. Thời gian đồng hiện trong Nỗi buồn chiến tranh ...................................................... 130
4.3. Nghệ thuật trần thuật ................................................................................................................ 133
4.3.1. Điểm nhìn trần thuật .......................................................................................................... 133
4.3.1.1. Điểm nhìn “toàn tri” trong Dấu chân người lính và Đất trắng ............................. 133
4.3.1.2. Sự di chuyển của các điểm nhìn trần thuật trong Nỗi buồn chiến tranh .............. 135
4.3.2. Giọng điệu trần thuật ......................................................................................................... 138
4.3.2.1. Giọng điệu ngợi ca hào hùng trong Dấu chân người lính ...................................... 138
4.3.2.2. Giọng điệu khách quan bi hùng trong Đất trắng ...................................................... 139
4.3.2.3. Giọng điệu đa thanh trong Nỗi buồn chiến tranh ..................................................... 141
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................................................. 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 150
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong văn học nhân loại, chiến tranh là một đề tài lớn. Điều này có thể
xem như một tất yếu bởi để phản ánh một cách chân thực và sinh động nhất hiện
thực cuộc sống, cuộc đấu tranh sinh tồn trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt
quan trọng của mỗi quốc gia và của cả loài người, chiến tranh là một đề tài thường
trực có ý nghĩa trung tâm không thể thay thế. Soi chiếu vào lịch sử văn học của cả
phương Đông và phương Tây, ta có thể thấy sự hiện diện đậm nét và chi phối mạnh
mẽ của siêu đề tài này với hàng loạt những tác phẩm có giá trị. Văn học phương
Tây với rất nhiều những tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã để lại cho nhân loại những
kiệt tác có thể coi là đã đạt đến đỉnh cao của văn học về đề tài chiến tranh như
Chiến tranh và hòa bình của Lep Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp, Mặt
trận phía Tây vẫn yên tĩnh, Một thời để yêu, Một thời để chết, Đêm Lisbone, Ba
người bạn, Khải hoàn môn… của E.M. Remarque. Văn học phương Đông cũng
không hề thua kém về thành tựu của mảng đề tài hiện thực chiến tranh với những
pho tiều thuyết chương hồi nổi tiếng có quy mô phản ánh hết sức rộng lớn, đồ sộ và
hoành tráng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại
Am trong văn học Trung Quốc.
1.2. Trong bối cảnh đó, văn học Việt Nam với tư cách là một bộ phận vận
động đương nhiên không thể nằm ngoài quỹ đạo của văn học nhân loại. Ngoài ra,
văn học Việt Nam còn gánh vác một sứ mệnh cao cả và vô cùng quan trọng, đó là
nhiệm vụ phải luôn song hành với với lịch sử dân tộc, với vận mệnh đất nước và
gắn liền với những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chiến tranh đã, đang và sẽ còn
rất lâu nữa vẫn là một đề tài lớn của văn học Việt Nam, là nguồn mạch, cảm hứng
bất tận cho nhiều thế hệ nhà văn tìm tòi, thể nghiệm. Đó cũng là một hiện tượng rất
dễ lý giải, bởi chỉ tính riêng trong thế kỷ XX vừa qua, dân tộc Việt Nam đã có ngót
1
bốn mươi năm sống trong không khí của chiến tranh bom đạn. Nhìn xa hơn nữa về
quá khứ, chúng ta hẳn vẫn chưa quên một nghìn năm dân tộc Việt Nam bị phong
kiến phương Bắc đô hộ, gần một thế kỷ dưới ách cai trị của thực dân Pháp…
Không gì khác, chính văn học là tấm gương phản ánh một cách chân thực, sinh
động nhất cuộc chiến đấu hào hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm và bảo vệ bờ cõi của
dân tộc Việt Nam. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam hình thành và phát
triển như một sự tất yếu, trưởng thành qua từng giai đoạn, thời kỳ của lịch sử và
văn học dân tộc.
Tuy nhiên, ở từng giai đoạn, mỗi chặng đường, đề tài chiến tranh lại được
khai thác, tiếp cận và phản ánh ở nhiều góc độ theo những cảm hứng khác nhau. Ba
mươi năm kháng chiến trường kỳ với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ đã đem lại cho dân tộc Việt Nam độc lập tự do và đồng thời đem lại cho văn
học Việt Nam một nền văn học hiện đại viết về chiến tranh tương đối đồ sộ. Văn
học giai đoạn 1945- 1975 là giai đoạn văn học mang âm hưởng sử thi, với cảm
hứng chủ đạo là ngợi ca mà khi tiếp cận người ta thấy tầng tầng lớp lớp những sự
kiện lịch sử, những chiến công hiển hách, những chí khí oai hùng… Ở đó, có thể do
yêu cầu của lịch sử, những gì thuộc về con người thân phận dường như chưa được
đề cập đến, cũng có thể là né tránh, hoặc nếu có cũng chỉ lướt qua, khá mờ nhạt,
chưa định hình, rõ nét.
Một đất nước có chiến tranh, những người cầm bút sống và xúc cảm cùng
chiến tranh, nhìn và viết về chiến tranh đương nhiên sẽ có một dòng văn học viết về
chiến tranh. Tuy nhiến viết về chiến tranh, cảm nhận về chiến tranh khi cuộc chiến
đã lùi vào quá khứ hay việc phản ánh về cuộc sống và con người thời hậu chiến khi
người viết đã có một “độ lùi” cần thiết lại là vấn đề hoàn toàn khác. Văn học sau
năm 1975 đã chuyển sang một diện mạo mới, có thể gọi đó là giai đoạn văn học
mang cảm hứng thế sự, đời tư. Nếu trong chiến tranh, văn học viết về đề tài chiến
tranh ít nói đến mất mát hy sinh, ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít
quan tâm đến số phận con người thì những tác phẩm viết về đề tài này sau chiến
2
tranh đã có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về sự ác liệt, gian khổ, thậm
chí cả những sai lầm, vấp ngã của người lính trước những cám dỗ thường nhât.
Cuộc sống thời hậu chiến bộn bề phức tạp làm thay đổi hệ quan niệm nghệ thuật về
đời sống xã hội và con người đòi hỏi các nhà văn phải có những sự cách tân mạnh
mẽ về nội dung cũng như hình thức để tạo dấu ấn, phong cách riêng. Sau chiến
tranh, với một độ lùi cần thiết, những tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này
đã dần chuyển sang một âm điệu mới, không chỉ có hào hùng mà còn có cả bi
tráng, không chỉ ở chiến trường mà cả ở hậu phương, bên cạnh những con người
anh hùng còn có những con người mang số phận bi kịch, thất cơ lỡ vận…
1.3. Ba cuốn tiểu thuyết: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất
trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) có thể coi là ba tác
phẩm xuất sắc, tiêu biểu, đánh dấu những mốc quan trọng trong quá trình vận động
của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945. Dấu
chân người lính là tác phẩm tiêu biểu cho tiểu thuyết sử thi trong văn học cách
mạng (1945 – 1975). Đất trắng tiêu biểu cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
giai đoạn mười năm đầu sau giải phóng, từng được giải thưởng của Bộ Quốc phòng
năm 1984 và Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Nỗi buồn chiến tranh
được đánh giá là một tác phẩm đặc sắc với nhiều ý tưởng cách tân, tiêu biểu cho
tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986), từng được Hội Nhà văn Việt Nam trao
tặng giải Nhất về tiểu thuyết năm 1991. Cùng viết về đề tài chiến tranh, song cái
nhìn nghệ thuật và hiện thực chiến tranh trong mỗi tác phẩm lại có những cách tiếp
cận, phản ánh và thể hiện khác nhau. Đó có thể xem là quy luật vận động sự đổi
thay, phát triển tất yếu của văn học. Dẫu cảm hứng sử thi đang ngày càng phai nhạt,
song tự trong sâu thẳm ký ức dân tộc, chiến tranh vẫn là một bộ phận chính yếu
trong đời sống văn học, đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn chưa thể thay thế và
hứa hẹn nhiều bất ngờ trong tương lai. Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn đề tài
“Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba tác phẩm tiêu biểu:
Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi
3
buồn chiến tranh (Bảo Ninh)” cho luận án Tiến sĩ của mình với mục đích làm rõ
diện mạo, khuynh hướng, giá trị hiện thực cũng như những cách tân về thi pháp
trong ba tác phẩm tiêu biểu nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về chiến tranh
chống Mỹ.
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề hiện thực chiến tranh trong văn
xuôi Việt Nam hiện đại. Xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, đề tài của chúng
tôi hướng tới cái nhìn tổng quan về vấn đề hiện thực chiến tranh bao hàm phương
thức phản ánh và giá trị hiện thực trong văn xuôi Việt Nam hiện đại thời chống Mỹ.
Tuy nhiên, chúng tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu trường hợp là ba tác phẩm Dấu chân
người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh để qua đó nhìn nhận các bước vận
động và phát triển của thể tài chiến tranh trong dòng chảy của văn xuôi Việt Nam
nửa cuối thế kỷ XX. Lựa chọn tiểu thuyết thay vì truyện ngắn đại diện cho văn xuôi
vì chúng tôi cho rằng, tiểu thuyết là thể loại nòng cốt, tiêu biểu hơn cho những biến
động trong đời sống của một nền văn học.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là ba tiểu thuyết Dấu chân người lính
(1972), Đất trắng (1979; 1984), Nỗi buồn chiến tranh (1990). Bên cạnh đó, chúng
tôi cũng tiến hành khảo sát những tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và trả lời
phỏng vấn của ba tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh để
hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu.
Ngoài ra, để có cái nhìn tổng quan, những tiểu thuyết của những tác giả khác
viết về đề tài chiến tranh trước và sau 1975 cũng là những tư liệu tham khảo hữu
ích cho tác giả trong việc triển khai luận án.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát diện mạo, khuynh hướng của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
4
trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, chỉ ra những ảnh hưởng, tác động từ môi trường
sinh thái, lịch sử văn hóa… chi phối đến sự phản ánh hiện thực chiến tranh trong
từng tác phẩm.
- Luận án thông qua ba tác phẩm cụ thể là Dấu chân người lính, Đất trắng
và Nỗi buồn chiến tranh để phân tích, lý giải sự vận động, những tiếp biến và đổi
thay để hướng tới cái mới và cái khác trong hành trình sáng tạo của các nhà văn
trước cùng một đề tài.
- Luận án tìm hiểu những đặc trưng thi pháp của các tiểu thuyết này để thấy
được sự vận động và những cách tân thể loại trong cách thức tái tạo hiện thực chiến
tranh.
- Từ đó, luận án khẳng định vai trò, vị trí và những đóng góp của Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh vào thành tựu của văn xuôi chiến
tranh cùng tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và đương đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba
tác phẩm Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng
Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp và
cách tiếp cận khác nhau để có thể soi chiếu đối tượng từ nhiều góc độ. Phương
pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt luận án là phương pháp tiếp cận hệ thống.
Như Khravechenco đã chỉ ra thì một đặc điểm quan trọng của phương pháp phân
tích hệ thống là việc khám phá những liên hệ bên trong của một tổng thể nhất định
các hiện tượng, các liên hệ của từng thành tố trong các hiện tượng xã hội khác
nhau, là sự nghiên cứu thống nhất về cấu trúc của chúng, ở đó luôn phải xem xét
mỗi thành tố trong mối liên hệ phối thuộc lẫn nhau không thể tách biệt.
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình và cấu
trúc loại hình để giải mã cấu trúc của loại hình tác phẩm văn học viết về chiến
tranh. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp khi lựa chọn
5
tác phẩm cụ thể để tìm hiểu hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện
đại, từ những trường hợp cụ thể có ý nghĩa tiêu biểu cho từng giai đoạn để khái
quát được những vấn đề mang tính hệ thống.
Ở từng vấn đề, chúng tôi kết hợp các phương pháp và các cách tiếp cận:
- Phương pháp so sánh lịch sử: Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đời sống
thể loại với cơ sở xã hội mà nó phát sinh và phát triển, sự tác động của xã hội tới
tiến trình phát triển của thể loại.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Khi muốn nghiên cứu về sự tiến hóa
của các phương thức, phương tiện chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng, sự hoạt
động chức năng xã hội- thẩm mỹ của chúng, nghiên cứu số phận của các khám phá
nghệ thuật.
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Khi muốn tìm hiểu các yếu tố của văn
bản tác phẩm thông qua việc phục nguyên lại đời sống văn hóa của một thời đại
nhất định, dùng nó để lý giải các vấn đề văn học, đặc biệt là các quan niệm về văn
học và sáng tác văn chương.
- Phương pháp nghiên cứu loại thể: là một đề tài nghiên cứu về thể loại văn
học, đây là phương pháp quan trọng để chúng tôi tìm ra những đặc trưng về mặt thi
pháp của thể loại.
Ngoài ra, chúng tôi vận dụng các thao tác thông thường như: phân tích, đối
chiếu, thống kê, phân loại, mô hình hóa, khảo sát văn bản…
6. Đóng góp của luận án
- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về vấn đề hiện thực chiến tranh trong
văn học Việt Nam 1945 đến hết thế kỷ XX.
- Luận án với ba tác phẩm cụ thể Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi
buồn chiến tranh đã nhìn nhận sự vận động của vấn đề hiện thực chiến tranh, lý
giải nguyên nhân cũng như kết quả của những biến đổi từ nhiều góc độ, hướng tới
việc khẳng định các giá trị bền vững thông qua các hiện tượng tiêu biểu đã lựa
6
chọn.
- Luận án lý giải sự vận động và phát triển của vấn đề hiện thực chiến tranh
song hành cùng quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai
thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Sự vận động của đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại từ 1945 đến cuối thế kỷ XX
Chương 3: Các góc tiếp cận hiện thực chiến tranh trong ba tiểu thuyết Dấu
chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh
Chương 4: Thi pháp tiểu thuyết chiến tranh qua Dấu chân người lính, Đất
7
trắng và Nỗi buồn chiến tranh
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về hiện thực chiến tranh trong văn xuôi
những năm chống Mỹ cứu nƣớc và tiểu thuyết Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu
1.1.1. Ngày 5 tháng 8 năm 1964 là một thời khắc quan trọng trong lịch sử
dân tộc Việt Nam khi bầu trời xuất hiện những tốp máy bay mang bom phá hoại và
những tiếng súng chống Mỹ đầu tiên nổ ra trên miền Bắc, cả nước lại bước vào một
cuộc trường chinh mới gian khổ nhưng vĩ đại. Lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, ý thức tự tôn dân tộc, lòng quả cảm, đức hi sinh, sức mạnh quật khởi
của tinh thần đoàn kết dân tộc lại một lần nữa được tiếp tục trỗi dậy mạnh mẽ. Hòa
trong khí thế ấy, hàng triệu con tim thanh niên Việt Nam đã đi theo tiếng gọi thiêng
liêng của Tổ quốc, từ biệt gia đình, gác bút nghiên băng mình vào tuyến lửa. Trong
vô vàn những trái tim sôi sục đầy nhiệt huyết ấy có không ít chiến binh là những
nhà văn, bên cạnh nhiệm vụ cầm súng chiến đấu còn gánh vác một trọng trách cao
cả, đó là cổ vũ, động viên chiến sĩ bằng ngòi bút và trang văn của mình.
Chính bởi trọng trách thiêng liêng ấy mà trong những năm kháng chiến
chống Mỹ, văn học luôn xuất hiện ở vị trí mũi nhọn chiến đấu, luôn bám sát và
phục vụ nhiệm vụ chính trị. Những nhà văn đồng thời là những người lính, họ sống
và chiến đấu ở tất cả các mặt trận, các chiến dịch, họ viết bằng những cảm xúc hết
sức chân thật và trẻ trung, hào hứng với mong nuốn tái hiện thật chi tiết, đầy đủ
những diễn biến của cuộc chiến. Chính vì vậy các tác phẩm văn học nói chung và
tiểu thuyết nói riêng giai đoạn này đều tập trung phản ánh, khắc họa những diễn
biến cực kỳ mau lẹ của cuộc kháng chiến, khoảng cách cố hữu giữa sự kiện lịch sử
và văn học được thu hẹp một cách tối đa.
Với một vai trò, chức năng gần như duy nhất, “trùng khít” như vậy, lẽ đương
nhiên tiểu thuyết chiến tranh của giai đoạn này đều tập trung phản ánh một phạm vi
hiện thực cách mạng rộng lớn với tầng tầng lớp lớp những sự kiện, với muôn vàn
8
biến cố lớn lao mang tầm vóc sử thi của đời sống dân tộc. Cảm hứng chủ đạo bao
trùm lên các tác phầm không thể có gì khác ngoài sự ca ngợi chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, khẳng định và biểu dương khí thế hừng hực niềm tin chiến thắng của
quân và dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc. Bên cạnh đó, tiểu thuyết chiến tranh
thời kỳ này còn là những bản cáo trạng đanh thép, lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh
xâm lược phi nghĩa, vạch rõ bộ mặt dã man, độc ác, tàn bạo và hèn nhát của kẻ thù.
Chính vì thế, nhiều tiểu thuyết giai đoạn này mang dáng dấp của thể loại kí sự,
nặng về “tả” và “kể”. Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận một thành tựu nổi bật nhất của
tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này, đó là nghệ thuật xây dựng nhân vật- cụ thể là
những nhân vật được coi là điển hình. Thành tựu này thể hiện sự phát triển, mở
rộng dung lượng phản ánh khi lần đầu tiên nhân vật người lính chống Mỹ được đặt
trong bối cảnh rộng lớn của đất nước, gắn hậu phương với chiến trường, gắn số
phận một người với nhiều người, lớp già và lớp trẻ… Đó là thời điểm đáng nhớ của
văn xuôi cách mạng khi hình tượng người lính, người chiến sĩ giải phóng quân
mang trên vai mình trọng trách lớn lao của lịch sử dân tộc được khắc họa như
những nhân vật chính của thời đại, ở vào vị trí trung tâm xoáy động của cả một thời
kỳ lịch sử mà không đơn thuần chỉ ở nơi chiến trường. Với kiểu nhân vật người
lính, các tác giả tiểu thuyết thời kỳ này đã xây dựng thành công nhiều hình tượng
cá nhân điển hình, bên cạnh những điển hình tập thể, những hình tượng nhân vật
“đám đông”.
Bối cảnh lịch sử- xã hội, hiện thực cuộc sống chiến đấu đã trở thành mảnh
đất màu mỡ để văn học nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng giai đoạn
chống Mỹ cứu nước kế thừa những thành quả có tính chất nền tảng, tiền đề của văn
xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945- 1954, tiếp tục phát triển và gặt hái
được những thành tựu to lớn. Đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về
văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng viết về chiến tranh trong giai đoạn chống
Mỹ cứu nước. Điều dễ nhận thấy nhất là hầu như tất cả các bài viết, các công trình
nghiên cứu đều thống nhất một quan điểm rằng, mảng văn xuôi nói chung và văn
9
xuôi viết về đề tài chiến tranh trước 1975 mang đậm tính chất sử thi và cảm hứng
lãng mạn; đã xây dựng được những hình tượng nhân vật anh hùng tiêu biểu cho thế
hệ, cho dân tộc; đã hoàn thành xuất sắc vai trò, chức năng của văn học thời kỳ này
trong việc cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội, nhân dân. Nhà nghiên
cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Ra đời và phát triển trong không khí lịch
sử đó, văn học giai đoạn 1945- 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số
phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng. Nhân vật trung tâm của nó là những con
người đại diện cho giai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những
phẩm chất cao quý của cộng đồng” [140, tr. 61]. Đề cập đến nghệ thuật xây dựng
nhân vật với những cá nhân điển hình, Đinh Xuân Dũng nhận định: "chưa bao giờ
trong văn học của chúng ta lại xuất hiện nhiều đến thế những điển hình cao đẹp
sáng ngời chất lý tưởng của con người mới, con người anh hùng trong chiến tranh"
và "mỗi điển hình văn học tích cực là một đại diện chung cho cả một dân tộc hay
một tầng lớp, một thế hệ những người cầm súng" [36, tr. 49]. Sau khi khảo sát một
loạt tiểu thuyết mở đầu cho giai đoạn văn học mới (1945 – 1975), cùng chung quan
điểm và tinh thần ghi nhận ấy, nhà nghiên cứu Lê Thành Nghị đã khẳng định: trong
các tiểu thuyết này, "nhân vật anh hùng của cuộc kháng chiến hiện ra sau một bút
pháp vừa thực vừa ảo – một thứ "chủ nghĩa hiện thực" rắn rỏi mà mượt mà, tỉnh táo
mà say mê trào dâng sau ngọn bút" [140, tr. 166].
So sánh với tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn kháng chiến chống Pháp, tiểu
thuyết chiến tranh thời chống Mỹ đã có những chuyển biến tích cực trên mọi
phương diện, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Các nhà nghiên cứu đã
chỉ ra không ít những hạn chế của văn xuôi viết về đề tài chiến tranh giai đoạn này.
Đó là cách nhìn nhận một chiều: thuận lợi nhiều hơn khó khăn, chiến thắng nhiều
hơn thất bại, thành tích nhiều hơn tổn thất… cách phản ánh hiện thực cuộc chiến, thể
hiện con người và cuộc sống còn giản đơn, xuôi chiều, phiến diện, công thức. Nhà
nghiên cứu Lê Thành Nghị cho rằng: "Nhìn chung, vẫn thiếu một số phận điển hình
tiêu biểu trọn vẹn của một cuộc đời cụ thể. Hình như cả một giai đoạn, tiểu thuyết
10
nặng về ký họa các hình ảnh, gương mặt, chân dung mà thiếu đào sâu một cách hệ
thống số phận, tính cách, lịch sử của nhân vật" [140, tr. 169, 170]. Với một đúc kết
mang tầm khái quát, tác giả Trần Đình Sử đã có nhận định chân xác hơn rằng: “Văn
học Việt Nam 40 năm qua chưa có nhiều thành công về mặt hình tượng tính cách.
Yếu tố cá tính chưa nổi bật, sự phân tích xã hội, phân tích tâm lý chưa được phát
triển đầy đặn. Còn ít có những hình tượng tầm cỡ cung cấp một mẫu mực thuyết
phục trọn vẹn về phương diện này” [141, tr. 93].
1.1.2. Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một trong những nhà văn lớn của
nền văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX. Trong hơn ba mươi năm cầm
bút, Nguyễn Minh Châu đã để lại cho đời 13 tập văn xuôi và 1 tập tiểu luận phê
bình. Có thể thấy: tác phẩm của Nguyễn Minh Châu không quá đồ sộ nhưng đa
dạng về thể loại, bao gồm cả truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút ký, phê
bình… Đánh giá về Nguyễn Minh Châu, các nhà phê bình, nghiên cứu từ trước đến
nay đều thừa nhận những tác phẩm của ông đã phản ánh được khí thế hào hùng và
phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu. Bên cạnh đó, khi đất
nước chuyển mình từ đời sống bất thường của ngày có giặc sang đời sống bình
thường, nhà văn không còn là người phát ngôn “nhân danh kinh nghiệm cộng
đồng” mà là “kinh nghiệm cá nhân”, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sâu sắc sự trăn
trở và khát vọng thức tỉnh lương tâm trong cảm hứng nhân văn mạnh mẽ. Đặc biệt,
sau 1986, Nguyễn Minh Châu đã hiện diện và được mệnh danh là một trong những
người tiên phong, “tinh anh”, “tài năng” và đầy bản lĩnh trong công cuộc đổi mới
nói chung và văn học nói riêng.
Tiểu thuyết Dấu chân người lính là một trong những tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Minh Châu và cũng là một trong những tác phẩm có vị trí quan trọng trong
tiểu thuyết thể tài chiến tranh của văn học cách mạng Việt Nam (1945- 1975). Tác
phẩm đã đưa ông lên vị trí những nhà văn hàng đầu của cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Dấu chân người lính viết về cuộc hành quân, bao vây và tiêu diệt địch ở vùng
đất Quảng Trị, kết quả của những lần đi theo bộ đội tham gia chiến đấu ở các mặt
11
trận Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào của Nguyễn Minh Châu với tư cách phóng viên
tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cuốn tiểu thuyết đã phản ánh hùng hồn và sinh động
khí thế sục sôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách
mạng qua vẻ đẹp người lính chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Dấu chân
người lính là sự kết hợp hài hoà đến mức lý tưởng chất sử thi và chất tiểu thuyết.
Ngay từ đầu, khi được trích đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và sau khi xuất
bản, tác phẩm này đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên thế hệ
những thập niên 70 thế kỷ XX. Theo nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ: “Cuốn tiểu
thuyết đã miêu tả, với một sức hấp dẫn, cuộc trường chinh kỳ lạ trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc” [70, tr. 50]. Dấu chân người lính đánh dấu một chặng
đường quan trọng trên hành trình văn chương của Nguyễn Minh Châu đồng thời
mở ra một thời kỳ phát triển của dòng văn học chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu ra đời vào năm 1972, giai đoạn
khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến, được mệnh danh là “bài ca người lính”, bản
anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng không nằm ngoài âm hưởng
đó. Có thể thấy chất sử thi và anh hùng ca vẫn là cảm hứng chủ đạo của tác phẩm
này. Người đọc như đắm mình trong cuộc chiến với khung cảnh rộng lớn và hào
hùng của hành trình “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của các binh đoàn chủ lực,
rồi những chiến dịch Khe Sanh - Tà Cơn long trời lở đất với những trận đánh ác liệt
trên vùng đất Quảng Trị- địa đầu giới tuyến. Tuy nhiên với Dấu chân người lính,
Nguyễn Minh Châu đã có sự kết hợp giữa thể tài sử thi (lịch sử dân tộc) và thể tài
tiểu thuyết (thế sự, đời tư) để tạo nên cuốn tiểu thuyết có khả năng bao quát một
hiện thực rộng lớn, thế nhưng cái quyết liệt, hùng tráng của cuộc chiến đấu vẫn
không át đi sắc thái trữ tình. Chất anh hùng ca và trữ tình, chất thơ và văn xuôi đan
chéo, chuyển hoá vào nhau đã dựng nên một cuộc sống chiến đấu đầy khốc liệt,
gian khổ nhưng vẫn không kém phần lãng mạn nên thơ. Và cũng nhờ đó bức tranh
hiện thực chiến tranh dường như đậm nét và sinh động hơn qua từng trang sách. Có
thể nói, với Dấu chân người lính, phong cách văn xuôi của Nguyễn Minh Châu
12
bước đầu được định hình, và điều quan trọng hơn đó là những dấu hiệu đổi mới
trong tác phẩm của ông đã manh nha cho một hướng tiếp cận đối với đề tài chiến
tranh trở thành một trong những sự lựa chọn của đa số những lớp nhà văn sau này.
Là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học cách mạng Việt
Nam (1945 – 1975), từ khi ra đời đến nay, tiểu thuyết Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà văn, nhà
nghiên cứu, nhà lý luận phê bình văn học và theo đó cũng đã có khá nhiều bài viết
và công trình nghiên cứu về tác phẩm này. Trung Dũng trong bài viết Đọc Dấu
chân người lính đã khẳng định đây là “một sáng tác văn học có tính chiến đấu phản
ánh một hiện thực cuộc sống còn đang nóng bỏng” [31]. Tiếp xúc với Dấu chân
người lính, Thiếu Mai nhận định: “Ở đây ta tiếp xúc với những người lính trẻ, ta
được tắm trong không khí hào hùng, lạc quan dệt bằng tinh thần dũng cảm và ý
thức hy sinh cao cả” [121]. Bên cạnh đó, hầu hết các bài viết và công trình nghiên
cứu đều khẳng định thành công nhất của Dấu chân người lính là việc đã xây dựng
được tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Theo Phan Cự Đệ, “cuốn tiểu
thuyết đã miêu tả, với một sức hấp dẫn, cuộc trường chinh kì lạ trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc” [70, tr. 57]. Song Thành cũng cho rằng, với Dấu chân
người lính, "ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã lột tả được vẻ đẹp tinh thần phong phú
và đằng sau những khuôn mặt phong trần ấy, anh đã làm ánh lên những nét hào hoa
không phải là không có sức hấp dẫn, vẫy gọi đối với bạn đọc thanh niên" [91, tr.
130]. Trần Trọng Đăng Đàn tiếp tục khẳng định: "Với Dấu chân người lính,
Nguyễn Minh Châu đã góp một phần quan trọng vào việc đẩy những hình tượng
người anh hùng cách mạng trong văn học lên gần với những điển hình mà công
chúng đang chờ đợi" [70, tr. 66]. Cùng chung quan điểm này, nhà phê bình Ngô
Thảo nhận định: Mặc dầu còn có những thiếu sót nhưng "thành công của Nguyễn
Minh Châu vẫn là cơ bản, vững vàng. Chính là trên những thành tựu đó mà với
Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào văn học chống Mĩ một
13
tác phẩm xuất sắc viết về người lính" [91, tr. 135].
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được coi là thành công, các nhà nghiên cứu
cũng đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót nhất định trong Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu. Hà Minh Đức cho rằng: "Thiên hướng khai thác của Nguyễn
Minh Châu là thuận chiều và một chiều. Tuy có những tổn thất hi sinh nhất định
nhưng bộ mặt chiến trường còn thiếu cái ngổn ngang quyết liệt, đau đớn (...). Bộ
mặt kẻ thù cũng chưa được khắc họa rõ nét và thường miêu tả từ xa" [70, tr. 64].
Theo Phan Cự Đệ: “tác phẩm của anh chưa có những tư tưởng chủ đề lớn quán
xuyến toàn bộ cốt truyện và nhân vật. Chất liệu tốt nhưng khả năng tổ chức, khái
quát hóa còn yếu” [70, tr. 57]. Cụ thể hơn, Vương Trí Nhàn chỉ rõ: "Ngay từ những
mặt này- mặt bút pháp, bố cục, nói chung là những yếu tố hình thức, Dấu chân
người lính đã có gì đó không đều tay, toàn bộ không trọn vẹn, bởi các yếu tố không
thật hòa hợp. Từng mảng đậm nhạt không đều. Không đều về hình khối bên ngoài
cũng như về cấu trúc bên trong. Nhân vật đứt nối tùy tiện. Một đôi chỗ, thấy những
"vết hàn" khá rõ" [91, tr. 143].
1.2. Tình hình nghiên cứu về hiện thực chiến tranh trong văn xuôi sau
1975 và hai tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh
1.2.1. Như đã trình bày ở trên, văn học Việt Nam sau 1975 đã chuyển sang
một diện mạo mới, đó là chặng đường của tiến trình hội nhập và đổi mới. Đời sống
văn học thời kỳ này ghi dấu sự bùng nổ đồng thời gặt hái được nhiều thành công cả
về lượng lẫn về chất của mảng văn xuôi và trở thành đối tượng được nhiều người
quan tâm nghiên cứu. Trong đó, một lần nữa mảng đề tài về chiến tranh của văn
xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng lại vẫn thu hút được sự quan tâm nhất. Đây
cũng là điều dễ lý giải bởi chiến tranh đã không còn mang ý nghĩa đề tài một cách
thuần túy mà nó đã ăn sâu vào đời sống con người và thực sự là một phần máu thịt
của dân tộc suốt một thời gian dài. Tác giả Đinh Xuân Dũng đã có nhận xét có sức
khái quát về vấn đề này: “Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam có độ dài
14
ngang với chính độ dài của lịch sử văn học dân tộc. Nếu tính từ truyền thuyết
Thánh Gióng, chúng ta có thể nghĩ rằng, đề tài chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ
quốc là nguồn chủ lực, là nguồn mạch phong phú nhất, không bao giờ vơi của văn
học Việt Nam từ khi hình thành đến nay” [36]. Khi đất nước có chiến tranh, cuộc
sống và con người sẽ chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh là một điều tất yếu.
Tuy nhiên, sau 1975, khi đất nước đã hoàn toàn độc lập, văn học sáng tạo trong hòa
bình, đời sống và con người trở về với quy luật bình thường của cuộc sống thì vấn
đề đặt ra ở đây là văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng thời hậu chiến viết về
cuộc chiến có gì thay đổi, nhận diện quá khứ có gì khác trước? Đây chính là sự
biểu thị rõ rệt nhất những đổi mới và trưởng thành trong quan niệm thẩm mỹ, tư
duy nghệ thuật cũng như những cách tân trong thi pháp thể loại của các nhà văn.
Hòa chung xu thế đó, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và người lính cũng không
nằm ngoài lộ trình vận động chung đó của văn xuôi sau 1975.
Sau khi đánh giá, phân tích những phương diện cơ bản, thể hiện quy luật
phát triển của văn học, phần lớn các ý kiến nghiên cứu phê bình đều khẳng định đã
xuất hiện một số thành tựu cách tân trong văn xuôi Việt Nam sau 1975. Hà Xuân
Trường nhận định: “có sự đổi mới thực sự trong văn học”, “dư luận rộng rãi tập
trung đánh giá mặt tích cực của văn học, chủ yếu là văn xuôi trong những năm gần
đây. Chính mặt tích cực đó đại diện cho sự đổi mới của văn học” (Trả lời PV Lễ
tưởng niệm và hội thảo về Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ Quân đội số 3/1994).
Theo nhà văn Nguyên Ngọc: “Tình hình sáng tác văn học hiện nay theo tôi có hai
mặt: một mặt, mặt chính là rất tốt. Sáng tác văn học của chúng ta đang hay dần lên.
Hình như sáng tác về đại thể đang chuyển lên một bình diện mới cao hơn, sâu sắc
hơn, văn học hơn, người hơn. Tính xã hội rất mạnh mẽ, nhiều khi đến gay gắt, tính
nhân văn ngày càng sâu, không dễ dãi” [127]. Nhà văn Nguyễn Quang Thân vô
cùng hứng khởi: “Chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh như bây giờ… chưa bao
giờ nhà văn được thành thật như bây giờ” [69]. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến
đã tỏ ra hào hứng khi đánh giá về văn học từ 1975 đến 1990: “Điều đặc biệt quan
15
trọng là trong mười lăm năm qua, kinh nghiệm văn học của người sáng tác cũng
như công chúng văn học là một sự kinh nghiệm bừng tỉnh, rõ ràng là có một sự
thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu văn học” [65]. Cũng vẫn là ý kiến của nhà văn
Nguyên Ngọc về đề tài chiến tranh, trong báo cáo Đôi nét về tình hình văn học và
công việc của những người cầm bút Việt Nam trong thời gian qua tại Hội nghị lần
thứ 19 những người lãnh đạo các hội nhà văn các nước xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội
ngày 11, 12/3/1983 đã nhấn mạnh rằng: “Có thể thấy, một đặc điểm rõ rệt ở những
tác phẩm viết về đề tài đó xuất hiện mấy năm gần đây, ấy là xu hướng dựng lên
những bức tranh toàn cảnh bao quát một không gian hay một thời điểm quan trọng
nhất của chiến tranh hoặc cũng có khi cả một thế hệ đã cống hiến phần chủ yếu
nhất của cuộc đời mình cho cuộc chiến đấu mất còn của dân tộc. Cũng có những
tác giả, ngược lại, không triển khai tác phẩm của mình theo chiều rộng mà chú
trọng khai thác theo chiều sâu, trong khi miêu tả tập trung một sự kiện thoáng trông
không có gì to tát, vang dội thì tìm hiểu sự xung đột và chuyển hóa của các giai cấp
và tầng lớp xã hội, trong những chấn động xã hội ấy diễn ra cuộc vật lộn căng
thẳng của con người về tư tưởng và đạo đức. Và dù là một bức tranh toàn cảnh hay
đột phá vào chỉ một điểm tập trung, thì ở đây nhà văn đều muốn cuộc chiến đấu đã
qua mà tìm lấy và nhắn nhủ một điều tâm huyết, một bài học nào đấy về đạo đức,
về trách nhiệm, về ý nghĩa sự sống và cống hiến của con người hôm nay… ” [126].
Ý kiến này của nhà văn Nguyên Ngọc đã cho thấy yêu cầu thay đổi là một lẽ tất
yếu trong mối tương quan giữa cách viết cũ và lối viết mới, và điều quan trọng hơn
đó là sự manh nha của xu hướng nhận thức lại hiện thực chiến tranh.
Đồng nhất quan điểm về một sự đổi mới cần thiết cho văn học Việt Nam viết
về đề tài chiến tranh cách mạng sau 1975, Phan Cự Đệ đã nhận định: “Bây giờ, sau
khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc, trong những điều kiện mới, các nhà
tiểu thuyết đang đặt vấn đề nâng cao chất lượng hiện thực của những tác phẩm viết
về chiến tranh” [42]. Cũng với vấn đề này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã đề
cập và diễn giải một cách chi tiết hơn khi cho rằng: “Trong nhiều sáng tác gần đây,
16
bên cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, đã thấy gia tăng sự chú ý của nhà
văn đến việc trình bày con người trong biến diễn lịch sử. Nhiều tác phẩm đã đặc
biệt chú ý xây dựng những hoàn cảnh quyết liệt, đẩy xung đột phức tạp, đưa nhân
vật của mình vào những tình huống hết sức khó khăn, trình bày những diễn biến và
số phận không đơn giản của con người” [107].
Là người trực tiếp cầm bút hoạt động trong lĩnh vực sáng tác, nhà văn Hữu
Mai đã không ngần ngại chỉ ra những hạn chế, tồn tại của văn học viết về chiến
tranh trước đây. Ông cho rằng người viết hôm nay không được phép né tránh hiện
thực, cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phản ánh khuôn mặt muôn hình muôn vẻ
của hiện thực chiến tranh. Trong bài Viết về đề tài chiến tranh giải phóng, nhà văn
Hữu Mai đã nhận định: “Bình diện viết về chiến tranh đã được mở rộng. Chúng ta
đã có điều kiện đi vào nhiều vấn đề trước đây do những yêu cầu của chiến thắng,
của giai đoạn lịch sử còn chưa đề cập tới”; “Một tầm nhìn mới của nhà văn là điều
kiện không thể thiếu để đào sâu những vấn đề triết học, đạo đức nâng cao khả năng
miêu tả biện chứng những mặt khác nhau của hiện thực chiến tranh: anh hùng và
hèn nhát, yêu thương và căm thù, trung thành và phản bội, ý thức trách nhiệm và
bản năng sợ chết của con người, chiến thắng và những hy sinh, mất mát, cái đẹp và
cái tàn phá, ác liệt của chiến tranh… ” [122]. Nguyễn Minh Châu- một nhà văn mà
tên tuổi đã gắn liền với những thành công ở thể loại tiểu thuyết sử thi trước 1975,
cũng là người vô cùng nhạy bén với xu hướng đổi mới cách tân và hết sức táo bạo
với những thể nghiệm văn xuôi hiện đại. Trong bài viết Viết về chiến tranh [21],
bên cạnh những nhận định về đặc điểm cơ bản của văn học 1945- 1975 trong việc
khai thác hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh, ông đồng thời chỉ ra
những hạn chế “một chiều, theo hướng tích cực, những mặt xấu được giấu đi trong
trang sách” của văn học viết về chiến tranh của giai đoạn này, Nguyễn Minh Châu
đã đặt ra một vấn đề hết sức nhân bản. Đó là vấn đề thể hiện “con người” trong văn
học, ông kêu gọi những góc nhìn mới, chân thực hơn về chiến tranh, khai thác đề
tài chiến tranh dưới góc độ chiều sâu nhân văn, nhân bản. Có thể nói, Nguyễn Minh
17
Châu- “người mở đường tinh anh và tài năng”, là một trong những nhà văn có công
đầu trong thời điểm thay đổi mang tính bước ngoặt khi đặt ra vấn đề bức thiết, đầy
tính thời sự của nhu cầu đổi mới. Bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn
văn nghệ minh họa [20] là đỉnh điểm của sự bức xúc, gay gắt trong luận đề đổi mới
của Nguyễn Minh Châu với tư cách một nhà lý luận phê bình. Sự trở về nguyên lý:
Văn học là nhân học là nhận định của nhà văn Hồ Phương khi nhận xét về quá trình
vận động của văn học viết về chiến tranh sau 1975. Ông cho rằng văn học sau 1975
chủ yếu đi sâu khám phá và biểu hiện tâm hồn, tính cách, sức sống của con người
qua những số phận rất khác nhau trong muôn vàn sự kiện xảy ra trong cuộc sống.
“Để đi sâu vào số phận con người, không ít tác giả đã đi sâu viết về các bi kịch cá
nhân nằm trong bi kịch chung của dân tộc trong cuộc chiến. Qua những bi kịch ấy,
tính cách và bản ngã con người đã được bộc lộ rõ”, “càng đi sâu vào con người, văn
học ta càng gần tới bản chất cuộc sống, do đó tính nhân văn cũng cao hơn” [70].
Nhà văn Xuân Thiều trong bài viết Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách
mạng [176] đã phân tích tương đối bao quát và sâu sắc những vấn đề của văn học
viết về đề tài chiến tranh trong tương quan với văn học trước và sau 1975. Ông
nhận định: “Nhân dân ta đã trải qua nửa thế kỷ chiến tranh, nên sự biến động xã hội
sẽ vô cùng lớn lao. Nó chi phối số phận từng con người, cả trong chiến tranh và
thời hậu chiến. Nó vẫn là một vấn đề lớn của con người Việt Nam không chỉ trong
qua khứ mà còn cả trong hiện tại và cả tương lai nữa”. Nhà văn Xuân Thiều cũng
đã vô cùng sâu sắc khi nhận xét về những tác phẩm của những tác giả đang cháy
hết mình cho công cuộc đổi mới: “Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã
khác trước kia, ngòi bút của nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng của hiện thực chiến
tranh, đào sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ đẹp
khác nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như vốn có của nó”.
Một số vấn đề về sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của văn xuôi sau 1975
đã được đề cập cụ thể hơn trong một số bài viết của các nhà nghiên cứu: Bích Thu,
Vũ Tuấn Anh, Tôn Phương Lan… đã phân tích sự vận động đổi mới theo từng
18
chặng và cho rằng văn học từ sau 1975 có thể chia thành hai giai đoạn; Từ 1975
đến 1986 văn học vẫn phát triển theo quán tính cũ, đầu những năm 80 văn học đã
có một số tín hiệu đổi mới nhưng phải từ 1986 trở đi văn học mới khởi sắc và đổi
mới ở nhiều lĩnh vực. Do có sự chuyển mình từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu
thuyết; đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề
tài thế sự- đời tư. Đó là quan điểm nhất quán được Bích Thu khẳng định trong bài
viết của mình. Ở bài Văn học đổi mới và phát triển [2], Vũ Tuấn Anh đã đưa ra
nhận định tính chất dân chủ hóa như một xu hướng vận động của văn học sau 1975
và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và chủ nghĩa yêu nước là những thước
đo cơ bản nhằm đánh giá văn học suốt một thời gian dài được vận dụng một cách
uyển chuyển và mở rộng hơn, chủ nghĩa nhân văn cũng tạo ra một động lực mạnh
mẽ thúc đẩy những thể nghiệm nghệ thuật theo khuynh hướng dân chủ hóa. Ở một
tầng bậc khác, Tôn Phương Lan đã khái quát những vấn đề cần khai thác trong xu
thế mới viết về chiến tranh. Trong văn học trước 1975, hiện thực chiến tranh được
khắc họa chưa thực sự là hiện thực theo đúng nghĩa của nó, chiến tranh được nhìn
nhận đơn giản, thuần túy một chiều, một phía và mang đậm hào quang chiến thắng
mà không hề phản ánh hết những hy sinh mất mát, những khó khăn quyết liệt,
những sai lầm, vấp váp. Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương
được giải, Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trong
những năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít nói về
những đau thương, mất mát, hy sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con
người mà tập trung quan tâm đến số phận đất nước. Sau chiến tranh, văn học viết
về đề tài này mới có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn,
ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như
trước sự cám dỗ của cuộc sống đời thường” [92].
Khẳng định văn học sau 1975 đã, đang bước vào một chặng đường mới với
nhiều thành tựu đáng ghi nhận và sẽ còn hứa hẹn rất nhiều những sự đóng góp,
khám phá mới là quan điểm chung của rất nhiều nhà lý luận phê bình. Nhận xét về
19
giai đoạn văn học 1975- 1985, Hà Xuân Trường đã khẳng định: “Nền văn học của
chúng ta đang vươn tới. Mười năm qua là mười năm thử thách đối với bản chất xã
hội chủ nghĩa của nền văn học nước ta”. Những tác phẩm văn học bước đầu manh
nha cho một dòng văn học đổi mới chính là minh chứng cho sự vượt qua “mười
năm thử thách” ấy. Phan Cự Đệ tin tưởng: “Văn xuôi chúng ta đang bước vào một
chặng đường mới với những thành tựu đáng phấn khởi. Nó đang tập trung giải
quyết hàng loạt vấn đề mới của chủ nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của
thời kỳ quá độ, đồng thời trang trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến tranh vĩ
đại của dân tộc. Văn xuôi cũng đang có những tìm tòi, khám phá đáng kể, đáng
khích lệ những đóng góp mới về mặt thể loại và phong cách thể hiện”, (Mấy vấn đề
lí luận văn xuôi hiện nay- Tạp chí Văn học, số 5-1986). Trong Mấy ghi nhận về sự
đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ
qua, Trần Đình Sử đã tổng kết: “Nhìn chung có thể khẳng định được là nền văn học
nước ta thập kỉ vừa qua đánh dấu sự biến đổi đáng kể của tư duy văn học và đang ở
vào thời kỳ mới, thời kỳ hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tượng con
người nhiều mặt trong tất cả chiều sâu phong phú của nó”. Đinh Xuân Dũng đã có
những phân tích mang tính lý luận, khái quát khá toàn diện và sâu sắc sự thay đổi
trong cảm nhận về chiến tranh của các nhà văn ở một tâm thế mới: “Khuynh hướng
chính của sự phát triển, mặc dầu trải qua không ít khó khăn, nhiều nhà văn trong số
những người nhiều năm viết về chiến tranh trong chiến tranh, đã bứt lên, tự đổi mới
chính mình, đặc biệt các nhà văn hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra
đời những tác phẩm thực sự đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và minh chứng cho
một nhu cầu xã hội không thể né tránh của mảng văn học viết về chiến tranh sau
chiến tranh. Đó là sự đào sâu mới, đó là khả năng phân tích bình giá và mổ xẻ hiện
thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệ cực kỳ phức tạp giữa
số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đó là năng lực khám phá và đặt ra
những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sau chiến tranh do tác động dai
20
dẳng của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và toàn xã hội” [33].
1.2.2. Nguyễn Trọng Oánh (1929 – 1993) là một trong những cây bút trưởng
thành và gắn liền sự nghiệp sáng tác văn học của mình với đời sống quân ngũ và
chiến trường. Ông mở đầu hành trình văn chương bằng thể loại thơ tuy không nhiều
và chủ yếu là sáng tác trong thời kỳ trước 1975. Đóng góp lớn nhất của Nguyễn
Trọng Oánh là bộ tiểu thuyết 2 tập Đất trắng (Tập 1, 1979; Tập 2, 1984). Tác phẩm
là sự khắc hoạ hiện thực chiến trường vùng ven Sài Gòn sau cuộc tổng tiến công và
nổi dậy sau tết Mậu Thân 1968, thời điểm khốc liệt, cam go, đầy thử thách của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 16 với nhiệm vụ tiếp tục tử thủ, chiến đấu
“một mất một còn” với kẻ thù quyết giành lại địa bàn, giành lại nhân dân dù chịu
nhiều tổn thất, hy sinh. Tác phẩm đã nhận Giải thưởng của Bộ Quốc phòng và Hội
Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Có thể khẳng định, với Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh đã khai mở cho một sự
đổi mới cách nhìn, cách tiếp cận và phản ánh hiện thực chiến tranh. Bên cạnh việc
tái tạo bộ mặt chiến trường qua từng trận đối đầu khốc liệt, Nguyễn Trọng Oánh
còn đi sâu khai thác “cuộc chiến” trong lòng mỗi con người tham chiến ở tầng sâu
nhân cách. Bộ tiểu thuyết đã lột tả trung thực, đa chiều và toàn diện hiện thực cuộc
chiến. Qua Đất trắng, hiện thực chiến tranh đã được tái dựng, hiện hữu với tất cả sự
tàn sát dữ dội, sự đau thương chất ngất, lòng dũng cảm kiên cường và cả sự phản
bội. Đó có thể xem là sự lựa chọn can đảm trong lối viết của Nguyễn Trọng Oánh,
đưa tác phẩm trở thành một sự kiện của mảng văn học viết về chiến tranh, thậm chí
là một “nghi án” trong đời sống văn học đương thời và đỉnh điểm là Đất trắng bị
thu hồi ngay chính trên quê hương tác giả. Tuy nhiên, sự vinh danh, vị thế Đất
trắng trong dòng chảy của văn học chiến tranh cách mạng và trong ký ức của cộng
đồng tiếp nhận đã nói lên tất cả giá trị của bộ tiểu thuyết để đời cho cả một sự
nghiệp của Nguyễn Trọng Oánh.
Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh xuất hiện năm 1979- nghĩa là chỉ bốn năm
sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng- dường như đã gợi mở những suy nghĩ mới
21
cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh giai đoạn này. Hiện thực chiến tranh trong Đất
trắng được tái hiện khá chân thực và đầy đủ từ những khó khăn gian khổ cho đến
những thương vong, mất mát hy sinh, thậm chí là cả sự phản bội… Người đọc cảm
nhận rõ nét hơn bao giờ hết sự dữ dội của cuộc chiến đấu, sự thiệt hại nặng nề của
quân đội ta và đặc biệt là cái giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng. Đất
trắng vượt lên trên tất cả những tác phẩm viết về chiến tranh cùng thời bởi cái nền
hiện thực cực kỳ nghiệt ngã ấy.
Nhà phê bình Đặng Quốc Nhật đã nhận xét về Đất trắng: “Đất trắng gợi ra
cho chúng ta những suy nghĩ mới cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh lúc này. Ở
đây người đọc thấy được sự dữ dội của cuộc chiến đấu giữa ta và địch, những thiệt
hại nặng nề của ta, những vùng đất trắng, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái giá
của chiến thắng và chiến công cuối cùng”. Nhà nghiên cứu Trần Duy Thanh ghi
nhận: “Đất trắng nằm trong số tiểu thuyết viết về chiến tranh xuất hiện sau chiến
tranh đã có chặng đường dài một thập kỷ. Một thử thách với tác giả cũng như nhiều
cây bút khác là: yêu cầu của bạn đọc khắt khe hơn; không thể miêu tả chiến tranh
một cách dễ dãi, toàn những chuyện ngọt ngào, suôn sẻ. Và ai cũng thấy là tiểu
thuyết với đề tài chiến tranh sau 1975 đã có những khởi sắc”, [165].
Đánh giá về Đất trắng, Ngô Văn Phú đã coi đây là bộ tiểu thuyết viết về chủ
đề chiến tranh với những biểu hiện táo bạo và mới mẻ: “Đất trắng đã mở đầu cho
lối viết mới, suy nghĩ mới cho tiểu thuyết chiến tranh, sau ngày toàn thắng. Hiện
thực chiến tranh được đề cập ở mức độ quyết liệt, đến một thời điểm mà cuộc chiến
đấu chính nghĩa của ta gặp khó khăn không tưởng tượng nổi. và chính trong một
không gian, thời gian cụ thể ấy, phẩm chất của con người mới được tôi luyện, cái
chân cái giả mới bộc lộ rõ ràng” [153, tr. 19]. Và có lẽ những tâm sự của nhà văn
Nguyễn Trọng Oánh về tiểu thuyết Đất trắng đã nói lên tất cả: “Tôi nói chuyện với
người hôm nay bằng câu chuyện của hôm qua… Nói về quá khứ một cách nghiêm
túc và trung thực thì không sợ không có điều gì để nói với hôm nay”.
Vẫn ở mảng đề tài chiến tranh, văn học Việt Nam sau 1986 đã có những
22
bước đột phá ấn tượng. Đón nhận luồng không khí đổi mới của đất nước và thời đại
các nhà văn trong giai đoạn này đã có những góc nhìn, góc nghĩ, và phương cách
thể hiện vừa mang đậm dấu ấn cá nhân, vừa chất chứa tính nhân văn sâu sắc. Với
họ đề tài chiến tranh không chỉ là sự giải tỏa của ký ức trong quá khứ, nó phải gắn
liền với cuộc sống muôn mặt để hướng tới đối thoại và đồng cảm với những người
cùng thời. Sự cách tân đó là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của văn học cũng
như nhu cầu đổi mới, khát vọng dân chủ trong xã hội, và có thể thấy rằng, một
hướng tiếp cận mới về hiện thực chiến tranh đã được hình thành. Chiến tranh đã
được nhìn sâu từ bản chất, hiện thực chiến tranh được khắc họa từ số phận cá nhân,
chiến tranh được tái dựng trong bối cảnh, yêu cầu của cuộc sống thời bình Và có lẽ
sẽ không ai có thể phủ nhận rằng tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là
đỉnh cao của dòng văn học viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới.
Bảo Ninh (1952) được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn
học Việt Nam thời kỳ đổi mới tuy bước vào nghiệp văn khá muộn và trầm lắng. Đã
từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên tại mặt trận B3, sau khi rời
quân ngũ, Bảo Ninh đã tiếp tục học tập và làm một công việc ít liên quan đến văn
chương. Tuy nhiên, như một sắp đặt của số phận, từ 1984 đến 1986, Bảo Ninh theo
học trường viết văn Nguyễn Du và bắt đầu sự nghiệp bằng những truyện ngắn. Tuy
được đánh giá là một trong những cây bút “có duyên với truyện ngắn”, nhưng phải
sau sự ra đời của Nỗi buồn chiến tranh - cuốn tiểu thuyết đầu tay và duy nhất của
Bảo Ninh tính đến thời điểm hôm nay - tên tuổi của ông mới thực sự gây chú ý,
được dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm.
Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm có số phận khác thường. Trong lần
xuất bản đầu tiên năm 1990, cuốn sách ra mắt bạn đọc với tên gọi Thân phận của
tình yêu, một cái tên đã thu hẹp diện phản ánh và làm giảm nhiều ý nghĩa đặt ra từ
tác phẩm. Được biết tiêu đề này do Nhà xuất bản Hội Nhà văn đặt. Một năm sau
đó, tác phẩm được tái bản với đúng tên gọi ban đầu của tác giả: Nỗi buồn chiến
tranh. Năm 1991, cuốn tiểu thuyết được trao tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt
23
Nam, được đông đảo bạn đọc nồng nhiệt đón nhận và nhanh chóng trở thành một
hiện tượng của văn học thời kỳ đổi mới, rộng ra là văn học Việt Nam hiện đại nửa
cuối thế kỷ XX. Nỗi buồn chiến tranh được đánh giá là một tiểu thuyết có lối viết
mới và khác so với những tác phẩm cùng thời. Đó là sự khai thác chiến tranh ở tận
cùng bi thảm, tận cùng bất tuyệt. Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh không phải là
một bài ca chiến trận hào hùng mà là khám phá số phận con người và nỗi niềm cá
nhân. Chiến tranh không chỉ có sự khốc liệt nơi chiến trường mà còn là những ám
ảnh nặng nề, những nỗi đau không thể xoa dịu, kết tụ, trở thành “chấn thương tinh
thần”, “hội chứng chiến tranh” ở người lính thời hậu chiến - những con người vừa
trở về từ chiến thắng vinh quang. Nhà văn Nguyên Ngọc đã khẳng định: “Xét về
mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới” [138]. Bên cạnh đó,
Nỗi buồn chiến tranh cũng tạo nên làn sóng mạnh từ dư luận quốc tế. The
Guardian, một tờ báo Anh đã nhận định: “Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt
xuống. Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần
nên đọc cuốn sách này. Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được. Nó
quá hấp dẫn để xứng được thế” [14]. Dennis Mansker, thành viên của hội cựu binh
vì hoà bình và hội cựu binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn sách Abad
Attitudu: A Novel from the Vietnam War đã hết sức kinh ngạc khi được đọc Nỗi
buồn chiến tranh: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Đã
đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người
lính ở mọi bên xung đột và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề
“binh nghiệp”” [131]. Có thể khẳng định, cùng với những cách tân đồng bộ, mạnh
mẽ về nội dung cảm hứng, hình thức và thi pháp, qua Nỗi buồn chiến tranh Bảo
Ninh đã đưa văn học Việt Nam hội nhập với không khí phát triển theo chiều hướng
hiện đại và hậu hiện đại của văn học toàn cầu.
Với Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh đã xác lập một cách nhìn mới, một
phương cách thể hiện mới về hiện thực chiến tranh. Hiện thực chiến tranh trong Nỗi
buồn chiến tranh được biểu hiện qua những hồi ức bị cắt vụn, qua rất nhiều những
24
cái chết, qua sự tổn hại của nhân tính, qua một mối tình đau khổ với những vết
thương mãi mãi không lành, qua sự tự thú, sám hối… Tất cả đã gợi nên sức mạnh
hủy diệt của chiến tranh. Đó thực sự là một cuốn tiểu thuyết của chiến tranh, về
chiến tranh, vừa là “nỗi thống khổ đớn đau”, vừa là đỉnh “vinh quang hạnh phúc”
của cả một dân tộc.
Cùng với Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh thực sự trở thành một “điểm nhấn”, một hiện tượng đặc biệt thu hút sự
quan tâm của đông đảo người viết, kể cả giới sáng tác lẫn nghiên cứu phê bình.
Đánh giá về Nỗi buồn chiến tranh nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Đây là một
cuốn sách nghiền ngẫm về hiện thực- hiện thực chiến tranh và hậu chiến” [138, tr.
6- 14]. Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại [67] đã viết: “Trong văn học mấy
chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu (tên gọi khác của Nỗi buồn chiến
tranh) là cuốn tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương
nhất” và ông cho rằng “Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc
chiến tranh kéo dài ba mươi lăm năm”.
Nét đổi mới đặc sắc của Nỗi buồn chiến tranh không chỉ bộc lộ ở chiều sâu
tư tưởng tư duy nghệ thuật mà còn là những cách tân theo chiều hướng hiện đại,
hậu hiện đại của thi pháp thể loại. Đó là nỗi đau, nỗi mất mát, nỗi ám ảnh kinh
hoàng của người lính về sự tàn khốc của chiến tranh. Vượt lên trên nỗi đau thể xác
là nỗi đau tinh thần, và gọi đúng tên của nó là “hội chứng chiến tranh”. Về vấn đề
này Trần Đình Sử cho rằng: “Văn học nói nhiều đến tính chính nghĩa, tính anh
hùng, tính cách mạng nhưng chưa có gì đáng kể về tính tàn bạo, tính hủy diệt, bi
thảm của nó, những tính chất không chỉ thể hiện ở cái chết nơi chiến trận, mà còn
mở rộng thành cái chết nơi tâm hồn…” [138, tr. 6- 14]. Nguyễn Đăng Điệp lại nhìn
thấy sự mới mẻ trong cách viết và tiếp cận hiện thực của Bảo Ninh qua kỹ thuật
dòng ý thức: "Cho dù viết nhiều về chiến tranh nhưng xét đến cùng tinh huyết của
Bảo Ninh kết tụ trong cuốn tiểu thuyết để đời của ông: Thân phận của tình yêu.
Toàn bộ tác phẩm là niềm khắc khoải không nguôi của một người lính bước ra từ
25
cuộc chiến khắc nghiệt ấy. Vì thế, nó trung thực đến tận đáy..." [164- tr. 399].
Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, "Nỗi buồn chiến tranh không phải chỉ là một tác
phẩm viết về chiến tranh. Bản thân tiểu thuyết đã là một cuộc chiến tranh, một
thảm họa chiến tranh, một thế giới chiến tranh thu nhỏ trong bi kịch vĩ đại của một
con người" [159- tr. 63]. Còn Nguyễn Trường Lịch thì khẳng định: "Tác phẩm
Thân phận tình yêu (1990) của Bảo Ninh mở ra một bước ngoặt đáng kể trên quá
trình phát triển tiểu thuyết đương đại" [105]...
Với Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã xây dựng một không gian đa chiều
về hiện thực chiến tranh, điều mà các tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đó chưa
từng làm được. Hiện thực chiến tranh trong Nỗi buồn chiến tranh được khắc họa
qua tâm lý của nhân vật chứ không phải theo phương thức phản ánh miêu tả thông
thường của trật tự tuyến tính theo dòng cốt truyện. Phạm Xuân Thạch trong bài viết
Nỗi buồn chiến tranh viết về thời chiến tranh thời hậu chiến- từ chủ nghĩa anh
hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, sau khi tìm hiểu thế giới nhân vật, biểu tượng
và ý nghĩa của nó đã khái quát cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường
viết về chiến tranh trong thời hậu chiến: “Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã
xác lập một cái nhìn mới về hiện thực lịch sử- hiện thực chiến tranh, mới trong sự
đối chiếu với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong chiến tranh và trước 1986.
Cái mới ở đây được xác định không chỉ ở việc anh đưa vào trong tác phẩm của
mình những chất liệu hiện thực chưa từng có trong văn học chiến tranh (dù điều
này cũng có giá trị thẩm mỹ riêng) mà trước hết thể hiện ở việc anh đã tìm đến một
phương pháp tiếp cận hiện thực khác với phương pháp điển hình hóa trong văn học
hiện thực truyền thống ”. “Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy những khuynh hướng nghệ
thuật của những nhà văn trước đây đến một chiều kích mới. Anh quyết liệt từ bỏ
hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống (theo kiểu tiểu thuyết- kí sự như Đất
trắng) để theo đuổi tiểu thuyết tâm lý” [166].
Ra đời sau Đất trắng mười năm, Nỗi buồn chiến tranh đã đẩy những tín hiệu
mới mẻ trong quan niệm mới, góc nhìn mới về hiện thực chiến tranh trong Đất
26
trắng đến gần và trở nên rõ ràng hơn. Đó là một bước chuyển mình mạnh mẽ, đánh
dấu một thái độ, một cách nhìn công bằng và sòng phẳng về cuộc chiến. Tuy nhiên,
bên cạnh những ý kiến đánh giá cao cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh trên nhiều
phương diện, xem nó như một tác phẩm đỉnh cao, một thành tựu xuất sắc của văn
học thời kỳ đổi mới, cũng đã xuất hiện những phê phán, lên án gay gắt, phủ nhận
giá trị của Nỗi buồn chiến tranh trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ
thuật. Đỗ Văn Khang trong bài viết Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình
yêu, (Văn nghệ số 43- 1991) đã kết luận "thật đáng tiếc lẽ ra không nên in vội Thân
phận của tình yêu". Đức Trung trong bài viết Chiến tranh nào? Nỗi buồn nào?,
(Văn nghệ số 43- 1991) coi Nỗi buồn chiến tranh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch
hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội”. Trần Duy Châu trong bài viết của mình nhấn
mạnh: "Bảo Ninh đã tạo nên hình ảnh đảo ngược của hiện thực, chuyển đổi các giá
trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của dân tộc thành tiếng hát bi
thương ai điếu cho những kẻ lạc loài" [23].
Tựu trung, những công trình, ý kiến nghiên cứu, đánh giá về văn xuôi nói
chung, tiểu thuyết nói riêng viết về đề tài chiến tranh trước và sau 1975 cũng như
về vấn đề phản ánh hiện thực cuộc chiến trong ba tiểu thuyết Dấu chân người lính
(Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh) là khá đa dạng, phong phú, xét ở một góc độ nào đó còn có phần bề bộn. Vì
vậy trong khuôn khổ luận án, chúng tôi không hi vọng và cũng không thể có một
cái nhìn bao quát mà chỉ tập trung vào những công trình, ý kiến tiêu biểu, liên quan
mật thiết và phục vụ cho hướng triển khai đề tài và những vấn đề thuộc nội dung
luận án. Theo chúng tôi, những vấn đề có thể tóm lược khái quát như sau:
Thứ nhất, nhận định về văn xuôi thời kỳ chống Mỹ, hầu hết các ý kiến đều
khẳng định, mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định tuy nhiên tiểu thuyết chiến
tranh thời kỳ này (và mở rộng ra cả giai đoạn 1945 – 1975) đã có những chuyển
biến tích cực trên mọi phương diện, thực sự là tấm gương phản chiếu những
phương diện cơ bản nhất của đời sống và tâm hồn dân tộc; thể hiện được lẽ sống,
27
khát vọng lớn “không có gì quý hơn độc lập, tự do” của nhân dân ta; đồng thời có
tác dụng cổ vũ, động viên, xây dựng tư tưởng, bồi đắp tâm hồn, góp phần hoàn
thiện và phát triển nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam trong thời đại chiến
tranh cách mạng. Các ý kiến cũng thống nhất cho rằng những hạn chế của tiểu
thuyết chiến tranh thời kỳ này là do sự chế định của điều kiện lịch sử, của trình
độ nhận thức thời đại. Bên cạnh đó còn phải kể đến những hạn chế trong tài
năng, bản lĩnh của người sáng tác và không loại trừ những luồng ảnh hưởng tiêu
cực của khuynh hướng xã hội học du nhập từ bên ngoài. Đi sâu vào những vấn đề
cụ thể, các ý kiến nhận định rằng: nhiều tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này phản
ánh hiện thực chiến tranh và xây dựng hình tượng người lính còn giản đơn, xuôi
chiều, ít nhiều còn mang tính minh hoạ công thức do phải thực hiện nhiệm vụ tuyên
truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu. Nói chung, tiểu thuyết chiến tranh chặng đường
này chỉ tập trung phản ánh những “điểm sáng” của con người và hiện thực, phần
nào đó còn tô hồng hiện thực, còn những “chỗ tối”, những góc khuất chưa được đề
cập đến hoặc có phần né tránh. Nâng lên tầm khái quát, các ý kiến đều kết luận đây
cũng là những nhược điểm chung của văn học cách mạng Việt Nam (1945 – 1975).
Thứ hai, với văn học sau 1975, hầu hết các ý kiến nhận định đều thống nhất,
văn xuôi sau 1975 đã có sự chuyển biến trên nhiều phương diện, xuất phát từ nhu
cầu đổi mới trước những đòi hỏi cấp bách của đời sống xã hội, từ chủ thể sáng tạo
và cả phía khuynh hướng tiếp nhận. Mặc dù chưa có sự thay đổi một cách rõ rệt,
nhưng đã xuất hiện những tác phẩm viết theo xu hướng nhận chân “phản tư” với sự
đổi mới cách tiếp cận, khai thác hiện thực. Đó là những yếu tố quan trọng, thể hiện
sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật và là dấu hiệu cho một cuộc cách tân văn xuôi-
tiểu thuyết nói riêng và của văn học nói chung. Cụ thể hơn, các ý kiến đã cho rằng
tiểu thuyết sau 1975 có diện mạo mới, thể hiện đúng bản chất của thể loại nhờ
những thay đổi trong cảm hứng sang tác mà quan trọng nhất đó là sự dịch chuyển
từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư.
Thứ ba, khi đề cập đến sự vận động và đổi mới của văn xuôi sau 1975, hầu
28
hết các ý kiến đều lấy những sáng tác tiêu biểu về đề tài chiến tranh thời kỳ này làm
cơ sở, cứ liệu và coi là những hiện tượng nổi bật thể hiện những nỗ lực cách tân của
văn xuôi Việt Nam thời hậu chiến. Các ý kiến đã khẳng định, hiện thực chiến tranh
trong tiểu thuyết sau 1975 đã thể hiện những đặc điểm tư duy nghệ thuật và đặc
trưng thẩm mỹ mới. Chiến tranh và người lính đã bước đầu được đặt trong một hệ
quy chiếu khác, với những tiêu chí khác, theo xu hướng dân chủ hóa, gắn với ý
thức con người cá nhân, cá thể. Chiến tranh được phản ánh dưới góc nhìn đa chiều,
đa hướng. Chính vì thế, giá trị nhân văn, nhân bản được bộc lộ chân thực, sâu sắc
hơn, từ đó hướng con người đến một cách nhìn về thời cuộc nhân ái và toàn diện
hơn.
Thứ tư, các ý kiến đều thống nhất rằng, với việc nhà văn hướng ngòi bút của
mình vào đời sống nội tâm, bộc lộ diện mạo tinh thần con người, do vậy, hiện thực
chiến tranh và đời sống hậu chiến đã được mở rộng, đào sâu hơn. Và cũng qua đó,
sự khốc liệt của chiến tranh cũng như những vấn đề đặt ra hết sức nóng bỏng của
cuộc sống hiện tại đã được nhà văn phơi bày một cách đầy đủ và toàn vẹn.
Có thể khẳng định rằng, văn xuôi viết về đề tài chiến tranh nói chung và ba
tiểu thuyết Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh - ba tác phẩm
tiêu biểu cho ba chặng đường về đề tài chiến tranh cách mạng của văn học Việt
Nam trước và sau 1975- nói riêng, đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên
cứu thể hiện qua nhiều công trình và những bài báo khoa học. Tuy nhiên, theo sự
nhìn nhận, quan sát và định vị của chúng tôi, thực tế cho đến nay vẫn chưa có một
công trình hay bài viết nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ
thống vấn đề phản ánh hiện thực chiến tranh qua sự kết nối ba tiểu thuyết này. Đặc
biệt là đi vào phân tích, so sánh nhằm đưa ra những kiến giải về sự khác biệt trong
việc tiếp cận, di chuyển và phản ánh hiện thực chiến tranh của từng tác giả, để qua
đó khẳng định sự thay đổi, cách tân trong cảm hứng, thi pháp và phương thức thể
hiện của các tác giả qua từng giai đoạn là tất yếu, là phù hợp với quy luật vận động,
đổi mới và phát triển của văn học. Đây chính là vấn đề trọng tâm của nội dung luận
29
án mà chúng tôi sẽ tập trung giải quyết.
CHƢƠNG 2:
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TỪ 1945 ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XX
Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc.
Cùng với khí thế “long trời lở đất” của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để
khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà lập nên nền chuyên chính vô sản, đất
nước vừa thoát khỏi vòng nô lệ đó đã phải lâm vào một cuộc chiến kéo dài 30 năm
ngay sau những ngày lập quốc. Từ 1945 đến 1975, dân tộc Việt Nam nhỏ bé phải
gồng hết sức mình để chiến đấu chống trả hai “đế quốc to”, hùng mạnh nhất thế
giới là Pháp và Mỹ. Để đến được ngày kết thúc chiến tranh thống nhất hai miền
Nam Bắc, 30- 4- 1975, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nỗi đau chia cắt, phải trả
giá bằng sinh mệnh hàng triệu người vĩnh viễn nằm xuống, hàng triệu người bị
thương tật, hàng vạn người bị nhiễm chất độc da cam và những di chứng man rợ
của chiến tranh. Những con số biết nói đó cho thấy, cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc
chiến có thời gian dài nhất, khốc liệt và phức tạp nhất. Song sự mất mát và “nỗi
buồn chiến tranh” không chỉ diễn ra trên dải đất hình chữ S đau thương mà còn
vượt nửa vòng trái đất đến với nước Mỹ xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương. Với
gần 7 tỷ USD ném vào cuộc chiến, 58.000 binh sĩ Mỹ tử trận ở chiến trường Việt
Nam, 1.300 người mất tích, hơn 300 nghìn thương binh, tàn phế và hàng chục vạn
quân nhân, cố vấn Mỹ bị “dính” chất độc da cam, đặc biệt là hàng vạn người lính
trở về từ Việt Nam bị mắc chứng rối loạn tâm thần, cụ thể là căn bệnh “Hội chứng
Việt Nam”, …, tiền bạc, bản chất hiếu chiến, danh dự và niềm kiêu hãnh của một
siêu cường quốc đã bị phơi bày, trắng tay, sụp đổ hoàn toàn. Có nghĩa là những
chấn thương dữ dội của chiến tranh đã được chia đều cho hai phía: người chiến đấu
30
để bảo vệ tổ quốc và kẻ xâm lược.
Thực tế lịch sử đó đã đổ bóng xuống đời sống văn học nghệ thuật, thẩm thấu
và chi phối đến tiến trình vận động của hệ hình văn chương. Từ 1945 đến 1975, nền
văn học Việt Nam chính thức mang danh nền văn học chiến tranh cách mạng, hình
thành và phát triển dưới sự tác động đầy quyền năng của cơ chế phương pháp sáng
tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn nghệ sĩ – những chủ thể cầm bút – là chiến sĩ
trên mặt trận văn hoá văn nghệ.
Trong suốt ba mươi năm ấy, chiến tranh đã chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽ
đến mọi mặt của đời sống đất nước. Cả dân tộc Việt Nam bị đặt trước những tình
huống, thử thách đặc biệt. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đó, “không một ai
trên đất nước này có thể tuyên bố mình đứng ngoài lịch sử, kể cả người đó là một
nữ tu sĩ trong nhà tu kín hay một người Mông trên núi cao. Tất cả mọi người đều bị
cuốn vào dòng thác lớn của lịch sử” [44, tr. 200]. Và trong bối cảnh người sáng tác
không bị đặt trước những lựa chọn, không có hiện tượng phân luồng trung tâm –
ngoại vi, nền văn hóa văn nghệ Việt Nam mang đậm dấu ấn chiến tranh cũng là
điều tất yếu. Phát triển trong hoàn ảnh đặc biệt như vậy, văn học hướng đến khai
thác, phản ánh vấn đề trung tâm của thời đại là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của
dân tộc cũng là điều dễ hiểu. Bước ra khỏi thời kỳ 1930-1945 như là đỉnh cao của
bước ngoặt hiện đại hoá với sự hoà trộn, tích hợp Đông – Tây, những phẩm tính
truyền thống và hiện đại, diện mạo văn học 1945-1975 đã được thay thế căn bản.
Chiến tranh trở thành đề tài chính, lấn át và chi phối các đề tài khác của văn học.
Với sứ mệnh lớn lao, với tư cách là “phát ngôn viên của thời đại”, trong suốt thời
kỳ kháng chiến, văn học luôn là “một mặt trận” quan trọng trong việc tuyên truyền,
cổ vũ, khích lệ chiến đấu, khẳng định cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc, ca
ngợi chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin trong quần chúng nhân dân. Từ
những buổi đầu kháng chiến chống Pháp, chính phủ Việt Minh đã đề ra khẩu hiệu
“Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm tới văn nghệ, Người xem “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh
31
chị em là chiến sĩ trên mặt trận ây”. Đồng thời, Hồ Chủ tịch cũng luôn dặn dò đội
ngũ văn nghệ sĩ: “Nhiệm vụ văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực
lượng kháng chiến của nhân dân, mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến
kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết. Các nhà văn hóa ta phải có những tác
phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây
giờ, mà còn để lưu truyền những gương mẫu oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho
con cháu đời sau”. [136, tr. 21- 22]. Hưởng ứng những lời kêu gọi ấy, rất nhiều
văn nghệ sĩ đã tự nguyện, hăm hở đi theo kháng chiến. Trong những năm tháng
gian nan thử thách ấy, đội ngũ những nhà văn, những “thư ký trung thành của thời
đại” với trọng trách của một chiến sĩ thực thụ, một tuyên truyền viên đã kịp thời
phản ánh một cách chân thực, sinh động và cảm động những ngày tháng gian khổ
mà hào hùng của dân tộc Việt Nam… Một nền văn học cách mạng được sinh thành
và gặt hái nhiều thành tựu quan trọng nhờ nhiệt huyết đối với sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc và đam mê sáng tạo nghệ thuật của đội ngũ các văn nghệ sĩ gồm
nhiều thế hệ.
Có thể khẳng định rằng, trên cơ sở lập trường cách mạng và lòng yêu nước,
song hành cùng cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài ba mươi năm, chúng ta đã cho
ra đời một nền văn học “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền
văn học chống đế quốc trong thời đại ngày nay”. Trong bảng “địa dư” đó của văn
học, đề tài chiến tranh luôn giữ vị trí chủ lưu. Trước 1975, khí thế cách mạng sục
sôi và tinh thần chiến đấu hi sinh quên mình của quân dân hai miền đã trở thành
nguồn cảm hứng nóng bỏng, trực tiếp đối với các nhà văn. Sau 1975, chiến tranh
vẫn là một “siêu đề tài”, là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn “cày xới” nhưng đã có
sự cách tân đồng bộ về tâm thế, cảm hứng sáng tác, tư duy nghệ thuật, đặc điểm thi
pháp và hình thức diễn ngôn. Trước đây, trong giai đoạn 1945- 1975, với nhiệm vụ
chính trị lớn lao, nặng nề, văn học giai đoạn này chứa đựng âm hưởng sử thi (anh
hùng ca) với cảm hứng lãng mạn bao trùm. Các tác phẩm tập trung ngợi ca chủ
nghĩa yêu nước, thể hiện khát vọng độc lập tự do, tự hào và tin tưởng vào sự nghiệp
32
giải phóng dân tộc của con người Việt Nam. Hình tượng người lính trong văn học
giai đoạn 1945- 1975 được lý tưởng hóa đến mức tuyệt đối tạo nên khoảng cách sử
thi. Sau đại thắng mùa xuân 1975, giai đoạn 1975- 1985, mặc dù vẫn theo “quán
tính cũ” (Nguyên Ngọc) nhưng văn học viết về đề tài chiến tranh đã có dấu hiệu đổi
mới trên phương diện tiếp cận, miêu tả và phản ánh hiện thực. Đó là sự tái hiện
hiện thực chiến tranh với tất cả sự khốc liệt, những tổn thất, hy sinh nặng nề của nó.
Đâu đó trong một số tác phẩm, người đọc đã thấy thấp thoáng những bi kịch của
con người thời hậu chiến và những dự cảm về hệ lụy chiến tranh. Tuy nhiên, đó
mới chỉ là sự manh nha, là quá trình tìm đường, đặt nền móng cho văn học giai
đoạn sau. Phải đến giai đoạn từ 1986 cho đến những năm cuối thế kỷ XX, văn học
viết về đề tài chiến tranh mới thực sự đổi mới một cách mạnh mẽ. Bên cạnh cảm
hứng anh hùng ca đã có sự tồn tại của cảm hứng “bi ca”. Hình ảnh người lính đã
không còn được tô vẽ, luôn đứng vị trí cao hơn cộng đồng tiếp nhận mà đã trở nên
đời thường, gần gũi hơn với những khát khao hết sức bản năng, tự nhiên của con
người. Đặc biệt, hình tượng nhân vật kẻ thù trong văn học chiến tranh giai đoạn này
đã được các nhà văn soi chiếu với cái nhìn tỉnh táo và nhân bản. Họ, những con
người bên kia chiến tuyến không chỉ độc ác, tàn nhẫn, vô lương, ngu dốt mà cũng
thiện chiến, có lý tưởng, có lòng nhân ái… Rõ ràng, bên cạnh những khám phá đa
diện về người lính cách mạng, hình ảnh kẻ thù – những chủ thể trên chiến trường -
đã được các nhà văn miêu tả đa chiều, có sức sống nội tại và chân thực.
Văn học viết về chiến tranh cả trước và sau 1975 khá đa dạng về thể loại và
phương thức thể hiện. Đã có rất nhiều thể loại được các nhà văn thử nghiệm như
thơ, truyện ngắn, ký, tiểu thuyết…. Mỗi thể loại đều có những thế mạnh và giới hạn
riêng. Thơ, truyện ngắn, ký được các nhà văn sử dụng với mục đích phản ánh
nhanh chóng những chiến công, những sự kiện nóng hổi trên chiến trường, đồng
thời nó cũng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh sáng tác nhiều khó khăn của thời
chiến. Tuy nhiên, do hạn chế bởi dung lượng nên dù các thể loại trên giúp nhà văn
phản ánh kịp thời một vấn đề của hiện thực cuộc sống, hiện thực chiến tranh nhưng
33
nó vẫn chỉ là một lát cắt, chưa thể hiện được tầm vóc của cuộc kháng chiến, chưa lý
giải được những vấn đề phức tạp của đời sống, quá trình phát triển tính cách của
nhân vật không được diễn tả đầy đủ. Chiến tranh với bản chất là một hiện tượng
lịch sử - xã hội phức tạp mang tính nhân loại cần một loại hình năng động, mang
tính tổng hợp cao để phản ánh nó một cách toàn vẹn, sống động. Trên cơ sở tiêu chí
đó, với đặc trưng là một cấu trúc tự sự lớn, có khả năng bao quát về thời gian,
không gian, sự kiện, nhân vật; khả năng mở rộng tối đa tầm vóc, quy mô hiện thực;
khả năng đi sâu khám phá những vấn đề thân phận con người; sự đa dạng về màu
sắc thẩm mĩ; tính đối thoại và đa âm về giọng điệu… tiểu thuyết đã hiện diện như
một thể loại giàu tiềm năng, có sức cạnh tranh bền vững và đã trở thành sự lựa
chọn ưu tiên của các nhà văn.
Nhìn vào bức tranh thể loại, tiểu thuyết luôn đóng vai trò then chốt và là
nòng cốt, chủ lực của văn xuôi, đồng thời cũng là tiêu chí đánh giá sự trưởng thành
của một nền văn học. Tuy ra đời muộn nhưng tiểu thuyết lại là một thể loại có một
vai trò, vị thế hết sức quan trọng trong lịch sử văn học. Không quá khi nói rằng tiểu
thuyết là danh dự, là niềm tự hào của mỗi dân tộc, “thiếu nó, dân tộc thiếu sử thi”.
Hegel đã từng nói: “Danh dự của mỗi dân tộc cần phải có Homeros của riêng
mình”. Dễ hiểu vì sao rất nhiều các nhà văn trưởng thành cùng thời đại chiến tranh
cách mạng luôn ước ao, khao khát viết được những bộ tiểu thuyết phản ánh được sự
kỳ vĩ hào hùng với tất cả lẫm liệt và đau thương mà dân tộc Việt Nam đã kinh qua.
Tuy nhiên, hoàn cảnh chiến tranh với muôn vàn những khó khăn thiếu thốn đã là
một cản trở lớn cho thể loại văn học dài hơi cần đầu tư nhiều thời gian và công sức
này. Bên cạnh đó, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, các nhà văn đối
diện với một cuộc sống mới mẻ chưa từng có. Bên cạnh tài năng, họ cần có thời
gian để làm quen, khám phá, để tích luỹ vốn sống thực tế nên việc viết được những
tác phẩm dài hơi không phải là điều dễ dàng. Ngoài ra, những quan niệm có phần
cực đoan về quyền lực chính trị và nhiệm vụ của văn học, về nguyên tắc và phương
pháp sáng tác những năm đầu của cuộc kháng chiến cũng là một trở ngại lớn cho
34
các nhà tiểu thuyết. Chính vì vậy, khép lại một thời kỳ khởi sắc và thành tựu của
văn xuôi 1930-1945, những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, tiểu thuyết xuất
hiện thưa thớt trên văn đàn. Phải đến năm 1954 khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, các
nhà văn mới có điều kiện thuận lợi về khách quan và ý thức rõ rệt hơn để đầu tư
vào những tác phẩm dài hơi. Trong vòng mười năm (1954-1964) tiểu thuyết viết về
đề tài chiến tranh đã có sự phát triển so với giai đoạn trước với khá nhiều những tác
phẩm dày dặn. Từ 1965 đến 1975, tiểu thuyết chiến tranh đã góp phần quan trọng
trong việc tái dựng một giai đoạn, một chặng đường trọng đại của dân tộc. Sau
1975 đến những năm cuối thế kỷ XX, với một độ lùi nhất định, cần thiết, với những
nhu cầu đổi mới bức bách về tư duy, lối viết, về việc đáp ứng nhu cầu tiếp nhận và
đặc biệt là sự mở rộng giao lưu văn hóa toàn cầu của “thế giới phẳng”; đề tài chiến
tranh trong tiểu thuyết đã được các nhà văn khoác lên một diện mạo khác: sâu sắc
và mới mẻ hơn. Những “rạn vỡ” trong cảm hứng sáng tạo, sự di chuyển của cái
nhìn nghệ thuật và việc mở rộng đường biên hiện thực trong các tiểu thuyết viết về
chiến tranh giai đoạn này đã mang đến những lý giải sâu sắc, khách quan cũng như
những nhận thức, quan niệm nhân văn hơn về chiến tranh và số phận con người.
Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh, do vậy, đã có sự vận động trên nhiều phương
diện, có những chuyển biến nhanh nhạy để bắt kịp với không khí chung của văn
hoá văn nghệ qua từng thời kỳ.
2.1. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1975
2.1.1. Giai đoạn 1945- 1954
Mùa thu năm 1945, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc Cách mạng tháng
Tám thành công, phá tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp đã kìm kẹp nhân dân
ta gần một thế kỷ. Cả dân tộc vui mừng chào đón sự ra đời của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Một kỷ nguyên mới được mở ra cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên
của độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng Hiệp định sơ bộ ngày
06/3/1946 cho phép quân Pháp được quay trở lại miền Bắc để thay thế quân đội
Trung Quốc Tưởng Giới Thạch rút quân về nước đồng nghĩa với việc thực dân
35
Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa. Song, bằng ý chí quật cường và
tinh thần đoàn kết một lòng đấu tranh, bảo vệ chủ quyền dân tộc, một lần nữa nhân
dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục làm nên
chiến thắng oai hùng trước kẻ thù xâm lược. Đó chính là cuộc kháng chiến chín
năm chống thực dân Pháp. Thành quả cách mạng đó cùng với hiện thực chiến tranh
nóng bỏng sục sôi, tinh thần vệ quốc cao cả đã trở thành nguồn mạch cảm hứng dồi
dào cho các nhà văn khai phá, sáng tác.
Như đã trình bày ở trên, sinh trưởng, hun đúc trong hoàn cảnh đất nước
chiến tranh, chính vì vậy vai trò của văn nghệ rất được các nhà lãnh đạo cách mạng
quan tâm. Văn nghệ được định hướng, quy tụ thành “một mặt trận” và văn nghệ sĩ
là “những chiến sĩ”: “Thời khác, chế độ khác, trong đấu tranh giai cấp, người nghệ
sĩ có thể đứng bên này, bên kia hay đứng giữa. Nhưng thời ta, dưới chế độ ta, điều
đó không thể có được và chúng ta nói hẳn với nhau là đã là người nghệ sĩ thì không
ai dung thứ thái độ chông chênh ấy được” [193, tr. 41]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt
ra những nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng với văn nghệ sĩ: “Cũng như các chiến sĩ khác,
chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự
Tổ quốc, phụng sự nhân dân trước hết là Công- Nông Binh”. Tổng Bí thư Trường
Chinh nhấn mạnh thêm: “Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục vụ chính
trị, phục vụ đường lối chính sách của Đảng… văn nghệ sĩ Cộng sản cũng như mọi
Đảng viên khác phải phục tùng tổ chức của Đảng” [136, tr. 271, 272]. Đảng chủ
trương: “Phải làm sao dần dần từng bước, từng phần làm cho nước ta có một đội
ngũ làm văn học, nghệ thuật gồm những người có bản lĩnh lớn, có nhiệt tình lớn, có
khí phách lớn, và từ đó có tài năng lớn để cống hiến lớn cho sự nghiệp cách mệnh
của dân tộc” [193, tr. 39]. Thấm nhuần tinh thần chỉ đạo đó, đội ngũ văn nghệ sĩ đã
không quản ngại khó khăn gian khổ, dấn thân, xông pha trên khắp các mặt trận để
phản ánh chân thực và sinh động hiện thực cuộc kháng chiến, trở thành một chiến
sĩ tuyên truyền đắc lực, phục tùng tuyệt đối đường lối văn nghệ của Đảng. Trong
những năm tháng trường kỳ 9 năm gian khổ ấy, các văn nghệ sĩ phải từ bỏ những
36
“tháp ngà nghệ thuật” để làm quen với một lối sống mới hoàn toàn khác. Họ lăn lộn
với quần chúng công nông binh, thường xuyên phải đối mặt với bom đạn, chết chóc
cùng những chuyến hành quân gian khổ. Đó quả là những thử thách không nhỏ cho
đội ngũ những tầng lớp trí thức tiểu tư sản thành thị vốn quen với đời sống thị
thành. Nhưng ở một góc nhìn khác, chính những dấn thân, những xông pha ấy đã
giúp các văn nghệ sĩ tích lũy được nguồn vốn sống hết sức quý giá, đó là thực tiễn
chiến trường, là những miền đất và gương mặt con người mà nếu không nhập cuộc
họ không sao hình dung nổi. Và nguồn vốn sống ấy đã trở thành niềm cảm hứng, đã
chuyển hoá thành những tác phẩm chân thực, sinh động và giàu xúc cảm.
Nói đến văn học cách mạng giai đoạn 1945- 1954, dù được đánh giá là có
phát triển nhưng vẫn nằm trong tình trạng đơn điệu về thể loại. Thành tựu chủ yếu
chỉ nằm trong thơ, truyện ngắn và ký. Với ưu thế cơ động, linh hoạt trong tiếp cận
hiện thực, gọn nhẹ về dung lượng, có khả năng phản ánh chớp nhoáng, kịp thời
những sự kiện nóng bỏng, phù hợp với điều kiện khó khăn, thiếu thốn của chiến
tranh, sự lấn chiếm của các thể loại này để thay thế tiểu thuyết cũng là điều dễ hiểu.
Chính vì vậy, mặc dù ý thức về những bộ tiểu thuyết thể hiện được toàn cảnh, quy
mô của cuộc kháng chiến vẫn nung nấu tâm trí các nhà văn, nhưng để thực hiện
được ý định đó trong hoàn cảnh chiến tranh là không dễ dàng. Việc dấn thân vào
chiến trường, đối diện với một hiện thực mới, cân nhắc lựa chọn những hệ giá trị
mới thay thế hệ giá trị cũ, các nhà văn cần có thời gian để làm quen, để “nhận
đường”, tạo sự phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Cũng không thể không nhắc tới
nhịp độ khẩn trương của đời sống kháng chiến gian khổ và thiếu thốn trăm bề, nhà
văn không thể đóng cửa phòng văn quay lưng lại đám đông quần chúng để “hì hục”
viết tiểu thuyết. Những nhà văn trực tiếp tham gia kháng chiến thì việc viết tiểu
thuyết lại càng khó khăn gấp bội bởi chức trách chính của họ là cán bộ tuyên
truyền, dân vận, giao liên, chiến sĩ. Việc viết lách chỉ có duy nhất một nhiệm vụ
phản ánh nhanh nhạy những chiến công của quân ta, biểu dương kịp thời những
gương chiến đấu, người tốt việc tốt. Một khó khăn cản trở không nhỏ đến sự phát
37
triển của tiểu thuyết giai đoạn này chính là quan niệm của các nhà quản lý văn nghệ
về chức năng và nhiệm vụ trước mắt của văn học nghệ thuật. Nhiều người cho
rằng, cuộc chiến đấu đang cần những tấm gương chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi hơn
là những người chỉ giỏi văn chương thơ phú, ít am hiểu cuộc sống chiến đấu, lao
động khổ cực. Quan niệm tiểu thuyết là câu chuyện tình lãng mạn, chủ yếu nói về
cuộc sống riêng tư, là một thể loại văn học để tiêu khiển, giúp người đọc thoát ly,
xa rời cuộc sống hiện tại trong khi đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng sử dụng
văn chương để phục vụ các mục tiêu chính trị, bám sát cuộc sống lao động và chiến
đấu của nhân dân cũng là một trở ngại cho những người viết tiểu thuyết. Những lý
do trên đây lý giải phần nào sự phát triển thiếu liên tục, hiện tượng vắng bóng
những tên tuổi hoặc chính xác hơn là sự xuất hiện thưa thớt các tác phẩm tiểu
thuyết trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1954.
Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai trong bài viết Tình hình văn học Viêt Nam
sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đăng trên báo Tiên phong số 8- 1946 đã
nhận xét: “Văn đàn tiểu thuyết hai năm nay vắng vẻ quá. Những khuynh hướng
tràng giang đại hải đã đứng ngừng lại. (Chẳng biết độ bao lâu đây?). Những tập
ngoài ba trăm trang hình như cũng hiếm. Nghe đâu vào hạng “mập” thì cũng chỉ có
Khao của Đỗ Phồn và Nguyễn của Nguyễn Tuân thôi. Nhưng hai quyển này đều là
những tác phẩm viết trước cuộc khởi nghĩa khá lâu”. Phải đến năm 1951, những tác
phẩm được xem là mở màn cho tiểu thuyết của nền văn học cách mạng Việt Nam
mới ra đời. Đó là Xung kích của Nguyễn Đình Thi (1951), Vùng mỏ của Võ Huy
Tâm (1951) và Con trâu của Nguyễn Văn Bổng (1952). Xung kích có vẻ gần với
truyện ký hơn là tiểu thuyết, tác phẩm phản ánh một cách chân thực quá trình chiến
đấu với quân đội viễn chinh Pháp ở chiến dịch trung du Bắc Bộ. Với Vùng mỏ, Võ
Huy Tâm đã khắc họa lại cuộc đấu tranh của những người công nhân ở vùng mỏ
Quảng Ninh đòi thay đổi, cải thiện đời sống, điều kiện làm việc. Ở tiểu thuyết Con
trâu, Nguyễn Văn Bổng lại đề cập đến đời sống những người nông dân khu Năm
biết hy sinh những lợi ích cá nhân để sản xuất phục vụ cho kháng chiến. Ba tác
38
phẩm hiếm hoi này có thể coi là “hiện tượng tiểu thuyết” tiêu biểu, đều viết về cuộc
kháng chiến chống Pháp, đều tập trung vào ba thành phần cách mạng cơ bản của
thời kỳ này: Công- Nông- Binh. Hoàn cảnh sống, chiến đấu của quân dân ta vô
cùng gian khổ nhưng vẫn tràn đầy niềm phấn chấn, tin tưởng vào sự lớn mạnh, đi
lên của cách mạng. Giá trị hiện thực của những tác phẩm này là đã thể hiện được
sức mạnh đoàn kết của tập thể quần chúng, tinh thần lạc quan, không ngại khó khăn,
gian khổ, thậm chí là hy sinh của những anh hùng thời đại mới. Họ- những người lính,
thợ cày, dân cày- giờ đây đã trở thành những chủ nhân của lịch sử.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng những tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1945-
1954 còn nhiều hạn chế, thiếu độ sắc nét về tư duy nghệ thuật và cứng nhắc về thi
pháp. Sáng tác trong hoàn cảnh chiến tranh, lại nhằm mục đích “kịp thời để đẩy
mạnh tổng động viên”, “thích hợp với nhân dân” (Nam Cao), nội dung phải đơn
giản, dễ hiểu, dễ phổ biến rộng rãi phù hợp với tầm đón đợi của quần chúng lao
động - những chủ thể tiếp nhận mới - nên các tác phẩm trên nặng về kể lể, ghi chép,
chân dung nhân vật mờ nhạt, thiếu chiều sâu nội tâm, văn phong dễ dãi, diễn ngôn
chú trọng đến “mã tư tưởng” hơn là “mã nghệ thuật”. Đó chính là những dấu hiệu
nhận diện một chặng đường đầu non nớt của tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt
Nam.
2.1.2. Giai đoạn 1955- 1964
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu của quân đội Việt Minh,
Pháp buộc phải đặt bút ký vào Hiệp định Giơ-ne-vơ trao trả độc lập cho Việt Nam.
Như vậy, từ sau năm 1954 hòa bình đã được lập lại ở miền Bắc, nhưng chỉ là hòa
bình “chớp nhoáng” vì Hiệp định Giơ-ne-vơ đã bị xâm phạm trắng trợn, vì khoảng
thời gian chia cắt tạm thời Bắc- Nam từ 2 năm đã kéo dài thành 21 năm và chiến
tranh vẫn bao phủ lên khắp hai miền Tổ quốc. Tuy nhiên, so với trước, các nhà văn
cũng đã thuận lợi hơn trong sáng tác. Một sự kiện lớn, quan trọng đối với các nhà
văn cũng đã diễn ra trong giai đoạn này, đó là việc Hội Nhà văn Việt Nam được
thành lập năm 1957. Có thể nói rằng sự ra đời của Hội Nhà văn Việt Nam thực sự
39
là một cú hích cho khát khao sáng tạo của các nhà văn, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
đời sống văn nghệ đương thời. Có thể khẳng định rằng trong suốt ba mươi năm,
giai đoạn 1955- 1964 là giai đoạn đánh dấu thành tựu của tiểu thuyết về đề tài
kháng chiến chống Pháp. Hàng loạt những tiểu thuyết đầy đặn đã ra đời với lượng
xuất bản khá lớn. Trong số đó phải kể đến Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc),
Người người lớp lớp (Trần Dần), Mùa hoa dẻ (Văn Linh), Cuộc đời một đôi dép
cao su (Phùng Quán), Mười năm (Tô Hoài), Một truyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức
Ái), Nhãn đầu mùa (Xuân Tùng- Trần Thanh), Trước giờ nổ súng (Lê Khâm), Cao
điểm cuối cùng (Hữu Mai), Sóng gầm tập 1 của bộ Cửa biển (Nguyễn Hồng), Vỡ
bờ (Nguyễn Đình Thi), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng)… Những tác
phẩm này được đánh giá là đa dạng về cảm hứng, tương đối linh hoạt về bút pháp,
đặt và lý giải được những vấn đề lớn của lịch sử giai đoạn đó như quan hệ con
người trong chiến tranh, những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc, những yếu tố
tạo nên chiến thắng, những giá trị, chuẩn mực mới được hình thành….
Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955- 1964 mặc dù được đánh giá là có sự
mở rộng về cảm hứng nghệ thuật nhưng vẫn nằm trong mô hình phương pháp hiện
thực xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã phong phú hơn giai đoạn trước.
Tuy nhiên, trong hai đề tài lớn, đề tài trung tâm thì đề tài về đấu tranh thống nhất
Tổ quốc chiếm số lượng tác phẩm lớn hơn so với mảng đề tài xây dựng chủ nghĩa
xã hội và cuộc sống mới trên miền Bắc. Đây là điều hoàn toàn dễ hiểu bởi các nhà
văn vừa trải qua cuộc kháng chiến chín năm, vốn sống và thực tế chiến trường vẫn
còn đang ngồn ngộn và nóng hổi, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu sáng tạo những
tiểu thuyết dày dặn về cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm gian khổ trường kỳ.
Các tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này thường được khai thác theo hai xu hướng,
một số tác phẩm tập trung vào cuộc đời, số phận của cá nhân nhưng lại có những
tiểu thuyết mô tả toàn cảnh với mục đích tổng kết lịch sử. Các nhà văn muốn qua
những tác phẩm có quy mô khá đồ sộ của mình để lưu giữ những chiến công hiển
hách của dân tộc, ca ngợi những con người mới và điều quan trọng nhất đó là thắp
40
lên ngọn lửa, truyền thống yêu nước của cha anh để truyền lại cho thế hệ sau.
Trong tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1955- 1964, cảm hứng sử thi, bút
pháp lý tưởng hoá được các nhà văn sử dụng khá nhất quán để miêu tả cái đẹp, cái
cao cả của con người và thời đại. Những nhân vật chính diện thường có vẻ đẹp từ
trong ra ngoài, từ ngoại hình đến tính cách. Đó là những khuôn mẫu lý tưởng cho
thế hệ trẻ. Chính vì vậy, cũng giống như giai đoạn 1945- 1954, văn học giai đoạn
này vẫn chủ yếu phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng, với chức năng chủ yếu là
tuyên truyền, cổ động. Về thi pháp, tiểu thuyết chiến tranh 1955- 1964 vẫn thiên về
ghi chép, kể lể, minh họa, cốt truyện đơn giản, lỏng lẻo, tính cách nhân vật phát
triển đôi khi thiếu logic, thậm chí khiên cưỡng, thiếu hẳn những nhân vật tạo được
ấn tượng sâu đậm. Tuy nhiên, vẫn phải ghi nhận những nỗ lực của các nhà văn
trong việc tiếp cận đời sống, tìm tòi đổi mới bút pháp cho tác phẩm của mình. Một
số tác phẩm giai đoạn này khá đa dạng về giọng điệu. Đã có những quan điểm khác
nhau về chiến tranh trong Vỡ bờ, Trên mảnh đất này, Sống mãi với thủ đô… Cũng
đã có cái nhìn hài hước, châm biếm, trào lộng những thói hư, tật xấu của người
nông dân ẩn hiện trong đa số lớp ngôn từ đẹp đẽ, trân trọng khi ca ngợi phẩm chất
tốt đẹp của giai cấp công- nông- binh. Nhận xét về sự đa dạng của tiểu thuyết thời
kỳ này, Phan Cự Đệ cho rằng: “Điểm nổi bật của tiểu thuyết thời kỳ sau 1958 là
tính chất phong phú và đa dạng của nó. Đa dạng về đề tài và phong cách… Một nền
tiểu thuyết đến thời kỳ nở rộ, giống như một vườn hoa muôn hồng nghìn tía đua sắc
đua hương”. [43, T.1, tr. 150]. Ở một số tác phẩm, khả năng phản ánh hiện thực của
tiểu thuyết đã được các nhà văn khai thác, mở rộng hơn, có sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa miêu tả hành động với chiều sâu nội tâm của nhân vật. Có thể khẳng
định rằng đó là những điểm sáng tuy còn yếu ớt nhưng đã báo hiệu một chặng
đường mới cho thể tài tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam những giai
đoạn sau.
2.1.3. Giai đoạn 1965- 1975
Ngày 05/8/1964, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, tiếng súng chống Mỹ đã nổ ở
41
miền Bắc, cả đất nước chìm trong lửa đạn. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã
thúc giục hàng vạn trái tim thanh niên yêu nước “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Trong đội quân điệp điệp trùng trùng hừng hực khí thế ấy có rất nhiều nhà văn. Họ
đồng hành cùng lúc hai nhiệm vụ, vừa cầm súng chiến đấu, vừa cầm bút sáng tác
để khích lệ, cổ động tinh thần yêu nước của đồng bào và chiến sĩ. Hơn lúc nào hết,
nền văn học cách mạng phải phát huy tối đa quyền lực của mình, tiếp tục thiên
chức cao đẹp là phục vụ chính trị, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với phương châm
“sống rồi hãy viết” cùng thực tế trải nghiệm nơi chiến trường, các nhà văn nơi
tuyến đầu Tổ quốc đã viết nên hàng vạn trang văn sống động và chân thực về
những ngày tháng gian khổ mà hào hùng của nhân dân hai miền trong những ngày
đánh Mỹ. Tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã góp phần lưu
giữ những tên đất, tên người kiên cường như là những thông điệp cho mai sau.
Những tiểu thuyết tiêu biểu của giai đoạn này là Hòn đất (Anh Đức), Gia đình má
Bảy, Mẫn và tôi (Phan Tứ), Rừng U Minh (Trần Hiếu Minh), Đất Quảng (Nguyễn
Trung Thành), Vùng trời (Hữu Mai), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu),
Giáp trận (Nguyễn Thế Phương), Dòng sông phía trước (Mai Ngữ), Thôn ven
đường (Xuân Thiều), Chiến sĩ (Nguyễn Khải), Những tầm cao (Hồ Phương), Dòng
sông phẳng lặng (Tô Nhuận Vĩ), Sao Mai (Dũng Hà), Dưới đám mây màu cánh vạc
(Thu Bồn), Những người cùng tuyến (Hải Hồ)…
Hầu hết tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này đều mang âm hưởng sử
thi với cảm hứng lãng mạn bao trùm. Trong số đó có những tác phẩm đã từng được
xem là hội tụ được nhiều giá trị của tiểu thuyết sử thi như Hòn đất – Anh Đức, Dấu
chân người lính – Nguyễn Minh Châu, Vùng trời – Hữu Mai… Tất cả các tác phẩm
đều gặp gỡ, có chung giọng điệu ngợi ca tinh thần chiến đấu, khát vọng không có gì
quí hơn độc lập tự do và niềm tin không gì lay chuyển vào ngày mai toàn thắng. Đó
chính là những biểu hiện của tính Đảng, tính nhân dân. Tính Đảng đòi hỏi văn học
nghệ thuật phải phản ánh được những bước phát triển đi lên của cách mạng, phải
xây dựng được những hình tượng điển hình kết hợp độ khái quát cao và cá thể hóa
42
sâu sắc. Tính nhân dân yêu cầu các sáng tác của nhà văn phải bắt nguồn từ đời sống
nhân dân, hướng đến tâm tư, tình cảm của nhân dân. Sự hòa trộn giữa hai thuộc
tính đó đã tạo nên những bản anh hùng ca sáng ngời phẩm chất thời đại và sức
mạnh vô song của chiến tranh nhân dân. Nhằm minh họa, tiếp thêm nghị lực và
củng cố niềm tin vào nền nghệ thuật cách mạng, tiểu thuyết thời kỳ này chủ yếu
khai thác mặt thắng lợi của cuộc chiến mà nói rất ít, thậm chí là né tránh việc đề
cập những thất bại, mất mát hy sinh của phía ta. Không phải chỉ trong thơ mới có
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật) hoặc “Những buổi vui sao/
Cả nước lên đường/ Xao xuyến bờ tre/ Từng hồi trống giục…/ Xóm dưới làng trên/
Con trai con gái/ Ríu rít theo nhau/ Tiếng cười hăm hở…” (Chính Hữu); mà trong
tiểu thuyết – một thể loại gần gũi với đời thường hơn – con đường ra trận thời kỳ
này cũng khá nhộn nhịp, vui tươi, hừng hực khí thế. Nhiều trang viết thấm đẫm sắc
thái thi vị hóa những nẻo đường ra trận. Và cái kết cục của tác phẩm dường như đã
được định đoạt, sắp đặt trước: dù có gian nan, thử thách, ác liệt đến đâu thì cuối
cùng vẫn phải ta thắng - địch thua, ta cao cả - địch thấp hèn, ta tốt đẹp – địch xấu
xa…, chính nghĩa tất yếu phải đè bẹp phi nghĩa.
So với một số tiểu thuyết viết về chiến tranh trong thời kỳ chống Pháp (không
bao gồm những tác phẩm viết sau hòa bình 1954 như Vỡ bờ, Sóng gầm, Sống mãi
với Thủ đô), tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn 1965-1975 đã có sự mở rộng
dung lượng phản ánh và qui mô tác phẩm thể hiện ở cách thức tiếp cận, chiếm lĩnh
và phản ánh hiện thực đời sống. Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu từng
được xem là cuốn sách gối đầu giường của thanh niên Việt Nam thập niên 70 thế
kỷ XX. Tác phẩm đã tái hiện một cách hùng tráng, sinh động cuộc chiến đấu và
chiến thắng oanh liệt của quân đội ta tại điểm nóng chiến trường Khe Sanh, Quảng
Trị. Với Hòn Đất, Anh Đức là người mở ra khuynh hướng viết về cuộc kháng chiến
chống Mỹ bằng tổng lực của chiến tranh nhân dân. Có mặt trong tác phẩm, bên
cạnh những chiến sĩ giải phóng gan dạ, anh hùng là những du kích, người dân xứ sở
làng Hòn có tình yêu tha thiết, quyết sống chết với Mỹ - Ngụy để gìn giữ mảnh đất
43
chôn rau cắt rốn của mình. Thế giới nhân vật của tác phẩm từ già đến trẻ, từ người
lính đến thường dân, từ các chàng trai đến những cô gái mang vẻ đẹp đằm thắm,
dịu dàng của vùng cực nam Tổ quốc… đều được xây dựng trên “mẫu số chung” là
tình yêu quê hương đất nước, vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần chiến đấu quên mình.
Thế giới nghệ thuật tác phẩm, theo đó, cũng có sự “giãn nở” về chiều kích thời gian
và biên độ không gian, từ trung tâm làng Hòn đến nhiều vùng lân cận, từ hiện tại
trở về quá khứ… Đó chính là những yếu tố tiêu biểu lập nên “thi pháp trào lưu” của
tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này.
Một trong những thành tựu được khẳng định của tiểu thuyết chiến tranh giai
đoạn 1965-1975 là phương diện nhân vật, cụ thể là nghệ thuật điển hình hóa. Nhân
vật người chiến sĩ cách mạng luôn đứng vị trí trung tâm tác phẩm, là những tính
cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Lữ, Khuê – Dấu chân người lính,
Thiêm, Mẫn – Mẫn và tôi, Ngạn, Sứ, Quyên – Hòn Đất… đều xuất hiện như những
người con ưu tú của đất nước, người anh hùng của thời đại chiến tranh cách mạng.
Bên cạnh đó, để nâng cao vị thế, tô đậm vóc dáng cho nhân vật, các nhà văn thường
đặt mẫu nhân vật này vào một bối cảnh tương ứng. “Thi pháp hoàn cảnh”, vì vậy,
chính là cái “nền” phù hợp để nhân vật bộc lộ đầy đủ phẩm chất cao đẹp của mình.
Và cũng bởi nhằm mục đích tạo dựng, “nhào nặn” nhân vật thành những hình mẫu
lý tưởng, những tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng nên về bút pháp, các
nhà văn vẫn trung thành với nguyên tắc lý tưởng hóa, thiên về biểu dương, ca ngợi
mặt tích cực, bỏ qua sự phê phán mặt tiêu cực. Một cách khái quát: đó là những
nhân vật không tì vết, tồn tại trong một bầu khí quyển “vô trùng”... Rất ít thấy ở họ
phần yếu mềm, những ưu tư, trăn trở đời thường, nỗi buồn và trạng thái cô đơn…
Mọi tâm tư, tình cảm đều gắn với cái chung, cái tập thể và dường như thành “sở
hữu của đám đông”. Cái riêng không tách rời cái chung đã thành nguyên tắc, không
được quyền vi phạm. Chính vì vậy, nhân vật chủ yếu được miêu tả từ điểm nhìn
bên ngoài, rất hiếm thấy có sự di chuyển điểm nhìn để đi sâu miêu tả diễn biến nội
tâm của góc độ con người cá nhân. Bên cạnh đó, nhằm tạo nên sự đối lập, để nhân
44
vật chính diện tỏa sáng, các nhà văn cũng đã dùng bút pháp cường điệu để khắc
họa, tô đậm mặt xấu xa, tồi tệ của các nhân vật phản diện. Đó là thằng Xăm tàn
bạo, thú tính trong Hòn đất, cha con Hứa Xâng gian ác “chọc tiết cán bộ cách mạng
rồi uống xì xụp suốt đêm” trong Đất Quảng. Thi pháp nhân vật, được xử lý bằng
thủ pháp tương phản: trắng – đen, sáng – tối, đẹp – xấu…; tuy vậy, nhìn bao quát,
các nhà văn vẫn quan tâm, chăm chút nhiều hơn cho việc xây dựng nhân vật chính
diện để hướng tới thực hiện chức năng giáo dục của văn học nghệ thuật, để hoàn
thành sứ mệnh tuyên truyền, cổ vũ, phục vụ chính trị của nhà văn. Gương mặt kẻ
thù, vì thế, bị đẩy lùi lại phía sau. Điều đó phù hợp với đặc điểm và sự lựa chọn các
phạm trù thẩm mỹ của tiểu thuyết chiến tranh: cái cao cả, cái anh hùng là chủ đạo,
nổi bật.
Về phương thức tự sự, tiểu thuyết thể tài chiến tranh giai đoạn này về cơ bản
vẫn tuân thủ mô hình tiểu thuyết truyền thống. Cốt truyện chủ yếu được tổ chức
trên cơ sở xung đột địch – ta, có thắt nút, mở nút, có cao trào, đỉnh điểm… nhưng
vẫn thuộc dạng cốt truyện đơn tuyến. Kết cấu tác phẩm được triển khai theo từng
bước cốt truyện, theo trật tự tuyến tính của thời gian. Nhân vật được chú ý nhiều
hơn ở ngoại hình, hành động, nội tâm ít phức tạp, ý thức được đề cao, vô thức, tiềm
thức dường như chạm tới. Về vấn đề nhân vật, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã
khái quát: “Văn học Việt Nam 40 năm qua chưa có nhiều thành công về mặt hình
tượng, tính cách. Yếu tố cá tính chưa nổi bật, sự phân tích xã hội, phân tích tâm lý
chưa được phát triển đầy đặn. Còn ít có những hình tượng tầm cỡ cung cấp một
mẫu mực thuyết phục trọn vẹn về phương diện này” [141, tr. 93]. Nghệ thuật kể
chuyện, chiến lược trần thuật vẫn nằm trong khuôn khổ của mô thức tự sự người kể
chuyện hàm ẩn, “biết tuốt” là vai giao tiếp chính. Lời văn nghệ thuật, kết cấu văn
bản luôn phải tính đến quyền lực phát ngôn và tính đại chúng. Những tác phẩm
được biểu dương thường có hình thức biểu đạt rõ ràng, giản dị, dễ đọc, dễ hiểu,
càng gần gũi với “lời ăn tiếng nói” hàng ngày càng tốt: “Một cách sáng tác rất đại
chúng là cứ kể một cách thật giản dị, tự nhiên, nhiều việc, nhiều chuyện, đã xảy ra,
45
nhiều lời, nhiều câu nói trong thực tế, không thêm bớt, không bàn luận” [77, tr. 98].
Đó có thể là sự áp đặt cái nhìn của chủ thể trần thuật lên người đọc: “Cũng như
dòng suối, lá, cành, hoa, quả, chị Sứ như thuộc về Hòn Đất, không tách ra được, chị
thuộc về niềm kiêu hãnh của xóm làng, kể cả sắc đẹp lẫn tính tình” [49, tr. 162];
hoặc hướng đến sự nhất thể hóa, cùng hướng đến một tư thế ngưỡng vọng, thành
kính như khoảnh khắc hy sinh của Lữ trong Dấu chân người lính. Tuy nhiên lối
viết này còn nhiều hạn chế, đơn chiều cả ở điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, ưu
thế thể loại chưa mang lại hiệu quả vì còn thiếu những đột biến, bất ngờ của cốt
truyện, nhân vật chưa được đi sâu khám phá với tư cách số phận cá nhân, kết cấu
tác phẩm còn quá lệ thuộc vào những biến cố lịch sử, sự kiện…
Mặc dầu vậy, tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn 1965-1975 là một bộ
phận máu thịt của văn học chống Mỹ với những thành tựu không thể phủ nhận. Đặt
trong tương quan thể loại, tiểu thuyết giai đoạn này đã tái hiện được bức tranh đời
sống chiến tranh với qui mô rộng rãi và trên nền cảnh ấy, các nhà văn đồng thời đã
khắc họa gương mặt và chân dung con người Việt Nam yêu nước, sống có lý tưởng
và hành động quả cảm, kiên cường. Đặt trong hoàn cảnh lịch sử, có thể thấy các
nhà văn đã hoàn thành sứ mệnh cầm bút trước dân tộc, thời đại. Tiếng nói văn nghệ
trong thời điểm “dầu sôi lửa bỏng” ấy thực sự là một nguồn lực, tiếp thêm sức
mạnh để 31 triệu nhân dân Việt Nam có thể “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để
hướng tới chân lý “không có gì quí hơn độc lập, tự do”, để chiến thắng giặc Mỹ,
giành lại nửa đất nước thân yêu. Ngay cả sự “lệch pha”, cực đoan, quá chú trọng
nhấn mạnh đến việc bồi đắp giá trị nội dung tư tưởng mà có phần coi nhẹ những
tìm tòi mang giá trị nghệ thuật dường như không mấy ảnh hưởng đến vấn đề tiếp
nhận. Công chúng nghệ thuật thời chống Mỹ là một cộng đồng tiếp nhận lý tưởng.
Nhờ đó mà đại đa số các tác phẩm như Hòn Đất, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi,
Dấu chân người lính… đều được đón nhận một cách nhiệt tình, trân trọng và trở
thành món ăn tinh thần không thể thiếu. Đây có thể coi là mơ ước của các nhà văn
đương đại bởi thực tế là nhiều nhà văn đã nỗ lực hết mình nhưng vẫn chưa thể đưa
46
tác phẩm của mình vào “tầm đón đợi” của người đọc hôm nay.
Đồng hành cùng đất nước, nhân dân trong những ngày tháng đầy gian khổ, hy
sinh, máu, nước mắt và vinh quang chói lọi, nhiều nhà văn đã sống, viết, lăn lộn
trên khắp các chiến trường. Trong số đó có những người đã chiến đấu và hy sinh
anh dũng. Thành công và hạn chế của tiểu thuyết giai đoạn này cần được nhìn
nhận, xem xét trong tính lịch sử, biện chứng. Có thể có hiện tượng “giải thiêng”,
“bắn súng lục vào quá khứ”, thậm chí là “đốt đền”… nhưng văn học chống Mỹ nói
chung và tiểu thuyết nói riêng là một phần máu thịt của dân tộc, tạo nên sức mạnh,
tư thế và “Dáng đứng Việt Nam” thế kỷ XX.
2.2. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1975- 1985
2.2.1. Từ bối cảnh hiện thực thời kỳ hậu chiến
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân
tộc. Kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm, dân tộc ta đã giành được những
thành quả vô cùng to lớn. Đó là độc lập, tự do, hòa bình thống nhất, những mục
tiêu mà cả dân tộc đã bất chấp gian khổ, hy sinh để quên mình chiến đấu. Tuy
nhiên, sau chiến tranh, ngay trong những ngày đầu tái thiết đất nước, xây dựng
cuộc sống mới, chúng ta đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức. Đó là
sự hoang tàn, xơ xác, xuống cấp nghiêm trọng của cơ sở hạ tầng sau cuộc chiến. Đó
là những mất mát, hy sinh đã tạo ra dư chấn nặng nề trong lòng người dân Việt
Nam. Việc thống nhất hai miền làm nảy sinh những mâu thuẫn trong xã hội trên
nửa đất nước phía Nam đã đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối, phức tạp về ý thức hệ,
giai cấp, chế độ. Chẳng bao lâu sau chiến thắng 1975, chiến tranh biên giới phía
Bắc và biên giới Tây Nam lại nổ ra, cả dân tộc lại gồng mình lên đường chiến đấu
để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Có thể nói, con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa
của Việt Nam đã vấp phải muôn vàn gian khó bởi sự chống phá của cả kẻ thù bên
ngoài lẫn các thế lực phản động, thù địch từ bên trong. Sự cấm vận của chủ nghĩa
đế quốc, trình độ sản xuất, kỹ thuật yếu kém, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, tư duy
lãnh đạo chủ quan, nóng vội, duy ý chí, thiếu kinh nghiệm… đã đẩy đất nước
47
xuống hàng ngũ những nước kém phát triển nhất thế giới. Có thể nói, hiện thực
cuộc sống sau chiến tranh với quá nhiều đòi hỏi, thách thức mới, một lần nữa lại
đặt dân tộc Việt Nam vào thời khắc và sự lựa chọn nan giải. Bên cạnh những khó
khăn về cơ sở vật chất, những khó khăn về con người đã bắt đầu hiện hữu. Đã có
những thay đổi trong tâm tư tình cảm, đã xuất hiện nhiều những vun vén cá nhân,
đã bộc lộ sự chán nản, hoài nghi, thậm chí mất niềm tin của một bộ phận không nhỏ
người dân. Đau buồn hơn, trong bộ phận không nhỏ ấy có những người vừa bước ra
từ cuộc chiến, cống hiến cả tuổi thanh xuân, những con người vừa mới cách đây
không lâu đã sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập, vận mệnh dân tộc. Có thể nói, cuộc
khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng với đầy rẫy những nhức nhối, bức xúc trong
xã hội đã khiến hiện thực cuộc sống vốn phức tạp ngày càng trở nên bức xúc, ngột
ngạt. Nhu cầu đổi mới là sự lựa chọn tất yếu, quyết định sự tồn vong của dân tộc.
Trong hoàn cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời nhận ra những sai lầm,
duy ý chí, chủ quan trong đường lối, chính sách, nhanh chóng đề ra những chủ
trương, đường hướng phát triển mới phù hợp với thực tiễn. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ
sự thật” thực sự là một bước ngoặt lớn, trọng đại của lịch sử dân tộc. Đổi mới tư
duy, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần…
là những chủ trương lớn hết sức đúng đắn của Đảng, từng bước đưa đất nước thoát
khỏi khủng hoảng, dần ổn định và tiến những bước khá vững chãi trên con đường
phát triển.
Trước sự chuyển mình mạnh mẽ của lịch sử, của dân tộc; là một hình thái ý
thức xã hội, dĩ nhiên văn học nghệ thuật không thể đứng ngoài cuộc. Với những đổi
thay nhiều mặt của hiện thực cuộc sống, hình thái tư duy văn học cũ không thể đáp
ứng . Đổi mới văn học, do đó, trước hết là đổi mới tư duy. Sự khai thông tư tưởng
từ tinh thần đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI đã thực sự đem lại một luồng sinh
khí mới, đã tiếp thêm động lực cho các nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật, giúp họ
48
mạnh dạn khai phá những vấn đề mà văn học giai đoạn trước chưa (hoặc né tránh)
đề cập đến như những mặt tiêu cực của xã hội, những góc khuất trong đời tư và mặt
trái nhân cách mỗi con người… Mặc dù vẫn còn duy trì, tiếp nối mạch tư duy của
giai đoạn trước, tuy nhiên đã có sự xuất hiện của một kiểu tư duy văn học mới.
Cảm hứng thế sự, đời tư bắt đầu dần thay thế cảm hứng lãng mạn, khuynh hướng
sử thi. Phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa đã không còn là một quyền lực
độc tôn với các nhà văn. Những vấn đề như chiến tranh, hậu chiến, thân phận con
người… đã được soi chiếu đa diện, đa chiều mang nhiều ý nghĩa nhân văn mới. Có
thể nói, bên cạnh những tác động, đòi hỏi của đời sống xã hội, sự thay đổi trong
nhu cầu, tâm lý, thị hiếu tiếp nhận của độc giả, ý thức đổi mới về tư duy nghệ thuật
và lối viết của chính các nhà văn là yếu tố tiền đề, quan trọng tạo nên diện mạo mới
của văn học giai đoạn này. Nguyễn Minh Châu đọc “lời ai điếu cho một giai đoạn
văn nghệ minh họa” (1975), Nguyễn Khải gọi giai đoạn sáng tác trước của mình là
“cái thời lãng mạn” là những minh chứng rõ nét nhất cho nhu cầu, khát vọng đổi
mới, được là chính mình trong ý thức sáng tạo của các nhà văn giai đoạn này.
Với ưu thế của một thể loại có khả năng chiếm lĩnh đời sống, có sức chứa
lớn về dung lượng hiện thực, tiểu thuyết giai đoạn này đã có bước chuyển mình phù
hợp: vừa tiếp nối mạch sử thi, vừa âm thầm tích hợp những nhân tố mới cho thời
kỳ sau. Tuy chưa thật sự nổi bật nhưng một loạt những tác phẩm: Miền cháy,
Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), Nắng đồng bằng (Chu
Lai), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 1975 họ đã sống như thế
(Nguyễn Trí Huân) Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Đất miền Đông (Nam Hà) Họ
cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi)… đã khép lại một thời kỳ, đưa tiểu thuyết vào
vị trí và quỹ đạo vận động của một giai đoạn giao thời, là đêm trước của một chặng
đường mới.
2.2.2. Đến sự xuất hiện của một số hướng tiếp cận mới về chiến tranh
Tiếp tục viết về chiến tranh, nhưng điều quan trọng đặt ra ở đây là viết về
chiến tranh sau chiến tranh như thế nào? Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long cho
49
rằng: “Cuộc chiến tranh càng lùi xa, ký ức về chiến tranh càng hiện rõ và được cô
đọng. Những cuộc chiến tranh đi vào trang sách của các nhà văn lại phải được mở
rộng những chiều kích khác nhau của nó. Bởi giờ đây, người đọc có quyền được
nhận thức về hai cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt đã qua như chính nó từng hiện
diện” [100, tr. 219- 220]. Và có thể thấy rằng, chiến tranh với tất cả sự khốc liệt,
tàn bạo của nó đã được đào sâu, khắc họa chân thực trong các tiểu thuyết về đề tài
này giai đoạn 1975- 1985. Không còn sự lý tưởng hóa, chiến tranh hiện lên với tất
cả sự đau thương, mất mát, hủy diệt trong những hoàn cảnh ác liệt, bi tráng. Chiến
tranh không chỉ có không khí hào hùng với những chiến công, chiến thắng mà còn
là sự hy sinh xương máu của hàng triệu con người. Nhiều tác giả đã khắc phục hiện
tượng né tránh bằng cách chọn những thời điểm tàn khốc, dữ dội nhất để khám phá
và nghiền ngẫm về chiến tranh. Đó là một trận bom đế quốc Mỹ ném vào trường
học khiến gần một trăm giáo viên và học sinh chết và bị thương (Đất miền Đông);
một trận đánh cướp đi sinh mạng của môt chiến sĩ trẻ sau lần đầu tiên cũng là lần
cuối cùng gặp mặt người cha của mình kể từ lúc sinh ra (Trong cơn gió lốc)… Tất
cả đã nói lên rằng: chiến tranh là nỗi khiếp đảm của nhân loại, là “Không phải trò
đùa”.
Tuy nhiên, những đau thương, mất mát, hy sinh đó không những không thể
làm suy giảm nhuệ khí chiến đấu của quân và dân ta, mà trái lại nó là động lực, là ý
chí, là tinh thần để cả dân tộc tiến lên. Trong chiến tranh gian khổ, người ta vẫn
thấy ở nơi ranh giới sự sống và cái chết vô cùng mong manh, lòng quả cảm, đức hy
sinh, sự trung thành, khát vọng độc lập tự do, tình đồng đội, tình quân dân và tình
yêu đôi lứa…. Nhìn nhận chiến tranh với đầy đủ cả chiến công cũng như những tổn
thất, hy sinh, tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1975- 1985 đã giúp người đọc có cái
nhìn sâu hơn về cuộc chiến, thấm thía cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân
tộc. Có thể nói, sự phản ánh đa chiều với đầy đủ sự bi, tráng đã góp phần đem lại
những góc nhìn toàn diện hơn về chiến tranh, khiến hiện thực chiến tranh trở nên
50
chân thực và trở về đúng bản chất của một cuộc chiến tranh ái quốc.
Bên cạnh việc mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, sự quan tâm đến thân
phận con người trong và sau chiến tranh cũng là một đổi mới đáng ghi nhận trong
khuynh hướng viết về chiến tranh của tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này, điều
mà văn học trước 1975 chưa chạm tới. Đó là những số phận bi thảm của những con
người mang trong mình vết thương cả về thể xác lẫn tinh thần trong và sau chiến
tranh; đó là những gia đình với nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai bởi những người
thân đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, đó là những đứa trẻ vừa sinh ra đã
mang trong mình những dị tật bởi di chứng chiến tranh… Tất cả đã khắc họa đậm
nét hệ lụy của chiến tranh và bi kịch của con người thời hậu chiến. Đây cũng chính
là cảm hứng nhân đạo sâu sắc được thể hiện trong tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn
1975- 1985.
Có thể thấy rằng, âm hưởng sử thi vẫn còn đậm đặc trong tiểu thuyết chiến
tranh 1975- 1985 thể hiện ở đề tài, cảm hứng, đặc trưng thẩm mỹ, giọng điệu…
nhưng không còn “nguyên phiến”. Đã xuất hiện một điểm nhìn mới, điểm nhìn từ
hiện tại về quá khứ sau một độ lùi thời gian nhất định để người cầm bút suy ngẫm,
chiêm nghiệm hiện thực từ nhiều phía và từ đó mang đến cho người đọc một hiện
thực cuộc chiến chân thực, sinh động và đúng như nó đã diễn ra. Hiện thực chiến
tranh trong tiểu thuyết giai đoạn này chính là hiện thực mà nó đã tồn tại, là hiện
thực về số phận con người. Bằng con mắt hiện thực, các nhà văn đã tạo dựng nên
một không gian chiến tranh không còn những nét lý tưởng, lãng mạn mà là một
không gian hiện thực trần trụi. Tiếng vọng sử thi vẫn còn đâu đó trong cách xây
dựng nhân vật. Người lính với nhiều phẩm chất cao quý vẫn là những mẫu mực đạo
đức biểu trưng cho cộng đồng; nhưng bên cạnh đó cũng đã xuất hiện hình ảnh con
người cá nhân, phức tạp với những nỗi niềm trắc ẩn riêng. Đó là những bi kịch
thuộc về đời tư, những hoàn cảnh bi hài, éo le, những suy nghĩ, trăn trở thậm chí là
hoảng sợ trước trận chiến, trước những thử thách không dễ vượt qua… Và bên cạnh
những tâm hồn trong sáng, những tình yêu đẹp đẽ vẫn có những toan tính thấp hèn,
51
có phẩm chất cao thượng nhưng cũng có những dục vọng tầm thường…
Sự đổi mới trên nhiều phương diện của tiểu thuyết chiến tranh trong thời
gian mười năm đầu sau giải phóng là một quá trình có ý nghĩa manh nha và khơi
nguồn cho dòng văn học sau chiến tranh viết về chiến tranh, đặt nền móng cho một
con đường nghệ thuật mới: “nhìn thẳng vào hiện thực chiến tranh, bằng những trải
nghiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn
khốc không thể quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm
họa của chiến tranh để lại, sau chiến tranh, nhưng đồng thời, phục dựng lại hình
ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh anh hùng đã thực sự làm
nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến, tái sinh lại những khát vọng nuôi dưỡng cả
một dân tộc trong chiến tranh” [100, tr. 251]. Có thể nhận diện tiểu thuyết viết về
chiến tranh giai đoạn 1975-1985 bằng sự đan xen, song đôi giữa cũ và mới, tiếp nối
và cách tân, duy trì và phá vỡ…Một cách khái quát: đó là những tín hiệu nổi bật
của một dòng tiểu thuyết mang tính chất bản lề “khép – mở”.
2.3. Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1986 đến
cuối thế kỷ XX
2.3.1. Giai đoạn 1986- 1990
Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng với những chủ trương đổi mới toàn diện,
đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội đã trở thành cột mốc quan trọng
mở đầu cho một thời kỳ đổi mới thực sự. Lần đầu tiên, sự cần thiết của đổi mới
toàn diện được bàn luận một cách sâu rộng. Đảng nhấn mạnh: “Đối với nước ta, đổi
mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống
còn”, “phải đổi mới, trước mắt là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua
những khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần thứ VI đề ra” [37,
tr. 125]. Tiếp đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị và cuộc gặp gỡ không thể
không nhắc tới của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ
vào cuối năm 1987. Sự “cởi trói” về tư tưởng và sự khích lệ của Đảng về tinh thần
đổi mới tư duy và chủ trương nhìn thẳng vào sự thật đã thực sự đem lại không khí
52
dân chủ trong đời sống, kích thích niềm say mê, giải toả nhiều bức xúc và tiếp thêm
sinh lực cho khát vọng tự do sáng tạo cho các nhà văn. Có thể khẳng định rằng, đây
là giai đoạn mà văn học Việt Nam có sự đổi mới sôi nổi, toàn diện, là bước đột phá
mạnh mẽ gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Ở giai đoạn này, cảm hứng sử thi đã trở nên mờ nhạt, các nhà văn đã hướng
sự tập trung của ngòi bút vào các vấn đề đạo đức, thế sự đời tư, song đề tài chiến
tranh vẫn không bị đánh mất vị thế, ngược lại, đó còn là mảnh đất làm xuất hiện
một số tiểu thuyết đỉnh cao như là sự thăng hoa của tinh thần đổi mới và cách tân
theo chiều hướng hiện đại hoá. Với nhiều cảm nhận khác nhau về chiến tranh, dưới
ánh sáng của đổi mới, các nhà văn đã đưa lại một cái nhìn đa chiều, sâu sắc, mới
mẻ hơn về cuộc chiến mà cả dân tộc vừa trải qua. Khí thế hào hùng, những chiến
thắng oanh liệt, những sự kiện chồng chất không còn hiện hữu nhiều trong các tiểu
thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này. Hiện thực bây giờ là một bức khảm lớn
được ghép lại từ nhiều bức tranh nhỏ. Những bức tranh nhỏ đó là sự khắc họa
những thân phận con người trong và sau chiến tranh, là sự trăn trở trước những vấn
đề tồn đọng của cuộc sống thời hậu chiến, là sự chiêm nghiệm về những giá trị
tưởng đã bền vững trở nên lung lay cần được “phản tư”, cần nhận thức lại. Khuynh
hướng nhận thức lại ngay từ đầu đã có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với tư duy sáng
tạo của các nhà văn.. Thời xa vắng của Lê Lựu có thể xem là tác phẩm mở màn cho
khuynh hướng tiếp cận những vấn đề của cuộc sống sau chiến tranh theo chiều
hướng “Nhớ lại và suy nghĩ” với cảm hứng phê phán và tinh thần đối thoại cởi mở.
Với Mùa trái cóc ở miền Nam, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra vấn đề những tác
động, dư chấn của chiến tranh đến số phận con người. Rồi hàng loạt những tiểu
thuyết mang đậm dấu ấn đổi mới từ phía chủ thể sáng tạo trong việc khai thác đề tài
chiến tranh, trở thành những tác phẩm tiêu biểu đánh dấu bước phát triển quan
trọng, làm thay đổi diện mạo của văn học như Bến không chồng (Dương Hướng),
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và
một lần (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Lạc rừng, Tiễn biệt những
53
ngày buồn (Trung Trung Đỉnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Mây cuối chân
trời (Nguyễn Trọng Oánh)… Trong số đó, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của đông đảo giới nghiên cứu, bạn đọc
trong và ngoài nước. Tiểu thuyết được đánh giá là một tác phẩm đề cập đến nhiều
khía cạnh của chiến tranh với một lối viết khác lạ, độc đáo. Đi sâu vào dòng ý thức,
khai thác những màn độc thoại, môtip giấc mơ, những ám ảnh tâm linh và đặc biệt
là sự chối từ thi pháp truyền thống, Bảo Ninh đã thể hiện sức huỷ diệt khủng khiếp
của chiến tranh, khả năng gặm nhấm, bào mòn sự sống của nó đối với những người
lính từng tham trận. Không phải ngẫu nhiên, đề cập đến những tác giả, tác phẩm
xuất sắc của tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn sau 1986, Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh là sự lựa chọn đầu tiên không thể khác. Về trường hợp này, Phong Lê đã
nhận xét: “Nỗi buồn chiến tranh gợi ra cho chúng ta những suy nghĩ mới cho tiểu
thuyết về đề tài chiến tranh và người lính. Ở đây người đọc thấy được sự dữ dội,
khốc liệt của cuộc chiến đấu trên chiến trường, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái
giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng, bi kịch của người lính thời hậu chiến”
[104, tr. 56].
2.3.2. Giai đoạn 1990 đến cuối thế kỷ XX
Sau giai đoạn cao trào, tiểu thuyết viết về chiến tranh nửa đầu thập niên 90
đến cuối thế kỷ XX có phần chững lại. Một loạt câu hỏi đã được đặt ra: Có hay
không hiện tượng cạn kiệt và không còn đất sống cho đề tài chiến tranh cách
mạng? Hay tâm thế tiếp nhận của độc giả ngày nay đã có sự “lỗi nhịp”, quay lưng
và xa lạ với những tác phẩm viết về đề tài này? Hoặc xu hướng khép lại nỗi buồn
quá khứ để mở lòng với hiện tại và hướng tới tương lai? Tuy nhiên, không quá khó
để tìm câu trả lời cho vấn đề này. Thứ nhất, các nhà văn đi ra từ chiến tranh ngày
càng thưa vắng dần, chưa có sự bổ sung, thay thế từ các thế hệ kế tiếp. Thứ hai,
trong thời đại bùng nổ thông tin, đề tài chiến tranh không còn là món ăn tinh thần
duy nhất. Chính vì vậy, tiểu thuyết đương đại chuyển hướng sang những vấn đề
54
được coi là “hot” hơn, cập nhật hơn của đời sống muôn màu phức tạp, nằm trong
tầm đón đợi của cộng đồng tiếp nhận. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tồn
tại, phát triển của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng.
Dẫu vậy, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh như một dòng chảy âm ỉ, liên
tục, vẫn có sức hút và sự hấp dẫn đầy ma lực, đặc biệt với các nhà văn đã từng
khoác áo lính, vẫn có một đời sống riêng và chiếm một vị trí quan trọng trong đời
sống văn học. Có thể kể tới một loạt những tác phẩm được ra đời trong giai đoạn
này như sự bổ sung, tiếp nối mạch đề tài chiến tranh. Đó là: Không phải huyền
thoại (Hữu Mai), Ngày rất dài (Nam Hà), Xuân Lộc (Hoàng Đình Quang), Khúc bi
tráng cuối cùng (Chu Lai), Những cánh rừng lá đỏ (Hồ Phương), Sóng chìm (Đình
Kính), Lạc rừng, Tiễn biệt những ngày buồn (Trung Trung Đỉnh), Tàn đen đốm đỏ
(Phạm Ngọc Tiến), Phòng tuyến sông Bồ (Đỗ Kim Cuông), Những bức tường lửa,
Đối chiến (Khuất Quang Thụy), Thượng Đức (Nguyễn Bảo)…
Vẫn tiếp nối những thành tựu rực rỡ của giai đoạn trước, tiểu thuyết viết về
chiến tranh giai đoạn 1990 đến cuối thế kỷ XX tiếp tục đổi mới, “ngoài cảm hứng
anh hùng ca nó còn được chi phối bởi cảm hứng đời tư, mà cụ thể là các nhà tiểu
thuyết rất có ý thức sử dụng chất liệu đời tư cá nhân làm cho tác phẩm gần với cuộc
sống hơn, sinh động hơn” [188, tr. 46]. Tuy không còn phong độ đỉnh cao của thời
kỳ trước, các nhà văn đương đại cũng đã rất nỗ lực trong việc đổi mới trong tư duy
tiểu thuyết, tìm tòi những hình thức thể hiện mới. Mọi phương diện thi pháp như:
nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, nghệ thuật tổ chức thời gian-
không gian, nghệ thuật trần thuật… vẫn không ngừng được tìm tòi, đổi mới để duy
trì một mảng đề tài đã đồng hành cùng với văn học dân tộc ngót 3/4 thế kỷ.
2.3.3. Những cách tân về thi pháp thể loại
Nằm trong làn sóng tìm tòi của văn chương cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI,
một trong những trăn trở lớn nhất của các nhà văn đặt ra cho các tiểu thuyết chiến
tranh của mình giai đoạn 1986 đến cuối thế kỷ XX không phải là “viết về cái gì?”
mà là viết “như thế nào?”. Văn học ngày nay sẽ trở nên lạc lõng nếu quá chú trọng
55
vào “mã chính trị”, là vũ khí tuyên truyền tư tưởng phục vụ đường lối của Đảng
mà sự sống còn của nó là phải đi sâu vào những vấn đề phức tạp của đời sống, của
hệ giá trị nhân bản. Cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và người lính là những
đổi mới mạnh mẽ trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau 1986. Cùng với đó
là sự xuất hiện của cảm hứng phê phán bên cạnh cảm hứng ngợi ca. Hiện thực
chiến tranh trong các tác phẩm giờ đây không còn mang tính chất minh họa, xơ
cứng, không thể đặt trong cục diện một chiều theo kiểu ta thắng- địch thua, chính
nghĩa chiến thắng phi nghĩa mà phải được nhìn nhận với tất cả “nội hàm” của nó
trên bình diện triết học, nhân sinh. Đời sống chiến tranh diễn ra cả ở tiền tuyến lẫn
hậu phương. Bên cạnh chiến công là những mất mát, hi sinh. Có thuận lợi nhưng
cũng đầy rẫy những khó khăn. Có nụ cười chiến thắng nhưng đi cùng với nó là máu
và nước mắt. Có cái hào hùng bên cạnh cái bi hùng. Có mâu thuẫn địch - ta xen lẫn
những mâu thuẫn trong chính hàng ngũ của ta... Và hiện thực đó đã được chuyển
hoá thành những cuộc đối thoại dài, đa chiều giữa nhà văn với độc giả, giữa nhân
vật với nhân vật, giữa nhân vật với nhà văn. Đó cũng chính là biểu hiện của nhu
cầu nhận thức lại cuộc chiến sau một độ lùi thời gian nhất định để từ đó đi vào
khám phá, giải mã bản chất của chiến tranh ở tận cùng gốc rễ của nó… Chính
những điều đó đã tạo nên chiều sâu và tính triết luận trong việc nhìn nhận, đánh giá
về cuộc chiến, về những giá trị hiện tồn sau chiến tranh… trong tiểu thuyết giai
đoạn này: “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn lại là một sự thật đã được trải
qua những năm tháng day dứt trăn trở trong tâm hồn nhà văn, hơn thế, nó thực sự là
những nếm trải của người “chịu trận”, người trong cuộc” [53, tr. 114].
Bên cạnh hiện thực chiến tranh cùng cái nhìn nghệ thuật về đời sống xã hội,
quan niệm nghệ thuật và cái nhìn về con người trong chiến tranh, người lính – chủ
thể của cuộc chiến cũng có nhiều thay đổi. Không chỉ được miêu tả trong bối cảnh
chiến trận mà còn được đặt giữa chằng chịt mối quan hệ ngổn ngang, bề bộn của
cuộc sống hậu chiến. Chính vì vậy, nhân vật người lính đã không còn khoảng cách
sử thi: đời thường, gần gũi, bình dị hơn rất nhiều. Họ không chỉ là những người anh
56
hùng mang vẻ đẹp lý tưởng, mà còn là con người cá nhân bình thường với đầy đủ
những khát khao, dục vọng, thậm chí còn hèn nhát, xấu xa, ích kỷ và bị tha hóa bởi
hoàn cảnh chiến tranh; không chỉ là những con người lạc quan cách mạng, phơi
phới niềm tin chiến thắng mà còn là con người mang số phận bi kịch bởi chiến
tranh. Những con người đó không còn là mẫu mực cao cả, được đặt trong môi
trường “vô trùng” mà xuất hiện với tư cách là một con người với đầy đủ lý trí, tình
cảm, ý thức, vô thức, với những khát khao bản năng, đuợc mô tả, soi rọi dưới cái
nhìn chân thực và nhân văn. Đây là môt phương diện biểu thị rõ nhất sự thay đổi từ
cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư thế sự, là sự thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần
“phản tỉnh” trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1986.
Nếu trong đa phần các tiểu thuyết chiến tranh trước 1975, nhân vật kẻ thù-
những người ở bên kia chiến tuyến thường được miêu tả rập khuôn, đơn giản, với
những biểu hiện hành động tàn ác, bất nhân, ngu dốt, xấu xa, hèn hạ… thì đến giai
đoạn này, các nhà văn đã có sự thay đổi hướng nhìn và cách mô tả, xây dựng hình
tượng nhân vật kẻ thù. Với cái nhìn khách quan, điềm tĩnh của các nhà văn, hình
ảnh kẻ thù cũng đã sinh sắc hơn, có đời sống nội tâm phức tạp, tính cách nhân vật
được phát triển tự nhiên, chân thực, gần gũi, không gò ép, khiên cưỡng. Đó là
những con người cũng có lý tưởng, cũng biết yêu thương, có lòng vị tha… có nghĩa
là: kẻ thù hiện lên qua gương mặt và số phận của một con người. Đặc điểm này
được thể hiện rất rõ trong Mây cuối chân trời của Nguyễn Trọng Oánh và Thượng
đức của Nguyễn Bảo. Đây có thể xem là sự đổi mới rất đáng ghi nhận của tiểu
thuyết sau đổi mới, nó thể hiện sự trưởng thành của các nhà văn trong việc nhìn
nhận những giá trị lịch sử và chiến tranh, nói lên sự gắn bó của văn học với đời
sống dân tộc, và đặc biệt đã thể hiện được giá trị nhân văn của tiểu thuyết chiến
tranh trong giai đoạn hội nhập mở cửa.
Đa dạng hóa điểm nhìn trong phương thức trần thuật là một thành tựu cách
tân rất đáng ghi nhận của tiểu thuyết chiến tranh sau 1986 trên bình diện nghệ thuật
tự sự. Nó tạo nên một đặc trưng tiêu biểu, một sự khác biệt rất lớn của tiểu thuyết
57
chiến tranh giai đoạn này với giai đoạn trước 1975. Điểm nhìn trong tiểu thuyết sử
thi 1945- 1975 là điểm nhìn thống nhất, ổn định, điểm nhìn bên ngoài “toàn tri”.
Điều này đã tạo ra khoảng lặng giữa người trần thuật và nhân vật, vì thế khó có thể
đi sâu vào những diễn biến tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở, những biến thái
phức tạp của nội tâm nhân vật. Sau 1986, việc sử dụng linh hoạt các điểm nhìn trần
thuật đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật phong phú cho tiểu thuyết viết về chiến tranh.
Các nhà văn đã dịch chuyển điểm nhìn vào nhiều nhân vật, mỗi nhân vật là một sự
tự ý thức, một cá tính, một đời sống riêng. Từ đó tạo ra một trường nhìn phức hợp
về chiến tranh. Nhờ đó, bộ mặt chiến tranh hiện lên khách quan và toàn vẹn hơn
trong sự tự ý thức của mỗi nhân vật. Đa dạng hóa điểm nhìn đã tạo nên tính đa
thanh về giọng điệu cho tiểu thuyết, tạo cho lời văn tính chất lưỡng thể, tạo cho
nhân vật nhu cầu đối thoại, thu hút, lôi kéo người đọc tham gia vào câu chuyện, thậm
chí là tranh biện để tìm ra chân lý từ các vấn đề mà tác giả đã gợi mở.
Bên cạnh thi pháp hoàn cảnh, nhân vật, những đổi mới về hình thức kết cấu,
tổ chức không- thời gian nghệ thuật, đa dạng hoá điểm nhìn, ngôi kể, bút pháp, thủ
pháp, ngôn ngữ, giọng điệu … đã để lại dấu ấn riêng cho tiểu thuyết viết về chiến
tranh sau 1986. Thay vì kết cấu theo trật tự tuyến tính, các nhà văn đã sử dụng kết
cấu phi trật tư tuyến tính, kết cấu lồng ghép, kết cấu phân mảnh để thế chỗ cho kết
cấu sử thi hoành tráng dựa trên dòng thời gian - sự kiện. Bút pháp trữ tình đã được
sử dụng hợp lý để thể hiện nhu cầu giải phóng cái tôi bản thể và diễn tả sâu sắc
những ám ảnh, những chấn thương trong tâm hồn con người do chiến tranh gây ra.
Thủ pháp dòng ý thức và thủ pháp huyền ảo là những kỹ thuật được nhiều nhà văn
sử dụng mang lại hiệu ứng nghệ thuật mới mẻ cho tiểu thuyết chiến tranh sau 1986.
Cả hai thủ pháp này với việc thông qua những dòng hồi ức, những giấc mơ, những
dự cảm, những điềm báo… đã chiếu vào những góc tối, những mặt khuất lấp trong
tâm hồn nhân vật, thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc của con người và bộ mặt
ghê gớm, khốc liệt của chiến tranh. Ngôn ngữ, giọng điệu trong các tác phẩm cũng
có nhiều đột phá mới mẻ, hấp dẫn. Việc xuất hiện ngôn ngữ tính dục trong nhiều
58
tiểu thuyết giai đoạn này cho thấy các nhân vật đã được khám phá từ góc độ bản
năng, không cần che đậy, giấu diếm. Sự thuần nhất về giọng điệu, một trong những
đặc điểm lớn của tiểu thuyết chiến tranh 1945- 1975 đã bị phá vỡ trong các tác
phẩm sau 1986. Thay thế vào đó là sự đan xen, phối hợp nhiều giọng điệu khác
nhau. Việc sử dụng linh hoạt ngôi kể và sự đa dạng hoá điểm nhìn trong các tác
phẩm đã tạo nên những thay đổi theo chiều hướng hiện đại của văn bản trần thuật
và sự phong phú về giọng điệu. Nếu không gian trong tiểu thuyết trước 1975 là
không gian rộng mở, không gian cộng đồng luôn có xu hướng vươn tới tầm vóc sử
thi, thời gian chủ yếu là thời gian hiện tại thì giờ đây không gian đã được xếp
chồng lên nhiều mô hình vật thể và tâm tưởng, thời gian luôn có sự đan xen giữa
các chiều quá khứ, hiện tại... Tất cả đã tạo nên tính hiện đại và dáng dấp hậu hiện
đại cho tiểu thuyết chiến tranh sau 1986.
Tiểu kết
Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam hiện đại từ
1945 đến những năm cuối thế kỷ XX là một dòng chảy liên tục, được đánh dấu bởi
hai mốc thời gian, hai chặng đường phát triển quan trọng. Thời kỳ 1945- 1975 là
thời kỳ của âm hưởng sử thi với những tiểu thuyết được coi là mẫu mực để ngợi ca
sức mạnh của chiến tranh nhân dân, chủ nghĩa anh hùng và lý tưởng cách mạng cao
cả. Thời kỳ sau 1975, đặc biệt là từ 1986, là sự xuất hiện của cảm hứng thế sự- đời
tư. Sự thay thế đó phù hợp với tinh thần “phản tư”, cùng nhu cầu nhận thức lại thực
tại chiến tranh. Trong thành tựu và sự khởi sắc của văn học thời kỳ đổi mới nói
chung và tiểu thuyết nói riêng có đóng góp đắc lực của thể tài chiến tranh. Những
cách tân theo chiều hướng hiện đại từ kết cấu đến nhân vật, từ cấu trúc không- thời
gian nghệ thuật đến đặc điểm diễn ngôn… đã tạo nên sức sống, diện mạo và bước
đột phá mới cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đương đại. Trong hành trình
dài gần một thế kỷ, cho đến nay, khi đất nước hoàn toàn giải phóng đã được 40
năm, trong diễn trình văn học Việt Nam chiến tranh vẫn là một đề tài không cạn
kiệt, thậm chí là “siêu đề tài” bởi mặc dầu có những rạn vỡ và tiếp biến nhưng chưa
59
bao giờ bị thay thế, bị đứt gãy và có khoảng trống. Ngược lại, nó là hành trang
quan trọng của nhiều thế hệ nhà văn, đặc biệt là những nhà văn cầm súng; là ký ức
dân tộc; là diễn đàn đối thoại toàn cầu: dân chủ, đa phương và thấm đẫm triết lý
nhân sinh. Về phía nhà văn, chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh xuyên thời gian, là sự
thách thức tài năng nhưng đồng thời cũng là một không gian sáng tạo có sức “vẫy
gọi”. Về phía người đọc, sự kỳ vọng vào những tác phẩm viết về chiến tranh đạt
đến tầm nhân loại như Chiến tranh và hoà bình – Tônxtôi, Sông Đông êm đềm –
Sôlôkhốp, Chuông nguyện hồn ai – Hêminuây, Phía Tây không có gì lạ - Rơmác
v.v…vẫn đang còn ở phía trước, thuộc “thì tương lai” đúng như bản chất thể loại
60
của tiểu thuyết.
CHƢƠNG 3:
CÁC GÓC TIẾP CẬN HIỆN THỰC CHIẾN TRANH
TRONG BA TIỂU THUYẾT DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH, ĐẤT TRẮNG
VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
3.1. Các mô hình phản ánh hiện thực trong văn học
Mimesis (sự mô phỏng) là một trong những vấn đề trung tâm của văn học
phương Tây truyền thống. Quan niệm này cho rằng nghệ thuật là sự mô phỏng
của hiện thực. Nó xuất hiện từ thời cổ đại với Platon khi ông cho rằng thế giới tự
nhiên là sự mô phỏng ý niệm tuyệt đối, còn nghệ thuật là sự mô phỏng thế giới
tự nhiên. Aristote trong công trình có chất nền tảng của lý luận văn học phương
Tây Nghệ thuật thơ ca đã gọi tất cả các loại hình nghệ thuật là “nghệ thuật mô
phỏng”. Ông cho rằng dựa vào tính mô phỏng này (phương tiện, đối tượng,
phương thức) mà nghệ thuật được phân chia thành các lĩnh vực khác nhau: “Sử
thi, bi kịch thi cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo,
nhạc đàn lục huyền- tất cả những cái đó, nói chung, đều là những nghệ thuật mô
phỏng; giữa chúng có ba điểm khác nhau: hoặc thực hiện sự mô phỏng bằng cái
gì hoặc mô phỏng cái gì hoặc mô phỏng như thế nào- cho nên không phải lúc
nào cũng như nhau cả” [6, tr. 15]. Ông cũng cho rằng nguyên nhân làm nảy sinh
ra nghệ thuật thơ ca, thứ nhất là do sự mô phỏng có sẵn trong con người (và làm
cho con người khác giống vật), và thứ hai là sản phẩm của sự mô phỏng mang
lại sự thích thú cho con người. Cũng dựa vào tính chất mô phỏng này mà ông đã
phân chia văn chương ra thành các thể loại khác nhau. Nếu Platon cho rằng nghệ
thuật mới chỉ mô phỏng cái bên ngoài thì Aristote đã cho rằng nghệ thuật mô
phỏng chân lý. Quan niệm về bản chất “mô phỏng” của nghệ thuật đã thống trị
61
nền nghệ thuật phương Tây suốt nhiều thế kỷ cho đến trước chủ nghĩa lãng mạn.
Các mệnh đề nổi tiếng của chủ nghĩa hiện thực được nhắc đi nhắc lại “văn học là
tấm gương phản chiếu đời sống xã hội” (Stanhdal), “nhà văn là thư kí của thời đại”
(Balzac)...
Phản ánh luận trước hết là vấn đề triết học. Xuất hiện từ trước, nhưng phải
đến Mác và Ănghen, phản ánh luận mới thực sự được đặt nền móng: “Ý thức
không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức” (Hệ tư tưởng Đức)
[114, tr. 62]. Lênin là người đã hoàn thiện phản ánh luận trong các tác phẩm Bút ký
triết học, và nhất là Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, bao
gồm các vấn đề về nguồn gốc, khả năng và quá trình của nhận thức. Phản ánh luận
của Mác- Lênin khẳng định bản chất thế giới là vật chất, tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức con người. Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất
quyết định ý thức. Ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con
người. Nhưng phản ánh luận cũng là vấn đề mỹ học. Phản ánh luận cho rằng hiện
thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức. Trong khi đó, nghệ thuật là một hình
thái ý thức, nên đời sống hiện thực chính là cơ sở cho sự phát triển của các hình
thức nghệ thuật cũng như là nguồn gốc lý giải cho mọi vấn đề của nghệ thuật. Nhà
văn dù có thể lựa chọn bất kỳ phương pháp sáng tác nào theo thế giới quan riêng
của họ, nhưng xét cho cùng, tất cả đều có nguồn gốc từ thực tại khách quan. Do đó,
tính hiện thực là thuộc tính khách quan và tất yếu của nghệ thuật. Văn học chính là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Văn học phản ánh thế giới khách quan
qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Tuy không thể coi phản ánh luận là lí thuyết
duy nhất và là chân lý để giải thích mọi vấn đề của văn học nghệ thuật nhưng
không thể phủ nhận phản ánh luận góp một góc nhìn trong việc tìm hiểu bản chất
của văn học và có tác động rất lớn đến thực tiễn văn học của thế kỷ XIX- XX.
Quan niệm phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các giá trị nhận thức, đạo đức
và thẩm mĩ của đời sống, phê phán các mặt xấu xa, đen tối của hiện thực, góp phần
vào vấn đề tiến bộ của xã hội đã diễn đạt khái quát mối quan hệ giữa văn học và
đời sống lịch sử, nghĩa là mọi vấn đề được thể hiện trong văn học đều là sự phản
62
ánh của đời sống xã hội.
Khái niệm “chủ nghĩa hiện thực” được dùng với nhiều nghĩa, có khi là kiểu
sáng tác “tái hiện”, “mô phỏng”, nhưng có khi là chỉ phương pháp sáng tác, hay
một trào lưu văn học. Chủ nghĩa hiện thực đạt đỉnh cao nhất là thế kỷ XIX ở châu
u, còn gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển hay chủ nghĩa hiện thực phê phán (vì
cảm hứng chủ đạo của nó là phê phán). Phát triển trong giai đoạn hưng thịnh của
chủ nghĩa duy vật và duy vật biện chứng, chủ nghĩa hiện thực phê phán với tham
vọng phản ánh cuộc sống xã hội một cách toàn diện đã đề cao nguyên tắc lịch sử-
cụ thể, yêu cầu xem xét mọi sự vật trong tính thực trạng của nó. Chủ nghĩa hiện
thực chủ trương phản ánh đời sống như nó vốn có trong thực tế. Cũng vì vậy mà
các nhà văn hiện thực phê phán luôn đặt con người trong một hoàn cảnh nhất định
để triển khai tính cách của nhân vật theo sự vận động của hoàn cảnh. Vì thế, một
nguyên tắc nữa của văn học hiện thực phê phán là xây dựng tính cách điển hình
trong hoàn cảnh điển hình, là sự thống nhất giữa cái chung khái quát cao và cái
riêng đặc thù, là “người lạ quen biết” (Biêlinski).
Khái niệm “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” được ra đời ở Liên Xô
đầu thế kỷ XX để chỉ một phương pháp sáng tác của nền văn học vô sản cách mạng
mà tác phẩm được coi là mở đầu là Người mẹ (1906) của M.Gorki. Thực chất
phương pháp sáng tác của trào lưu này vẫn thuộc về chủ nghĩa hiện thực Nga thế
kỷ XIX. Tuy nhiên, sự khác biệt ở chỗ: “Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
yêu cầu mô tả cuộc sống một cách chân thực, lịch sử- cụ thể và trong quá trình phát
triển cách mạng của nó, và trên cơ sở sự mô tả đó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa
cộng sản cho người lao động.” (Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô, 1934) [114, tr. 586].
Vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là nguyên lý tính đảng
cộng sản. Nền văn học mang tính đảng cộng sản phải trở thành một bộ phận hữu cơ
trong sự nghiệp đấu tranh của Đảng, do Đảng lãnh đạo cả về tư tưởng lẫn tổ chức.
Trái lại với nhân vật trung tâm là những con người nhỏ bé tầm thường trong văn
học hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xây dựng những nhân
vật trung tâm chính diện, những người vô sản tự hào, nghiêm túc và lãng mạn. Cảm
63
hứng chủ đạo của trào lưu văn học này là cảm hứng ngợi ca, khẳng định cuộc sống
mới. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa kế thừa nguyên tắc điển hình hóa của
chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng đòi hỏi chất lượng cao hơn và đặt vào quá
trình phát triển cách mạng để trở thành những anh hùng, những con người chiến
thắng mang dự cảm tương lai rõ nét.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã là phương pháp sáng tác bao trùm
văn học viết về chiến tranh của Việt Nam trong thế kỷ XX. Tuy nhiên, từ sau đổi
mới, các trào lưu hiện đại và hậu hiện đại đã ùa vào, tác động đến quan niệm và
thực tiễn sáng tác cuối thế kỷ XIX đến nay. Sự biến động về xã hội dẫn theo những
xáo trộn về tư duy, nhận thức cũng như quan niệm thẩm mỹ đã khiến nền văn học
viết về chiến tranh có những thay đổi nhanh chóng. Hiện thực chiến tranh không
còn nằm gọn trong khuôn khổ của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
mà đã vươn ra những giới hạn khác. Tuy vậy, xét cho cùng, nền văn chương nào
cũng hình thành trên cơ sở một hiện thực xã hội nhất định, mọi tác phẩm đều nảy
sinh từ những vấn đề cuộc sống, mọi nhà văn đều ra đời từ một môi trường sống cụ
thể.
3.2. Từ đại tự sự đến dấu hiệu của các tiểu tự sự
Chủ nghĩa hậu hiện đại với các đại diện tiêu biểu là J. F. Lyotard, Foucault,
P. Anderson, T. Eagleton, F. Jameson, J. Baudrillard, I. Hassan, Derrida… ra đời
vào những năm 1960 như một sự phản ứng lại với chủ nghĩa hiện đại, phản ứng lại
những mô thức định sẵn. Theo một số triết gia thì tinh thần hậu hiện đại là một khái
niệm xuất hiện trong bất kì xã hội nào, thời đại nào có sự khủng hoảng tinh thần.
Hậu hiện đại là một khái niệm về một trạng thái tinh thần của thời đại chứ không
giới hạn trong lĩnh vực văn nghệ như một số trào lưu khác. Về lý thuyết, chủ nghĩa
hậu hiện đại phủ nhận những định đề căn bản của chủ nghĩa hiện đại với hai yếu tố
chủ đạo cho mọi nền tảng triết lý của nó là Tri Thức Khách Quan (Objective
Knowledge) và Sự Thật Tuyệt Đối (Absolute Truth). Lý thuyết chủ nghĩa hậu hiện
đại phản biện rằng những gì chúng ta gọi là Tri Thức chỉ là những diễn ngôn phù
64
hợp với quyền lợi của một thành phần có quyền lực trong nền văn hoá đó.
“Đại tự sự” (grand narratives) hay tự sự chủ (master narratives), siêu tự sự
(metanarrative) là một khái niệm của chủ nghĩa Hậu hiện đại (Postmodernism),
được Lyotard đưa ra trong cuốn Hoàn cảnh Hậu hiện đại. Theo Lyotard thì thực ra
tính toàn thể, tính ổn định, tính trật tự trong xã hội hiện đại được duy trì thông qua
những thần thoại hợp lý hoá (legitimating myths), hay những đại tự sự (grand
narratives) của thời kỳ hiện đại. Lyotard cho rằng, mọi khía cạnh của xã hội hiện
đại đều hoàn toàn phụ thuộc vào những đại tự sự, trong đó bao gồm cả hình thức
căn bản của tri thức là khoa học. Theo quan niệm của ông, đại tự sự có thể coi là
những câu chuyện “có tính cách thần thoại” mà một nền văn hoá tự tạo ra và kể về
niềm tin và hành động thực tiễn của nó. Nó là những hệ thống lý luận giữ vai trò
của các “siêu ngôn ngữ” hay “siêu tự sự” để chứng thực, hay nói cách khác là để
“hợp thức hóa” các tri thức khoa học. Nhưng sang giai đoạn hậu hiện đại, việc hợp
thực hóa này không còn có thể thực hiện được nữa, các đại tự sự đã đánh mất sức
mạnh của nó. Chủ nghĩa hậu hiện đại là sự hoài nghi các siêu tự sự của chủ nghĩa
hiện đại bằng cách cảnh báo rằng, những đại tự sự đó thực chất là hình thức hợp
thức hóa các mặt đối lập và bất định gắn liền với mọi thiết chế xã hội cũng như mọi
thực tiễn hành động. “Chức năng tự sự mất đi các người mang chức năng: các anh
hùng lớn, các hiểm họa lớn, các chuyến hải hành lớn và mục đích lớn. Nó tan ra
thành từng mảng các yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự, nhưng cũng là tính sở thị,
tính chỉ thị, tính miêu tả, v.v… và mỗi thứ đó mang chở theo mình những trị số
dụng hành (valences pragmatiques) sui generis (đặc thù). Mỗi người chúng ta sống
ở ngã tư đường hay nơi giao nhau của nhiều yếu tố đó. Chúng ta không nhất thiết
tạo nên những kết hợp ngôn ngữ ổn định, và những thuộc tính của những kết hợp
mà chúng ta tạo nên không nhất thiết là có thể tương thông với nhau được.” [115,
tr. 55] Chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương làm hòa với những bất ổn, hồ nghi, đổ vỡ
thay vì cố gắng vô vọng che giấu, áp đặt nó, do đó hậu hiện đại cổ vũ sự xuất hiện
của tiểu tự sự (little narrative) sau một quá trình giải đại tự sự. Vì thế, có thể nói,
chủ nghĩa hậu hiện đại là một xu thế giải trung tâm hóa (hay phi trung tâm hóa- la
65
décentralisation), giải cấu trúc (hay giải kết cấu- la déconstruction), phân rã (hay
phát tán– la dispersion), phân mảnh (hay mảnh vỡ- le fragmentisme), tính đa trị (le
pluralisme)… với những đại diện nổi tiếng như Ihab Hassan, J.F. Lyotard, J.
Baudrillard… Nó cũng cổ vũ cho các xu thế đa trung tâm (le pluricentrisme), chiết
trung (l’électicisme), khoan dung (la tolérence)… với các đại diện như John Barth,
U. Eco, G. Vattimo, G. Durand… Thực chất, các xu hướng này đều nảy sinh trên
cơ sở nguyên tắc phản- mô phỏng, tức là chống lại quan niệm nghệ thuật là sự mô
phỏng- bắt chước của Aristote, cũng là chống lại quan niệm về cái tổng thể coi xã
hội như một tổng thể thống nhất không thể chia tách.
Trong văn học Việt Nam, hình thức đại tự sự là dễ nhận thấy. Các dạng thức
sử thi có thể coi là một trong những hình thức điển hình của đại tự sự. Tiểu thuyết
sử thi lấy đại tự sự làm thế giới tinh thần của nó. Với tiểu thuyết sử thi, cộng đồng
chính là trung tâm phản ánh, là tinh thần, mục đích cũng như thước đo giá trị của
tác phẩm. Dấu chân người lính và Đất trắng đều thuộc về hệ thống đại tự sự của
thời hiện đại, của thời đại chiến tranh cách mạng. Dấu chân người lính là một bản
anh hùng ca trong sáng, nguyên khối và trọn vẹn lý tưởng cũng như niềm tin của
thời đại chống Mỹ. Ở Dấu chân người lính, “khoảng cách sử thi” được tôn trọng
tuyệt đối. Nhà văn đứng từ xa chiêm ngưỡng thế giới mang màu sắc sử thi trong tác
phẩm của mình. Toàn bộ tác phẩm là niềm tin không chút gợn đối với lý tưởng
cách mạng, là khí thế hừng hực của một thời đại nô nức ra trận, cùng hướng tới
chiến thắng cuối cùng. Các nhân vật trong tác phẩm đều có tính nguyên khối, tính
cách và hành động của nhân vật thống nhất từ đầu đến cuối, không đặt ra những
câu hỏi, những thách thức cho người đọc trong vấn đề nhận định vị trí của nhân vật
trong tác phẩm. Ranh giới giữa hai chiến tuyến địch- ta, thiện- ác trong tác phẩm
rành mạch và rõ ràng. Có thể nói, Nguyễn Minh Châu đã kể lại một chân lý tương
đồng với thời đại của mình, một thứ chân lý đã hoàn tất, xong xuôi, không cần phán
xét, không cần đối thoại.
Dù Đất trắng phản ánh nhiều mặt phức tạp hơn của hiện thực chiến tranh,
nhưng nó vẫn nằm chung trong mô thức tư duy của tiểu thuyết truyền thống, chưa
66
đi xa khỏi hình thức tiểu thuyết sử thi. Cái nhìn vẫn nhìn thế giới qua lăng kính
quyền lợi, ước vọng của cả cộng đồng. Chất sử thi trong Đất trắng vẫn còn khá
đậm đặc, tuy vậy, chất thế sự đã rút ngắn “khoảng cách sử thi” một cách đáng kể. Ở
Đất trắng, thế giới nhân vật đã gần hơn với cuộc sống đời thường, các nhân vật
không còn sống trong một bầu khí quyền “vô trùng” nữa mà đã bị nhúng vào hiện
thực nhiều chiều. Đất trắng cho thấy niềm tin về chiến thắng, nhưng cũng bộc lộ ra
những khó khăn gian khổ của cuộc chiến đấu. Tác phẩm kể về một trong những
giai đoạn khó khăn nhất của cuộc chiến đấu, ở đó có cái đói, cái chết, có mất mát,
hi sinh, có sự lung lay, mất niềm tin và bội phản. Nhưng trên hết, toàn bộ tác phẩm
là niềm tin vào lý tưởng trước sau không hề thay đổi của thời đại. Nó cho thấy chất
anh hùng của những người lính vẫn còn ít nhiều màu sắc sử thi, nhưng cũng lại hé
lộ chất đời thường, thậm chí những mặt trái của một số nhân vật. Ranh giới giữa ta
và địch, tốt và xấu có lúc đã trở nên mong manh, mờ nhòe. Có nhân vật mang yếu
tố tốt đẹp ở phía bên kia, nhưng cũng có nhân vật xấu xa ở phía bên này. Các nhân
vật anh hùng ít nhiều đều có phương diện đời thường chứ không còn hoàn hảo một
chiều như tác phẩm giai đoạn trước. Tuy vậy, tất cả những điều ấy vẫn chỉ nhằm
mục đích tôn lên chất anh hùng của các nhân vật này, để khẳng định niềm tin vào lý
tưởng chung của cả dân tộc. Đất trắng, vì thế, suy cho cùng vẫn chưa hoàn toàn
thoát khỏi cảm hứng sử thi của văn học chiến tranh 1945-1975 mà chỉ đưa nó gần
với hiện thực hơn.
Nỗi buồn chiến tranh là một sự phản tư về chính mình, về chiến tranh, về
thân phận con người. Nó bắt đầu đặt ra những vấn đề gần với tinh thần của hậu
hiện đại bằng sự khủng hoảng niềm tin vào những chân lý tưởng chừng bất biến
của một thời. Toàn bộ Nỗi buồn chiến tranh là nỗi đau của con người trước hiện
thực chiến tranh, là dấu hỏi đặt ra trước những mất mát và hủy hoại mà chiến tranh
đem lại cho nhân loại. Bước ra khỏi cảm hứng sử thi chi phối văn học chiến tranh ở
những thập niên trước, đối diện với thời kỳ đổi mới, Nỗi buồn chiến tranh đã đem
lại một cách tiếp cận hiện thực chiến tranh hoàn toàn khác. Không có ranh giới tốt-
xấu hay thiện- ác đơn thuần, con người vật lộn với câu hỏi về chiến tranh, về tội ác,
67
về nhân tính. Chiến tranh không còn là bản anh hùng ca biểu trưng sức mạnh của
dân tộc, ngợi ca những người anh hùng của thời đại, mà nó là nỗi đau, là sự hủy
diệt nhân tính, là sự phá hủy mọi ước mơ, tuổi trẻ và khát vọng, tình yêu của một
thế hệ. Người lính bước ra từ cuộc chiến tranh trong Nỗi buồn chiến tranh đã không
thể đối diện với cuộc sống bình thường. Quá khứ, hiện tại và tương lai của họ đã
hoàn toàn bị chiến tranh đẩy sang một thế giới khác. Họ đã mất phương hướng
trong cuộc đời này. Nhân vật Kiên trở về sau chiến tranh đã sống mãi trong những
giấc mơ, những mộng mị, những hoài niệm quá khứ chiến tranh, bị nó ám ảnh, dày
vò. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết như những ghi chép rời rạc các giấc mộng, các mảnh
vỡ quá khứ của Kiên. Tiểu thuyết của Bảo Ninh tiếp cận nỗi buồn chiến tranh từ
phía số phận cá nhân của con người. Nó đặt câu hỏi trước định đề vận mệnh dân
tộc cao hơn số phận mỗi cá nhân. Nó là những cuộc đối thoại, về cả nội dung và
hình thức, liên tục những câu hỏi đặt ra không được giải đáp. Nỗi buồn chiến tranh
là một cách lý giải của riêng Bảo Ninh về một cuộc chiến tranh đã chưa bao giờ lùi
xa trong tâm thức của người Việt Nam. Có thể coi Nỗi buồn chiến tranh như một
trong những dấu hiệu sớm của dạng thức “tiểu tự sự” hay “tinh thần hậu hiện đại”
trong văn học hiện đại Việt Nam. Văn học chiến tranh của thế kỷ XXI, tuy không
còn là chủ đề nóng, nhưng sẽ đi xa hơn về phía này. Mình và họ của Nguyễn Bình
Phương viết về một cuộc chiến tranh khác, nhưng thực sự đã thoát khỏi cái bóng
của các “đại tự sự” của thế kỷ XX.
3.3. Hiện thực chiến trƣờng
Góc tiếp cận hiện thực chiến tranh ngắn nhất là nhằm đến khung cảnh chiến
trường, nơi diễn ra những cuộc giao tranh. Đó chính là hiện thực chiến trận. Khắc
hoạ hiện thực cuộc sống diễn ra nơi chiến trường đồng nghĩa với việc các tác giả
mô tả bộ mặt, tính chất của cuộc chiến một cách chân thực, sống động và trực tiếp
nhất. Với ưu thế của một cấu trúc tự sự lớn, tiểu thuyết có khả năng chiếm lĩnh và
tái tạo hiện thực trong tính toàn vẹn, tổng thể, gần gũi và sinh động. Chính nhờ đặc
trưng đó, hiện thực chiến trận trong ba tiểu thuyết Dấu chân người lính, Đất trắng,
68
Nỗi buồn chiến tranh đã được mô tả theo đúng tinh thần thể loại: đa dạng, đa chiều,
có tầm vóc, qui mô, có sức chứa về dung lượng và khả năng bao quát hiện thực. Ở
mỗi thời kỳ, hiện thực chiến tranh lại được tiếp cận và phản ánh từ những góc nhìn
khác nhau, chịu sự chi phối của những cảm hứng sáng tác có nhiều thay đổi qua
từng chặng đường văn học. Nhìn vào đồ thị vận động của thể tài chiến tranh qua ba
tiểu thuyết, người đọc sẽ nhận diện được các đặc điểm, cảm hiểu sâu hơn những
chuyển đổi trong quan điểm sáng tác, tư duy thể loại và cách thức khai thác, phản
ánh hiện thực chiến tranh của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh và Bảo
Ninh.
3.3.1. Bản anh hùng ca chiến trường trong Dấu chân người lính
Dưới tầm ảnh hưởng của khuynh hướng sử thi kết hợp nhuần nhuyễn với
cảm hứng lãng mạn, chịu sự chi phối của nguyên tắc và đặc trưng thẩm mỹ của văn
học chiến tranh cách mạng 1945-1975, Dấu chân người lính đã phản ánh sinh động
và hào hùng khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của tuổi trẻ Việt Nam nói
riêng và cả dân tộc nói chung thời chống Mỹ. Trong hùng khí ấy, Nguyễn Minh
Châu đã đưa người đọc tham dự vào một chiến dịch lớn của quân giải phóng miền
Nam trên chiến trường Trị - Thiên với những cánh rừng Trường Sơn ngút ngàn,
những địa danh đã trở thành điểm nóng của một vùng khốc liệt như Đường 9, Khe
Sanh, sân bay Tà Cơn… Cuộc ra quân hùng hậu, rầm rộ và náo nhiệt hiển thị lên
từng trang viết của Nguyễn Minh Châu: “Đông đúc quá! Không có ai tài nào mà
phân biệt được hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cùng không thể biết đây là
đường rừng hay quảng trường, là rừng cây hay rừng người và súng đạn. Người ta
chỉ biết đông đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở và mùi mồ hôi người, là
tiếng nói ồn ào của cuộc sống, là đàn ong cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc,
là cơn giận dữ của đất nước lại một lần cầm lấy súng” [22, T.1, tr. 333]. Trải suốt
hai chương đầu của Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã miêu tả, “xây
đắp” con đường hành quân ra chiến trường khá ấn tượng với khí thế mạnh mẽ, phấn
chấn, vui tươi. Nó gần như là một cuộc biểu dương lực lượng, thể hiện sức mạnh
69
của dân tộc trong cuộc chiến thần thánh dù phải đương đầu với một siêu cường
quốc. Ở thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh, niềm vui được cầm súng ra mặt trận lan
toả khắp nơi nơi, tham dự vào đời sống văn chương, tạo ra một kiểu “diễn xướng”
riêng của thời đại chống Mỹ. Không chỉ trong văn xuôi, âm vực cao ấy chúng ta
cũng dễ dàng nhận thấy qua những trang thơ của Chính Hữu, Gia Dũng, Phạm Tiến
Duật…
Với khí thế hào hùng ấy, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo ấy, đặc biệt là
với nhuệ khí chiến đấu của mỗi người lính được thắp lửa bởi ý chí và sức mạnh của
một dân tộc giàu truyền thống chống ngoại xâm, chiến thắng đã đến với quân đội ta
như một tất yếu. Đó là những chiến công oanh liệt sau những cuộc đối đầu, giáp
mặt vô cùng cam go, ác liệt. Trong những cuộc chiến đấu ấy, có nhiều trận quân
giải phóng với lực lượng mỏng, lại bị xé lẻ, vũ khí thô sơ lại phải chống trả đội
quân Mỹ - Ngụy đông đảo, được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại. Vậy mà kết thúc
cuộc chiến không cân sức ấy, chiến thắng vẫn thuộc về quân ta. Sự thắng lợi, phép
“màu nhiệm” đó chỉ có thể cắt nghĩa bởi ý chí, sức mạnh kết tinh từ truyền thống
“lớp cha trước, lớp con sau” và quyết tâm đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, giành độc
lập tự do dù “phải đốt cháy dãy Trường Sơn”… Đi vào từng tình huống, từng trận
đánh cụ thể, Nguyễn Minh Châu đã có những miêu tả chi tiết hơn. Đó là cuộc tiến
công chớp nhoáng của tiểu đội trinh sát dưới sự chỉ huy của Khuê đánh thẳng vào
căn cứ địch khiến chúng không kịp trở tay, bị tiêu hao một lực lượng lớn, là cuộc
đụng độ với một tiểu đội địch của Lữ và Đàm. Và không thể không nhắc đến chiến
công thần kỳ bắn rơi máy bay Mỹ của Lượng, Hoan… Hình ảnh đồi 475 – cao
điểm giành giật giữa hai bên mà cuối cùng quân giải phóng đã cố thủ bị sạt đi hai
thước chiều cao vì bom cày đạn xới đã khắc hoạ mức độ ác liệt dữ dội có một
không hai của mặt trận Trị - Thiên. “Đồi không tên”, nơi những người lính trẻ
“đem ngực mình dựng thành chiến luỹ cản mười đợt tiến công điên cuồng của
địch”, làm nên kỳ tích và đã hằn sâu trong ký ức người đọc nhiều thế hệ cũng được
tạc dựng bằng những nét chạm khắc sử thi. Nhưng ở thời điểm đó, nó vẫn đủ sức
70
khơi gợi tình cảm yêu nước thiêng liêng. Dấu chân người lính khép lại ở chương
“Đất giải phóng”, khi chiến thắng đã hoàn toàn thuộc về ta như một thành quả tất
yếu, một món nợ mà kẻ thù phải trả sau những tội ác chúng đã gây nên. Phần
thưởng cao quí nhất mà những người lính có được sau bao ngày tháng gian khổ,
chiến đấu hy sinh quên mình, vật lộn với từng thước đất là một vùng quê hương
thân yêu đã được giải phóng: “Họ đã chiến đấu đến người cuối cùng, không có một
tên lính Mỹ nào bước qua nổi cái mảnh đất của Tổ quốc, nơi họ đứng cầm súng và
ngã xuống trong ngày hôm nay” [22, T.1, tr. 830]. Dẫu sau này, khi đối diện với
“trang giấy trước đèn”, Nguyễn Minh Châu thấy cần phải “đọc lời ai điếu” cho một
thời kỳ, một kiểu “văn chương minh hoạ” nhưng đặt trong diễn trình văn xuôi chiến
tranh cách mạng và chống Mỹ, Dấu chân người lính vẫn được mệnh danh là “bản
anh hùng ca” về sức mạnh chiến tranh nhân dân, về lý tưởng “Không có gì quí hơn
độc lập, tự do”, là một tác phẩm tiểu thuyết “xứng đáng với dân tộc, với thời đại”.
Kế thừa lối viết của những người đi trước, Nguyễn Minh Châu đã nhìn nhận
cuộc chiến theo qui luật và diễn biến riêng của đời sống chiến tranh. Từ một hiện
tượng bất thường của lịch sử, chiến tranh lại được hiện diện trở lại trong những tất
yếu và đôi khi trở thành cái bình thường, cái không thể khác của hoàn cảnh chiến
tranh: đó là sự chiến – bại, thắng – thua, thiếu thốn – gian khổ về vật chất, những
mất mát – hy sinh về thể xác lẫn tinh thần… Nguyễn Minh Châu đã không né tránh
hoàn toàn những gian lao, ác liệt kể cả mất mát, hy sinh nơi chiến trường. Người
đọc không thể quên những con đường Trường Sơn đầy hiểm nguy với pháo sáng,
bom đạn, chất độc hoá học của kẻ thù bao phủ bầu trời, cày xới mặt đất: “ban đêm
từng chùm pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng rừng,
trắng núi”, và “chúng rải chất độc hoá học và dùng máy bay B52 rải bom theo lối
rải thảm”. Bên cạnh những hiểm nguy luôn rình rập từ phía kẻ thù là những khó
khăn gian khổ tứ bề do khách quan đưa đến ngoài ước tính của con người. Đó là cái
nắng như đổ lửa, những trận rét thấu xương của miền rừng núi, đặc biệt là “những
cơn mưa rừng dai dẳng đến nỗi ba bốn ngày không sao đặt ba lô xuống được”. Rồi
71
những cuộc đối chiến không cân sức trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, ranh giới
giữa sự sống và cái chết là tích tắc, mong manh… Trong những tình thế bất khả
kháng đó, thương vong, chết chóc là điều không thể tránh. Người đọc thực sự xúc
động khi chứng kiến Chính uỷ Kinh bị lựu đạn hỏng một bên mắt, Lượng bị thương
dẫn đến hôn mê, bất tỉnh phải điều trị dài ngày… và vô cùng thương tiếc trước sự
hy sinh anh dũng của những người lính trẻ yêu đời, tràn đầy sức sống và phơi phới
tuổi thanh xuân như Lữ, Đàm, An… Tư thế ngã xuống của Lữ mặc dầu đã được
Nguyễn Minh Châu khắc hoạ theo bút pháp lý tưởng hoá nhưng sự hy sinh vĩnh
viễn nằm xuống của một chàng trai ưu tú là có thực. Chính điều đó tạo nên niềm
thương tiếc không nguôi: “Người chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hy sinh còn
ngẩng cao đầu lên một lần cuối cùng. Trên nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ
mỗi lúc một thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi lúc càng tiến dần đến trước mắt. Rồi
anh nhắm mắt hẳn. Những món tóc rất xanh rối bù dính bết máu phủ kín cả vầng
trán lấm tấm mồ hôi đã trắng nhợt. Dường như từ trong ngực anh chiếc đài vẫn nói
sang sảng” [22, T.1, tr. 827].
Rõ ràng, dưới sự dẫn dắt của cơ chế cảm hứng sử thi, việc đề cập đến những
khó khăn, gian khổ, mất mát, hy sinh… chính là cách để Nguyễn Minh Châu đề
cao, ngợi ca tinh thần chiến đấu quả cảm, bất chấp hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh của
quân giải phóng. Những tổn thất dù nặng nề cũng không thể làm suy giảm ý chí
quyết chiến quyết thắng của người chiến sĩ. Sức mạnh của tình yêu Tổ quốc, tình
đồng đội đã làm nên tất cả: Nó có thể xua tan cái giá rét, lạnh lẽo của rừng núi
Trường Sơn những đêm đông, làm dịu nỗi đau sau những tổn thất, hy sinh, mang
lại niềm vui, tiếng cười… Đó là sự lựa chọn tư thế sống và hành động không thể
khác của những người lính trong những năm tháng ấy. Trong khó khăn gian khổ,
người chiến sĩ đã lấy niềm vui, sự phấn chấn làm điểm tựa, động lực để vượt qua
mà không được phép mềm lòng, thở than, nhụt ý chí. Họ đến với Trường Sơn như
đến với ngày hội lớn của tuổi trẻ, của sự nghiệp giải phóng miền Nam: tự nguyện,
vui vẻ, hăng hái, nhiệt thành, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng. Những cánh
72
rừng Trường Sơn như được bừng thức bởi tiếng cười, tiếng hát, bởi sự hiện diện
của những gương mặt người lính trẻ trung, vui tươi, giàu sức sống: “Các ngả đường
ngập những lính, đâu đâu cũng nghe những tiếng hát, tiếng ồn ào của đám đông,
đâu đâu trong rừng cũng sực lên hơi người, đâu đâu cũng gặp những bếp than cháy
dở” [22, T.1, tr. 522]. Họ cười nói, hát hò, biểu diễn văn nghệ… mọi lúc, mọi khi,
thậm chí là cả trước giờ chiến đấu. Dường cho mọi âm thanh đều lắng xuống để
tiếng cười bật lên như một tín hiệu tốt lành giữa không gian chiến trận. “Có thể nói,
Dấu chân người lính là một rừng cười, cứ vài trang, ta lại nghe rộ lên tiếng cười
của các chàng lính trẻ” [63, tr 68]. Niềm hứng khởi, tinh thần lạc quan có được từ
thế hệ, từ cộng đồng là một nguồn lực tiếp thêm sức mạnh, ý chí cho mỗi người
lính để họ xông pha vào nơi hiểm nguy, đối đầu với mọi đau thương, mất mát. Lữ
đã ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản sau khi chủ động gọi pháo giặc dội xuống
đầu mình để cứu tổ máy, cứu đồng đội trong cuộc chiến đấu gian nguy trên đồi
475. Đàm trước ngày hy sinh, còn chép những câu thơ vui nhộn, tếu táo của cánh
lính vào sổ tay: “Hôm qua môn thục, hôm nay tai voi/ Nấu với cá suối ăn tươi ra
trò/ Bống, chạch câu bắt về kho/ Lá lốt xào ốc tha hồ trôi cơm/ Còn trời, còn nước,
còn non/ Còn rừng, còn suối ta còn chất tươi…” [22, T.1, tr. 556]. Chính uỷ Kinh,
trước cái chết của Lữ, đứa con thứ hai mà ông gửi gắm rất nhiều hy vọng đã không
hề gục ngã mặc dù ông vô cùng đau đớn, nhưng đã để nước mắt chảy vào trong.
Ông đã kìm nén cảm xúc, cố giữ vẻ bình thản để tiến hành tổ chức cuộc họp như
chưa có chuyện mất mát quá lớn vừa xẩy ra. Đó cũng là phép ứng xử không thể
khác của một người cha mang trọng trách là một người chỉ huy. Chính uỷ Kinh
không muốn vì nỗi đau riêng mà ảnh hưởng đến tinh thần, ý chí của cả một tập thể.
Đó quả là một thử thách quá sức chịu đựng của nhiều người, nhưng Chính uỷ Kinh
đã vượt qua, đã làm tròn trách nhiệm nặng nề mà cách mạng đặt lên vai mình trước
đồng đội, trước thế hệ con em đang từng ngày sống chết với kẻ thù.
3.3.2. Chiến trường khốc liệt và bi tráng trong Đất trắng
Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã từng nói: “Phải lấy con mắt nhìn hôm nay
73
để soi sự kiện hôm qua, con mắt nhà văn hôm nay nhìn lại sự việc thường tỉnh táo
hơn, khách quan hơn. Điều đó có thật. Nhưng ngày hôm nay bao giờ cũng là ngày
kế tiếp hôm qua. Hiện thực luôn phát triển và bổ sung cho nhau. Cái hôm nay bao
giờ cũng do cái hôm qua mà có… Muốn có cái nhìn khái quát, cần có cái nhìn cụ
thể. Phải nhìn từ cái cụ thể hôm qua thì mới có độ lùi khái quát hôm nay”. Và “nói
về quá khứ một cách nghiêm túc và trung thực thì không sợ không có điều gì để nói
với hôm nay”. Đất trắng (Tập 1, 1979; Tập 2, 1984) được ra đời xuất phát từ cách
nhìn và cách viết về chiến tranh hết sức đặc biệt như thế. Và có thể khẳng định
rằng, với Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh đã khơi nguồn cho một lối viết mới, một
suy nghĩ mới cho tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến. Đó là sự khai
thác, phản ánh chiến tranh ở góc độ quyết liệt nhất, để rồi trong sự quyết liệt ấy sự
thật và sự giả dối được bộc lộ, phân định rách ròi.
Đất trắng viết về những hoạt động của Trung đoàn Mười Sáu sau đợt một
của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trung đoàn Mười Sáu
là một đơn vị có truyền thống chiến đấu oanh liệt đã ghi được nhiều chiến công
hiển hách từ thời kháng chiến chống Pháp chín năm. Trong kháng chiến chống Mỹ,
trung đoàn từng tham gia những trận đánh lớn và vô cùng ác liệt như: Đắc Tơ,
Đồng Rùm, Chà Tơ. Sau đợt một của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, chưa kịp
củng cố lực lượng, trung đoàn đã nhận được lệnh trở lại chiến trường tham gia đợt
hai tổng công kích và được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là duy trì thế đứng
chân ở ven cửa ngõ sông Sài Gòn, một địa bàn bé “bằng lòng bàn tay” và nằm lọt
thỏm giữa vòng vây của địch. Với lực lượng mỏng, lại bị xé lẻ nhưng trung đoàn
Mười Sáu phải đảm trách một nhiệm vụ hết sức quan trọng, đó là bằng mọi giá giữ
vững địa bàn vùng ven đô, chống trả các cuộc hành quân bình định của địch, giữ
đất giữ dân, hỗ trợ cho du kích, lực lượng vũ trang địa phương và phong trào đấu
tranh nhân dân, ngoài ra còn phối hợp với các lực lượng đơn vị khác hoạt động ở
vòng ngoài. Trong khi đó, lực lượng địch được trang bị vũ khí hiện đại, hỏa lực
mạnh cùng sự yểm trợ của các phương tiện tối tân đã tạo ra một cuộc chiến không
74
cân sức, đặt các chiến sĩ của ta vào tình thế hết sức cam go và khốc liệt. Mỗi ngày
là một trận đánh quần nhau trực tiếp với địch. Với mục đích giữ đất, giữ dân, trung
đoàn 16 phải chiến đấu liên tục, xoay đèn cù với giặc, đánh xong chỗ này lại rút
sang đánh chỗ khác: “Hầu như ngày nào đơn vị cũng phải tổ chức đánh càn. Có lần,
sau khi đánh xong họ vòng lên phía bắc, qua vườn Măng Cụt, vượt đường 13, rút
tạm về sát bờ sông Sài Gòn. Để đứng chân được ở đây, thường xuyên trung đoàn
phải rải trinh sát bám địch ở mấy địa điểm có thể cơ động được. Họ đánh xong chỗ
này, lại rút sang chỗ kia, cứ như thế xoay đèn cù với giặc trên một địa bàn hẹp bằng
cái bàn tay” [151, tr. 24]. Có thể nói, Đất trắng đã tái hiện một hiện thực chiến
tranh chân thực, sinh động với tất cả các hoạt động diễn biến cụ thể của đời sống
chiến trường.
Không còn khí thế hào hùng, tinh thần lạc quan “Đường ra trận mùa này đẹp
lắm” (Phạm Tiến Duật) hay “Những buổi vui sao, cả nước lên đường” (Chính Hữu)
như đa số các tác phẩm viết về chiến tranh trước 1975, Đất trắng ngay ở những
trang mở đầu đã tái hiện bộ mặt chiến tranh với những gian nan, khó khăn, nguy
hiểm. Gây ấn tượng mạnh với người đọc ngay ở đầu tác phẩm là một cuộc cáng
thương của trung đoàn 16: “Cái võng nhấp nhô, nhún lên nhún xuống. Nó chặn
đường rút của ta đấy. Các loại máy bay bật đèn xanh, đèn đỏ đầy trời. Những lớp
khói mỏng của bom, của lửa, của đèn dù lơ lửng trên không” [151, tr. 5]. Tiếp đó là
muôn vàn gian lao mà các chiến sĩ phải đối mặt. Hàng ngày phải ngâm mình dưới
rạch, mỗi người một ngày khẩu phần ăn chỉ duy nhất một nắm cơm, “Họ phải bứt
mận, chặt cây chuối để lót thêm vào các bữa ăn” [151, tr. 32]. Có những lúc trong
suốt một thời gian dài, các chiến sĩ chỉ ăn gạo rang và uống nước múc từ mương
lên, mặt mũi ai ai cũng hốc hác, tiều tụy.
Chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ như vậy, việc tổn thương, mất mát là
điều không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ, trong văn học chiến tranh, người ta phải
chứng kiến nhiều thất bại, hy sinh của quân ta như trong Đất trắng. Đây là một
điểm khác biệt rất lớn trong việc mô tả hiện thực chiến tranh mà Nguyễn Trọng
75
Oánh đã ghi dấu so với các tác phẩm trước 1975. Dường như bao nhiêu sự gian
khổ, ác liệt nhất của chiến tranh đã dồn tụ hết về nơi này. Lực lượng đã mỏng mà
ngày nào cũng xảy ra thương vong. Có nhiều khi đơn vị chưa xuống được đến mục
tiêu thì quân số đã tổn thất hơn một nửa. Lần lượt Tư lệnh phân khu Năm Truyện,
tiểu đoàn trưởng Thực, chủ nhiệm trinh sát Thân, chính trị viên phó Thận hy sinh.
Có những chiến sĩ buổi chiều đi còn cười nói vui vẻ, đêm đến đã không còn quay
về. Có những hôm má Hai nấu cơm vắt hàng trăm nắm mà vẫn không đủ cho anh
em, vậy mà sau một thời gian ngắn má chỉ vắt có ba mươi nắm mà thừa quá nửa.
Một hình ảnh đau thương và hết sức ám ảnh với người đọc. Bên cạnh đó, còn rất
nhiều cán bộ chiến sĩ bị thương, bị bắt, bị kẻ thù tra tấn dã man như Nghĩa bị tên
đại úy ngụy khoét đi một mắt. Tổn thất, hy sinh lớn đến nỗi Ba Kiên, trung đoàn
trưởng trung đoàn Mười Sáu đã từng nghĩ: “Ông nói với bộ đội là phải bám trụ,
nhưng chính ông cũng không hiểu là trung đoàn sẽ phải bám trụ bao nhiêu lâu nữa.
Bằng bản năng của một người lính chiến, ông hiểu mang máng rằng tình hình đã có
thay đổi, những ngày rôm rả đầu tiên của Tết Mậu Thân không còn nữa. Sự giằng
co giữa ta với địch đã đến lúc quyết liệt. Sức chiến đấu của bộ đội ta giống như một
sợi dây cao su kéo căng, bây giờ đang chùng lại… Sau Tết Mậu Thân, toàn bộ thế
bố trí chiến lược trên chiến trường bỗng đổi khác, nhưng cũng chính sau cái Tết
Mậu Thân đó, trung đoàn ông được giao đứng chân trên một địa bàn khó khăn hơn
xưa gấp bội. Nhiều lúc, ông đã nghĩ đến việc có thể cả một trung đoàn phải hy
sinh” [151, tr. 34].
Trong hoàn cảnh khốc liệt đó, Tám Hàn, phó chính ủy phân khu sắp được
nhận hàm thượng tá, bấy giờ là cán bộ cao cấp nhất ở khu vực này đã hoang mang
dao động và chiêu hồi, rũ bỏ một quá khứ vàng son với hai mươi lăm năm đi theo
cách mạng. Sự đầu hàng, phản bội của Tám Hàn đã gây những hoài nghi, xáo trộn
rất lớn trong tâm trí các chiến sĩ. Họ không thể tưởng tượng nổi một con người với
cương vị quan trọng như vậy lại có thể chiêu hồi. Nhưng rồi họ cũng tự trấn an
mình rằng Tám Hàn là một tên gián điệp được cài vào hàng ngũ ta, chứ không hề
76
có chuyện một phó chính ủy phân khu lại đi đầu hàng địch. Chi tiết này cũng đã
khiến bộ tiểu thuyết Đất trắng gặp nhiều sóng gió khi có nhiều ý kiến cho rằng việc
để một cán bộ cao cấp trong quân đội đầu hàng là “bêu xấu” quân đội cách mạng,
là không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nếu tách riêng nhân vật ra khỏi môi
trường tập thể, xem xét nó như một hiện tượng cá biệt, theo dõi diễn biến tính cách
của Tám Hàn thì có thể thấy rằng, việc phản bội của nhân vật này là điều tất yếu,
thể hiện rất rõ trong suy nghĩ, biểu hiện và hành động từ đầu đến cuối câu chuyện.
Mô tả việc đầu hàng của Tám Hàn, có thể nói Nguyễn Trọng Oánh đã mạnh dạn
nhìn thẳng vào mặt trái - một phía hậu quả của hoàn cảnh chiến đấu ác liệt. Và điều
quan trọng nhất, Nguyễn Trọng Oánh đã lựa chọn một bối cảnh ở thời điểm khốc
liệt nhất để phân biệt vàng thau: “Cái cốt lõi của vấn đề là: Tám Hàn đã không có
một lập trường cách mạng triệt để, sẵn sàng hy sinh cao nhất cho quyền lợi của
nhân dân. Hắn đã đi theo Đảng như một phần tử cơ hội, mang theo những động cơ
cá nhân. Những con người như thế không chóng thì chầy, sẽ bị sa thải. Ở cuộc thử
thách chưa đủ độ, thì vàng thau vẫn còn lẫn lộn. Vấn đề quan trọng là cuộc thử
thách này đây. Ai là người thật sự cách mạng? Ai là kẻ cơ hội? Ngọn lửa của cuộc
chiến đấu đang sàng lọc” [151, tr. 249, 250]. Về phương diện này, Nguyễn Trọng
Oánh là một cây bút tiên phong với thể tài chiến tranh và đã thành công.
Song điều quan trọng hơn cả là với vô vàn những khó khăn, gian khổ và
hiểm nguy, các chiến sĩ của trung đoàn Mười Sáu vẫn kiên cường bám đất, bám
dân, dũng cảm chiến đấu, không để cho địch thực hiện âm mưu biến vùng đất ven
đô thành vùng đất trắng. Có thể nói, đây chính là bước đệm cho sự thắng lợi của
chiến dịch tổng tiến công mùa xuân 1975. Đề cập đến những đau thương, mất mát,
hy sinh, Nguyễn Trọng Oánh muốn đề cao phẩm chất anh hùng của dân tộc ta, đặc
biệt là muốn vinh danh những hy sinh lớn lao mà anh dũng của quân dân Việt Nam
trước cuộc chiến đấu với kẻ thù hung bạo. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất,
đau thương nhất, dân tộc Việt Nam vẫn lạc quan, tin tưởng vào cuộc đấu tranh
chính nghĩa của mình. Với những quan niệm hết sức mới mẻ và táo bạo về hiện
77
thực chiến tranh, Nguyễn Trọng Oánh đã thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc
với người đọc. Đất trắng cho thấy chiến tranh là một vấn đề vô cùng phức tạp, đặc
biệt là những biến thái của nó trong thẳm sâu tâm hồn mỗi con người. Có thể nói,
Nguyễn Trọng Oánh đã mở đầu cho một kiểu tư duy mới, lối viết mới cho tiểu
thuyết viết về chiến tranh sau ngày toàn thắng.
3.3.3. Chiến trường đối lập với nhân tính trong Nỗi buồn chiến tranh
Nói về sức thu hút đặc biệt đối với dư luận trong và ngoài nước của tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh đã cho rằng: “Thật ra, đấy là sự ghi
dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới, thời kỳ văn học có những thay đổi sâu
sắc nên một tác giả như tôi mới được chú ý ”. Quả thực, đây là một ý kiến hết sức
khiêm tốn của tác giả Nỗi buồn chiến tranh bởi lẽ tiểu thuyết này thực sự là một
dấu mốc quan trọng của văn học đương đại Việt Nam. Một dòng “văn học vết
thương” đã được Bảo Ninh khơi nguồn với Nỗi buồn chiến tranh đã hoà vào nguồn
chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới và đương đại. Nếu coi Đất trắng là sự
mở đầu của cái nhìn nghệ thuật và những quan niệm mới trong việc phản ánh, khắc
họa hiện thực chiến tranh thì Nỗi buồn chiến tranh là sự hoàn thiện một cách xuất
sắc những quan niệm đó. Xuất hiện sau Đất trắng mười năm, Nỗi buồn chiến tranh
chính là sự tiếp nối, kế thừa liên tục và phát triển lên tới đỉnh cao của dòng văn học
viết về chiến tranh sau 1975.
Phải thừa nhận rằng, mặc dù đã có những cách khai thác, thể hiện mới mẻ và
táo bạo nhưng Đất trắng vẫn là một tiểu thuyết mang dáng dấp hiện thực truyền
thống khi so sánh với Nỗi buồn chiến tranh. Hiện thực chiến tranh trong Đất trắng
dẫu đã có tính chất bi hùng nhưng vẫn còn phảng phất âm hưởng hào hùng, ngợi
ca. Với Nỗi buồn chiến tranh, tính chất bi hùng của hiện thực cuộc chiến được thể
hiện một cách thẳng thắn hơn rất nhiều. Nỗi buồn chiến tranh là sự khước từ lối
viết truyền thống vốn mang đậm cảm hứng sử thi. Tác phẩm là sự lắp ghép những
mảnh vụn vỡ hồi ức của Kiên, một người lính của tiểu đoàn 27 độc lập hoạt động
trên địa bàn mặt trận B3 sống sót trở về sau cuộc chiến. Hiện thực chiến tranh trong
78
Nỗi buồn chiến tranh là sự hủy diệt tàn khốc, là sự chết chóc, là những hình ảnh
buồn bã về ngày chiến thắng trĩu nặng những dự cảm kinh hoàng về sự tổn hại nhân
tính. Chiến tranh là một cuộc chơi sòng phẳng và tàn bạo, là những vòng luẩn quẩn
chém giết lẫn nhau. Ở đó, không tồn tại sự yếu mềm, lòng thương cảm, con người
buộc phải chấp nhận sự thật nghiệt ngã đó. Bảo Ninh đã có một độ lùi cần thiết để
nhìn nhận, khám phá chiến tranh ở một chiều kích khác. Đó là phản ánh, khắc họa
hiện thực chiến tranh thông qua những trải nghiệm cá nhân, đối diện với bộ mặt tàn
khốc của chiến tranh để cảnh báo hiểm họa chiến tranh. Không sử dụng phương
thức miêu tả, tiếp cận thông thường, hiện thực trong Nỗi buồn chiến tranh được soi
rọi bởi tâm lý nhân vật, bởi những dòng ký ức triền miên. Đó là một hiện thực đã
được khúc xạ qua tâm thức của những nhân chứng chiến tranh. Mất mát, đau
thương đã trở thành một nền tảng hiện thực đa chiều, phức tạp ken dày, bao phủ lên
Nỗi buồn chiến tranh. Những dòng “hồi tưởng đen” đã trở thành một hội chứng
chiến tranh khủng khiếp đeo bám dai dẳng, không buông tha nhân vật Kiên trong
suốt quãng đời thời hậu chiến. Đó chính là cái giá phải trả của con người cho
những tội lỗi chiến tranh. Có thể nói, Bảo Ninh đã xây dựng một không gian đa
chiều về hiện thực với cái nhìn đau đớn và trần trụi. Đây chính là điểm khác biệt
lớn nhất của Nỗi buồn chiến tranh so với những tiểu thuyết trước đó.
Không còn âm hưởng hào hùng và cảm hứng ngợi ca, hiện thực chiến tranh
trong Nỗi buồn chiến tranh hiện ra với tất cả sự tàn khốc, bi thảm, ghê rợn như nó
đã diễn ra. Tất cả những gì khốc liệt nhất, đau thương nhất, tăm tối nhất của chiến
tranh đã được phơi bày để thể hiện sự ủy diệt của nó. Chết chóc, đói rét, “quần áo
bục nát tả tơi vì những lở loét cùng người như phong hủi” [147, tr. 18], cảnh đào
ngũ diễn ra hàng giờ và được ví như một dịch bệnh “lan tràn khắp trung đội, chẳng
khác nào những cơn ói mửa, không thể chắn giữ, ngăn bắt nổi”. Cái chết xuất hiện
ở khắp mọi nơi, muôn hình vạn trạng và tất cả đều thê thảm, ám ảnh người đọc.
Ngay phần đầu tiểu thuyết, một cuộc thảm sát xóa sổ hoàn toàn một đơn vị: tất cả
bị bom na- pan thiêu cháy, hóa cuồng, chết dúi ngã dụi vào biển lửa. “Máu tung
79
xối, chảy tóc, ồng ộc, nhoe nhoét. Trên cái trảng hình thoi ở giữa truông, cái trảng
mà nghe nói đến ngày nay cỏ cây vẫn chưa lại hồn để mọc lên nổi, thân thể giập vỡ,
tanh bành, phùn phụt phì hơi nóng.” [147, tr. 7]. Rồi đến cái chết của cha và dượng
Kiên, của Can, người lính đào ngũ: “cái xác lở loét, ốm o như xác nhái bị dòng lũ
xô tấp lên một bãi lau lầy lụa” [147, tr. 26]. Người tiểu đoàn trưởng “tự đọp vào
đầu, óc phọt ra khỏi tai”, Thịnh “con” hy sinh trong trận chiến, đạn trúng tim,
không kịp kêu một tiếng, ngã ngục. Vân chết cháy cùng chiếc T54 đầu đàn, thân
xác ra tro nên chẳng cần huyệt mộ. Thanh thì chết ở Cầu Bông, và cũng bị thiêu
trong quan tài thép cùng với tổ lái. Cái chết ẩn hiện ở khắp mọi nơi, đến cái que ở
tay người đội trưởng trên sa bàn người ta cũng thấy “máu đổ, thấy những thây
người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi
thụt, nham nhở, trắng hếu…”. Cái chết còn len lỏi vào tận trong giấc mơ của những
người lính: “dạo này đêm nào tôi cũng mộng thấy mình chết và tôi bơi ra khỏi xác
và biến thành ma cà rồng đi hút máu người” [147, tr. 22]. Chiến tranh đã không còn
vẻ cao cả như trước đó người ta vẫn nghĩ hoặc buộc phải nghĩ. Chiến tranh thực
chất là cuộc đọ sức, giành giật sự sống từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.
Những người hùng chiến trận, những con người làm nên chiến thắng cũng có
những khoảnh khắc tàn nhẫn, mất hết lý trí, hành động bằng sự hận thù phi nhân
tính.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, bên cạnh sự xuất hiện với tần suất dày đặc của
cái chết là những hình ảnh buồn thảm, thê lương, thậm chí có phần quái dị, huyễn
hoặc khiến cho hiện thực chiến tranh thêm phần u ám. Đó là hình ảnh truông Gọi
Hồn, đồi Xáo Thịt ngập ngụa trong máu và xác chết, một loài chim khóc than như
người, các loại măng nhuốm một màu đỏ “như những tảng thịt ròng ròng máu”,
“những quầng sáng đom đóm lớn tày cái mũ cối, có khi hơn”, hay hình ảnh hoa
hồng ma, một loại tiền ma túy, nhờ khói nó người ta chế ra các loại ảo giác tùy sở
thích “có thể nhờ khói hồng ma mà quên đi mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ,
chết chóc, quên béng ngày mai” [147, tr. 14]. Rồi đến những tiếng hú ghê rợn, điên
80
loạn của rừng núi, của những hồn ma và muông thú. Có lẽ, hình ảnh ám ảnh và
khủng khiếp nhất là hình ảnh người vượn mà Thịnh con đã bắn nhầm, “khi ngả ra,
cạo sạch bộ lông thì hóa ra con vật hiện nguyên hình một mụ đàn bà béo xệ, da sần
lở, nửa xám, nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngược…” [147, tr. 9]. Có thể nói, Nỗi
buồn chiến tranh là một bức tranh kỳ ảo, rùng rợn, ma quái, nhiều tầng bậc với
những “truông gọi hồn”, “đồi xáo thịt”… - một kiểu khắc hoạ hiện thực chiến địa
khác biệt của Bảo Ninh. Qua đó, bộ mặt chiến tranh hiện lên với đầy đủ mọi góc
cạnh khủng khiếp nhất của nó, là: “một cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn
khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô
cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” [147, tr. 30]. Chiến
tranh sẽ còn ám ảnh dai dẳng trong ký ức của những người lính, và rất có thể nó sẽ
khiến tâm hồn họ chết dần chết mòn trong quãng đời còn lại.
Với Bảo Ninh, chiến tranh là một nỗi buồn bất tận, nỗi buồn “mênh mang”,
nhưng đồng thời lại là “nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ.
Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi bị chôn vùi
trong cảnh chém giết triền miên, trong cảnh khốn khổ của những tay súng, những
đầu lê, những ám ảnh bạo lực và bạo hành, để bước trở lại con đường riêng của mỗi
cuộc đời có lẽ chẳng sung sướng gì và cũng đầy tội lỗi, nhưng vẫn là cuộc đời đẹp
nhất mà chúng tôi có thể hy vọng, bởi vì đấy là đời sống hòa bình” [147, tr. 286].
Chiến tranh “là những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng, những ngày bất
hạnh nhưng chứa chan tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao mà chúng
ta cần phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng và hy sinh tất cả”
[147, tr. 287]. Có thể nói, đây là quan niệm mới mẻ về hiện thực chiến tranh của
Bảo Ninh thể hiện qua hình ảnh người lính thời hậu chiến. Người lính bước ra từ
khói lửa đạn bom với sự cay đắng và cô đơn, với sự sám hối trước những món nợ
của chiến tranh, với sự dằn vặt, suy tư về phẩm tính và nhân tính. Để rồi “một thứ
chân lý cao cả, được giác ngộ từ những trải nghiệm đau đớn”, đó là sự “vĩnh cửu
những tình người”. Đây chính là ý nghĩa sâu xa của cuộc chiến tranh không gì vùi
81
lấp nổi. Soi chiếu hiện thực chiến tranh từ điểm nhìn hậu chiến, có thể nói Nỗi buồn
chiến tranh đã phơi bày bộ mặt thật, đã nhận thức lại các giá trị đạo đức của đời
sống xã hội và con người bằng tâm thức hậu chiến. Điều đó lý giải vì sao Nỗi buồn
chiến tranh được đánh giá là tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến tranh với nguồn cảm
hứng chất chứa giá trị phản tỉnh và một kỹ thuật tự sự mới lạ.
3.4. Nhân vật ngƣời lính trong và sau chiến tranh
Nói đến chiến tranh không thể không nói đến người lính – những chủ thể của
chiến trường, những con người trực tiếp chiến đấu, những nhân tố quyết định mọi
thắng bại của từng trận đánh. Họ chính là linh hồn, là nhân vật trung tâm xông pha
nơi hòn tên, mũi đạn, trực tiếp nhận vào mình mọi tổn thất, hy sinh. Đối với tiểu
thuyết chiến tranh, người lính là hình tượng trung tâm. Nếu chiến tranh là một siêu
đề tài thì người lính là “siêu nhân vật” của mọi tác phẩm. Tâm điểm, hồn cốt của
từng tiểu thuyết viết về chiến tranh chính là số phận của những người lính. Qua mỗi
giai đoạn văn học, dưới sự tác động chi phối của bối cảnh lịch sử xã hội, sự tương
tác giữa văn hoá- văn học, sự biến đổi tâm thế sáng tác và tiếp nhận, việc khám phá
số phận người lính tất yếu sẽ có những phá vỡ, thay thế. So sánh thân phận người
lính qua ba tiểu thuyết Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh,
chúng ta nhận diện một cách rõ rệt sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con
người, cảm hứng nhân văn và thi pháp nhân vật của từng tác giả tương ứng với các
thời kỳ văn học. Điều quan trọng là qua chân dung nhân vật, những thăng trầm,
nếm trải của số phận người lính, người đọc cảm nhận sâu sắc và đầy đủ hơn sự
phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống trong và sau chiến tranh.
3.4.1. Nhân vật anh hùng sử thi trong Dấu chân người lính
Nhân vật trong tiểu thuyết sử thi là kiểu nhân vật đại diện cho cộng động,
cho lý tưởng của thời đại về cái cao cả và cái anh hùng. Con người trong sử thi là
con người bổn phận vì cộng đồng. Nhân vật sử thi cũng là loại nhân vật ngoại hiện,
toàn bộ tính cách được bộc lộ ra ngoài, không có gì được che giấu để phải tìm tòi,
khám phá. Đó là những con người nguyên phiến, toàn vẹn, bất biến và nhất quán về
82
tính cách cũng như hành động: “ở con người ấy chẳng có gì phải tìm tòi, ức đoán,
không thể lột mặt nạ nó” [10, tr. 68]. Dấu chân người lính là một mô hình tiêu biểu
cho kiểu cấu trúc lịch sử - sự kiện của tiểu thuyết sử thi chiến tranh cách mạng
1945-1975. Việc xây dựng nhân vật tuân thủ theo nguyên tắc kết hợp hài hoà và có
phần đề cao số phận cộng đồng lên trên số phận cá nhân. Hình tượng người lính, do
vậy, là biểu trưng cho phẩm chất cao cả và vẻ đẹp anh hùng, lý tưởng của thời đại.
Soi chiếu từ góc độ nhân vật, có thể thấy rất rõ Dấu chân người lính hội tụ tất cả
những tinh hoa, khí phách của con người Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ.
Trong thế giới nhân vật của tác phẩm, có thể nói Kinh và Lữ là hai hình mẫu tiêu
biểu, hai nhân vật trung tâm đồng thời là hai cha con cùng có mặt trên chiến trường
Trị - Thiên nóng bỏng. Kinh đại diện cho thế hệ cha anh tham gia cách mạng từ
những ngày kháng chiến chống Pháp, “đã có mặt trong suốt chiến dịch Điện Biên
Phủ” và giờ đây một lần nữa lại tiếp tục cầm súng chiến đấu chống xâm lược Mỹ.
Lữ tiêu biểu cho thế hệ trẻ lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa bước vào cuộc
chiến với một trái tim yêu nước, giàu nhiệt huyết và một tâm hồn lãng mạn, mơ
mộng, chứa chan nhiều hoài bão mang màu sắc lý tưởng, đôi khi viển vông của tuổi
học trò. Đây là nhân vật được Nguyễn Minh Châu “chăm chút”, miêu tả công phu,
tỉ mỉ và gửi gắm nhiều tâm tư, tình cảm, là “ký hiệu nổi bật” của tác phẩm. Hai
người lính thuộc về hai thế hệ, dẫu có một vài khác biệt, bất đồng nhưng đều có
điểm gặp gỡ chung là tinh thần yêu nước, lý tưởng không có gì quý hơn độc lập tự
do, là ý thức và hành động sẵn sàng dẹp bỏ lợi ích gia đình, cá nhân vì sự sống còn
của Tổ quốc.
Có thể nói, cuộc đời của Chính uỷ Kinh gắn với những năm tháng và mọi
nẻo đường kháng chiến. Tất cả suy nghĩ và hành động của ông đều hướng đến lợi
ích tập thể. Ông là hình mẫu tiêu biểu của một vị thủ trưởng chỉ huy luôn gác mọi
chuyện riêng tư, gia đình để một lòng phục vụ cách mạng, đến nỗi: “có lá thư của
vợ cũng để quên trong túi áo, mãi mấy ngày sau mới mở ra đọc” [22, T.1, tr. 673].
Gặp Lữ, đứa con thân yêu giữa chiến trường nhưng cũng “chỉ có thì giờ gặp con
83
trong chốc lát như tiếp một cán bộ cấp dưới nào đó, hỏi han dăm ba câu” [22, T.1,
tr. 354]. Tuy nhiên, với những chiến sĩ khác trong đơn vị, Chính uỷ Kinh lo lắng
cho họ bằng tình thương yêu của cha mẹ dành cho con cái, từ miếng cơm đến giấc
ngủ. Không nghiện thuốc lá nhưng lúc nào ông cũng có sẵn vài bao dành cho mọi
người. Sau mỗi trận đánh, đích thân ông cõng từng chiến sĩ bị thương tới điểm cấp
cứu. Ông dành những thứ được cấp theo tiêu chuẩn riêng để bồi dưỡng cho lính.
Khi nhận được tin Lữ hy sinh, ông kìm nén nỗi đau riêng để điều hành công việc
chung trước sự cảm động và kính phục của mọi người. Chắc chắn là khi nhận được
tin dữ, ông như đứt từng khúc ruột. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, ông đã “gồng
mình” chặn đứng mọi cảm xúc để tránh không gây nên không khí bi lụy, hoang
mang, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến đấu của đơn vị. Nhưng khi chỉ có
một mình, đối diện với nỗi mất mát quá lớn, ông lại sống bằng cảm xúc thật của
một người cha, lòng ông ngổn ngang, đau xót. Ông ân hận biết bao khi chưa làm
được gì cho con cái, chưa gần gũi để hiểu hết những suy nghĩ của con, chưa chăm
sóc con như lời vợ dặn: “Ông thấy thương con vô hạn, xen lẫn một niềm tự hào
ngấm ngầm, nhưng vẫn không khỏi lo lắng, một nỗi lo mơ hồ và gần như bất lực”
[22, T.1, tr. 865]. Xây dựng nhân vật Chính uỷ Kinh, Nguyễn Minh Châu đã khắc
hoạ một hình mẫu lý tưởng về một sĩ quan quân đội đã gắn bó cả cuộc đời với sự
nghiệp cách mạng, đã dẹp bỏ những nỗi buồn riêng tư, để hướng tới lợi ích cộng
đồng cao cả. Thân phận cá nhân, vì vậy, rất mờ nhạt. Nói cách khác, thay vì sự
khám phá thân phận con người, Nguyễn Minh Châu đã hướng tới một sự thay thế
bằng vận mệnh dân tộc.
Bên cạnh Chính uỷ Kinh, Lữ là một điển hình cho lớp trẻ trưởng thành trong
thời đại chống Mỹ. Vừa rời ghế nhà trường phổ thông, chứng kiến sự tàn phá của
kẻ thù trên mảnh đất quê hương, Lữ đã lập tức nhập ngũ, lên đường đi chiến đấu.
Tâm hồn, tính cách, nếp suy nghĩ và hành động của Lữ còn mang nhiều nét trong
sáng, bồng bột của tuổi mới lớn. Thậm chí, ban đầu Lữ cùng lũ bạn “rất hăng”, bỏ
nhà đi nhưng không biết mình sẽ đi đâu, chỉ biết đất nước đang cần, tiền tuyến đang
84
gọi: “Phải giã từ hết, phải ném vào lửa hết, phải ném vào lửa bằng hết mọi thứ sách
vở và bản thân những thằng học trò như mình cũng cần phải được ném vào lửa”
[22, T.1, tr. 367]. Cái cách Lữ xông pha vào chiến trường cũng chịu nhiều ảnh
hưởng từ sách vở, mang dáng dấp “một đi không trở về”. Với phong thái lãng mạn,
nghệ sĩ, trên những nẻo đường chiến đấu gian khổ, thi thoảng Lữ vẫn thẫn thờ bởi
ánh trăng trong đêm rừng ướt át, mơ màng về một làn khói bếp giữa rừng Trường
Sơn, tưởng tượng đó là “mái bếp và ngọn lửa của hàng vạn ngôi nhà đem tới đây”.
Khi được trực tiếp chiến đấu, với cương vị của một chiến sĩ thông tin, Lữ lại bộc lộ
khía cạnh khác của một phẩm chất người lính: dũng cảm, thông minh, bất chấp gian
nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Đã có lần bị thương ngất đi, vậy mà tỉnh dậy “Lữ
mừng muốn đến trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực
mình vẫn là chiếc điện đài” [22, T.1, tr. 548]. Lữ tiêu biểu cho thế hệ thanh niên
mới, say sưa với lý tưởng, tha thiết yêu quê hương Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh đời
mình với một tâm hồn phơi phới, tin yêu cuộc sống. Ngay đến cái chết, anh cũng
đón nhận một cách nhẹ nhàng, thanh thản. Đó là một cái chết mang nhiều ý nghĩa,
thể hiện đúng phong thái của nhân vật, không hề gợi lên sự bi lụy, đớn đau: Lữ ra
đi trong tư thế “ngồi ôm chiếc đài, đầu gục xuống, y như sau một ngày làm việc
mệt mỏi, ngủ thiếp đi” [22, T.1, tr. 829]. Có thể nói, với nhân vật Lữ, Nguyễn Minh
Châu đã xây dựng thành công một hình tượng người lính cao đẹp, phụng sự Tổ
quốc bằng tất cả tâm hồn, tình cảm và sinh mệnh chính mình.
Bên cạnh Kinh, Lữ, Dấu chân người lính còn phác hoạ được nhiều gương
mặt và cuộc đời chiến sĩ thời chống Mỹ như Đàm, Khuê, Lương, Cận, Nết, Dự,
Uy… Tất cả đều có tuổi đời rất trẻ. Mỗi người có một hoàn cảnh, chặng đường đời
và tính cách riêng nhưng đều có điểm chung “trùng khít”, hợp nhất về lý tưởng:
“Họ từ giã gia đình, trường học, từ giã một cuộc sống tương lai đẹp đẽ hết sức bảo
đảm đã bắt đầu xây cho họ, từ bỏ trái hạnh phúc đang ửng hồng trong vườn nhà”
[22, T.1, tr. 586]. Giã từ tất cả, họ lựa chọn cuộc sống gian khổ hiểm nguy nơi
tuyến lửa không một mảy may tính toán. Trong cuộc chiến cam go ấy, không ít
85
người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường như Lữ, Đàm… Người đọc thật sự xúc
động trước hình ảnh Nết, cô y sĩ ở trạm quân y nhận được tin mẹ và em ở nhà bị
chết vì bom Mỹ dội xuống: “Nết đã cầm lá thư ngắn ngủi của Khuê trong những
ngón tay cứng đờ như không còn biết cảm giác, cô kêu lên một tiếng rên rỉ đầy đau
khổ và phẫn nộ” [22, T.1, tr. 734]. Nhưng, như một phép ứng xử tiêu biểu của
“hành vi người lính”, dù rất đau đớn cô vẫn nén nỗi đau vào trong, không muốn
ảnh hưởng đến tinh thần của những người xung quanh, nghiến răng chiến đấu để trả
thù cho mẹ và em. Có thể nói, Nết là nhân vật nữ hiếm hoi của tác phẩm xuất hiện
trên chiến trường. Khác với những người phụ nữ ở hậu phương, nhân vật Nết hiện
lên vừa mềm mại vừa rắn rỏi, vừa giàu lòng thương người nhưng gan góc, dũng
cảm trong chiến đấu. Có thể nói, đó là nhân vật mang nhiều nét đẹp tiêu biểu cho
một lực lượng đông đảo các nữ chiến sĩ tham gia vào cuộc chiến. Đây là một kiểu
nhân vật mới của văn học chống Mỹ, nhưng Nguyễn Minh Châu và những nhà văn
cùng thời chưa đặt ra những vấn đề thuộc về thân phận – điều mà sau này trở thành
nỗi ám ảnh, day dứt của đa số các nhà văn khác giới.
Với Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã khắc hoạ thành công một
thế giới nhân vật điệp trùng “dấu chân”, từ nhiều miền quê đã cùng hành quân tiến
ra chiến trường để giải phóng quê hương Trị - Thiên. Trong bản hợp ca đó, số phận
mỗi cá nhân người lính không tồn tại riêng lẻ mà hoà vào vận mệnh dân tộc, vào sự
tồn vong của đất nước. Nhìn chung các nhân vật người lính của Dấu chân người
lính đều mang vóc dáng của những người anh hùng theo kiểu sử thi, nguyên phiến
và một màu. Gần như không tìm thấy mặt trái ở những nhân vật này. Có thể trong
quá trình sử thi hóa tiểu thuyết, tính chất sử thi hào hùng đã lấn át tính chất tiểu
thuyết nếu nhìn vào khả năng khám phá số phận đời tư cá nhân và những khoảng
trống trong tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu. “Khoảng cách sử thi” ở những
nhân vật này còn gần như nguyên vẹn. Nhưng dĩ nhiên, chân dung người lính trong
tác phẩm của nhà văn là những biểu tượng đẹp, khơi dậy được tình yêu Tổ quốc
86
thiêng liêng trong mỗi con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.
3.4.2. Nhân vật người lính kết hợp chất sử thi và thế sự trong Đất trắng
Trong khuôn khổ của một “đại tự sự” và dáng dấp tiểu thuyết truyền thống,
việc nhìn nhận và khám phá số phận người lính trong Đất trắng vẫn nằm trong
đường ray quán tính cũ, nghĩa là thiên về âm hưởng ngợi ca. Dễ nhận thấy trong tác
phẩm những người lính mang trong mình những phẩm chất, lý tưởng và tinh thần
chiến đấu “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sẵn sàng hy sinh mọi hạnh phúc cá
nhân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là Ba Kiên,
Thêm, Nghĩa, An, Sáu Trang, Tám Trâm, Bảy Hường, Quá, Thị, Tư Quang, Lựu…
Qua thế giới nhân vật đông đảo này, Nguyễn Trọng Oánh đã diễn tả khá thành công
chủ nghĩa anh hùng Việt Nam ở vào một thời điểm cam go, “dầu sôi lửa bỏng” nhất
của kháng chiến chống Mỹ. Mỗi một cá nhân là “phiên bản” của thời đại nhưng
không thể tách chia. Họ sống, chiến đấu trong môi trường tập thể và chịu ảnh
hưởng sâu sắc của tâm thức cộng đồng. Trong cuộc sống, họ là những mảnh đời
bình dị, hiền lành chân chất, mộc mạc nhưng khi vận nước lâm nguy, họ trở thành
những tấm gương sáng anh hùng “vì nước quên thân”, sẵn sàng nhận về mình mọi
nhiệm vụ dù biết là gian nan, vất vả, thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng. Với
hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những lúc giặc bố ráp, xiết chặt vòng vây, họ không
do dự, sẵn sàng lao vào quyết sống chết với quân thù để giành thắng lợi. Đương
đầu với mọi tổn thất, chứng kiến sự ra đi liên tục từng ngày, từng giờ của đồng đội,
người lính cách mạng vẫn giữ được sự bình thản cần thiết, không phải là để tự trấn
an mình mà cốt tạo tâm lý đồng đội – tâm lý đám đông. Giữa thời khắc gian nguy
ấy, trong tâm trí họ chỉ tồn tại một ý chí sắt đá duy nhất: “Đánh đến người cuối
cùng! Đánh đến hầm cuối cùng” [151, tr. 125]. Họ kiên cường bám trụ giữa không
khí tang thương của một vùng “đất trắng”: “Họ băng qua bãi sình, người đằng sau
nhìn chừng cái bóng mũ người đằng trước (…). Ai không bám thì bị bỏ, mà bị bỏ
lại ở giữa cánh đồng sình mênh mông này thì thật là đáng sợ, bốn chung quanh đều
là địch. Hầu hết tân binh lần đầu tiên xuống đồng bằng, nào ai biết nước cái như thế
87
nào. Cứ vậy, các chiến sĩ ngã rồi lại chạy, chạy theo bám vào cái bóng đen trước
mặt. Đi suốt hai tiếng đồng hồ vẫn chưa ra khỏi bãi sình thì trời đã sáng” [151, tr.
135].
So với Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, trong Đất trắng,
Nguyễn Trọng Oánh đã có sự nới rộng góc nhìn khi khắc hoạ chân dung người lính
bên cạnh phẩm chất anh hùng lý tưởng có một phần đời sống tự nhiên mang bản
tính người. Điều này cho thấy sự chuyển hướng của nhà văn để hướng tới sự khám
phá nhiều thân phận người lính trong cuộc chiến tranh và đây cũng chính là điểm
khác biệt, là tín hiệu đổi mới từ Nguyễn Trọng Oánh. Những người lính trong Đất
trắng hiện diện với những tâm tư, suy nghĩ u buồn, lo sợ, hoài nghi…; đời thường
và gần gũi hơn. Đã xuất hiện những giây phút run sợ, khiếp đảm trước hoàn cảnh
dữ dội, khốc liệt, nhiều thương vong của cuộc chiến. Nhân vật Lựu từng trải qua
những giây phút hoang mang cực độ, định bỏ chạy trong một trận càn, thậm chí đã
trốn đơn vị và nói dối là bị lạc, nhưng anh đã thành thật thú nhận với thủ trưởng
của mình: “Em sợ lắm, nhờ thủ trưởng báo cáo cho em làm cấp dưỡng hay công
việc gì cũng được (…). Còn khi ra trận thì em cứ nghe tiếng đạn bom là tim nó đập
thình thịch” [151, tr. 259]. Quán khi nghĩ đến việc sáng mai phải đi trinh sát, bám
địch là lòng đầy sợ hãi. Ngay đến Thận, chính trị viên phó tiểu đoàn, người chuyên
trách công tác tư tưởng, đảm nhận công việc động viên, khích lệ tinh thần chiến sĩ
mà “nhiều lúc anh vẫn cảm thấy anh không tin điều mình nói lắm” [151, tr. 168].
Ba Kiên, người chỉ huy cao nhất của trung đoàn cũng không thể dối lòng: “Trong
con người của họ có một phần con người của mình. Mình cũng có lúc sợ hãi, mình
cũng có lúc hoài nghi” [151, tr. 169]… Có thể thấy đó là những suy nghĩ thường
tình của con người nẩy sinh trong những hoàn cảnh bất thường của chiến tranh.
Vậy mà phải chờ đến Đất trắng, hay Cửa gió của Xuân Đức chúng ta mới được
chứng kiến. Điều quan trọng và cần thiết là cuối cùng họ đã tự chiến thắng mình,
vượt qua nỗi run sợ, hèn nhát để lập công. Lựu đã chiến đấu như một người anh
hùng trong các trận chống càn của đơn vị khi nhận thức được rằng: “Không có cái
88
hạnh phúc nào mà không phải trả giá” [151, tr. 306]. Lựu bị thương nhưng khi biết
địch đang đến gần, anh đã từ chối sự cứu trợ của đồng đội. Anh ôm lựu đạn chiến
đấu đến hơi thở cuối cùng, bình thản, sẵn sàng đón nhận cái chết. Sự hy sinh của
ông Ba Kiên, ông Dũng… đều là những sự ra đi vì dân, vì nước, nó đã được chấp
nhận như một tất yếu của chiến tranh, trở nên “đơn giản, bình thường”. Có thể nói
mỗi nhân vật trong Đất trắng đều được khắc hoạ trên nền cảnh của cuộc chiến khốc
liệt. Chính vì vậy, nó là những phân mảnh của số phận người lính thời chống Mỹ -
một thời đại hướng thượng luôn đặt lợi ích cộng đồng, vận mệnh dân tộc cao hơn
hết thảy thân phận cá nhân.
Song, giữa thời điểm “một mất một còn” khốc liệt đó, trong hàng ngũ những
người lính trung kiên lại xuất hiện một nhân vật phản bội: đó là Tám Hàn. Có thể
nhận thấy đây là nhân vật đã từng gây “sốc” cho nhiều người, khiến Đất trắng trở
thành một hiện tượng và tạo nên những “sóng gió” trong cuộc đời cầm bút của
Nguyễn Trọng Oánh. Tám Hàn là một sĩ quan cao cấp nhưng đã không chịu đựng
nổi mọi gian khổ hy sinh như một người lính bình thường. Hắn vô cùng hoang
mang, dao động và đầu hàng địch một cách đê hèn. Nguyễn Trọng Oánh đã miêu tả
diễn biến tâm lý và hành động chiêu hồi của nhân vật này một cách khách quan,
chân thật: “Vào bộ đội gần hai mươi nhăm năm. Chưa lần nào ông thấy khó khăn
như bây giờ, cũng chưa lần nào ông thấy lòng tin của mình bị dao động như vậy.
Trong các cuộc họp, ông vẫn giải thích, vẫn động viên, nhưng cứ mỗi đêm, ngồi
trước tấm bản đồ vùng ven, ông cảm thấy lòng mình rối bời như những đường
ngang nét dọc chằng chịt trên đó vậy” [151, tr. 209]. Sau một đêm thức trắng với
những chao đảo, hoài nghi, … phó Chính uỷ phân khu Tám Hàn đã từ bỏ đồng đội,
đi về phía hàng ngũ địch. Đây là một nhân vật hiếm hoi cho thấy Nguyễn Trọng
Oánh đã có hướng tiếp cận táo bạo trên bình diện khắc hoạ nhân vật, vượt qua tầm
đón đợi thông thường. Với nhân vật này, ngòi bút của Nguyễn Trọng Oánh đã lách
sâu hơn vào mặt tối, mặt bị che lấp của cuộc chiến và lòng người, lý giải một cách
sâu xa và cặn kẽ hơn những tổn thất nặng nề của cuộc chiến, mang đến những bài
89
học và “kinh nghiệm chiến tranh” thiết thực, tỉnh táo. Chưa sẵn sàng hy sinh tất cả
cho quyền lợi nhân dân, chưa khắc chế được những dục vọng tầm thường…; sự
phản bội của Tám Hàn, dù là một nhân vật cấp cao, cần được xem xét trong hoàn
cảnh chiến tranh: nơi sự sống bị đe doạ từng phút, từng giây và mọi điều có thể xảy
ra. Sự hiện diện của nhân vật Tám Hàn là một bổ sung cần thiết vào bức tranh thân
phận người lính, đánh dấu một mốc quan trọng trong hành trình khám phá bản chất
của chiến tranh với cái nhìn thẳng thắn, đa diện.
Đất trắng là một thành công của Nguyễn Trọng Oánh về phương diện kết
hợp cảm hứng sử thi và cảm hứng thế sự. Điều đó thể hiện rõ rệt qua việc khắc hoạ
số phận người lính trong chiến tranh. Nếu trong Dấu chân người lính, nhân vật của
Nguyễn Minh Châu mang vẻ đẹp “toàn bích” từ trong ra ngoài thì với Đất trắng,
Nguyễn Trọng Oánh đã khám phá nhân vật nhiều chiều hơn, bên cạnh lý tưởng cao
cả, phẩm chất kiên cường đã xuất hiện những suy nghĩ và hành động “tầm thường”.
Nếu trong Dấu chân người lính, sự hy sinh của người lính là rất cao quý, báo hiệu
ngày toàn thắng “sắp về ta” thì cái chết của những người lính trong Đất trắng là hết
sức tang thương, đau đớn và nhuốm màu bi kịch. Người đọc bị ám ảnh nặng nề bởi
thi hài không còn nguyên vẹn, bị mất một cánh tay của tiểu đội trưởng Thắng; cái
xác của một du kích vắt lên một phiến đá sau đó bị giặc Mỹ kéo lê; hình ảnh Thân
chết úp mặt xuống bờ rạch, bị tên lính Ngụy lấy chân hất lên để nhổ một bãi nước
bọt; và rất nhiều những người lính trẻ chôn chung trong một cái huyệt đầy nước…
Đây rõ ràng là một cái nhìn thẳng, không né tránh tổn thất, đau thương, vượt qua
“lằn ranh” của cảm hứng ngợi ca một chiều, trong “hồ sơ” của tiểu thuyết thể tài
chiến tranh, Nguyễn Trọng Oánh là một tác giả có lối viết trung thực và bản lĩnh.
Một điểm nhấn đáng chú ý của Đất trắng là sự dịch chuyển từ cảm hứng sử
thi sang cảm hứng đời tư, thế sự. Đây không phải là hiện tượng đơn lẻ nếu đặt tác
phẩm của Nguyễn Trọng Oánh trong tương quan đồng đại với các tác giả cùng thời
như Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Thái Bá Lợi, Khuất Quang Thụy; nhưng xét theo
chiều lịch đại, lấy Dấu chân người lính để so sánh thì rõ ràng là một bước phát
90
triển. Ở đoạn kết của Đất trắng, cái nhìn thân phận đã chiếu vào những hình dạng
người lính sống sót sau chiến tranh: người thành danh, kẻ thất bại, người hạnh
phúc, kẻ bất hạnh, người được ân thưởng, kẻ phải trả giá cho những sai lầm của
mình. Tuy chỉ là những phác thảo nhưng tiềm ẩn nhiều day dứt, trăn trở về ý nghĩa
của sự sống chết, được mất khi cuộc chiến đi qua: “Chỉ có những người mất đi là
có một cuộc đời hoàn chỉnh nhất, đẹp đẽ nhất. Nếu họ còn sống đến bây giờ!
Nhưng biết đâu? Họ sống đến bây giờ thì lại không còn giống như con người đã
từng sống những năm gian khổ ấy…” [152, tr. 360]. Nói ra điều đó, Nguyễn Trọng
Oánh đã chạm vào tâm thế của một lớp người cầm súng. Chiến tranh dù tàn bạo
nhưng mọi suy nghĩ dường như đơn giản hơn bởi chỉ xoay quan quan hệ sống- chết,
thắng- bại,… Hơn ai hết, người lính phải lấy cái phi thường làm mẫu mực để thay
thế, thậm chí là triệt tiêu cái bình thường. Nhưng khi đất nước hoà bình thống nhất,
đi “từ trong rừng ra”, chứng kiến thực trạng rối ren, phức tạp, chằng chịt tốt- xấu,
trắng- đen, họ mới ý thức những éo le, trắc trở của thân phận mình và thấm thía
hơn nghịch lý “sống khó hơn là chết”… Bằng những dự cảm nhân văn, Nguyễn
Trọng Oánh đã mở ra một hướng tiếp cận mới để việc khai thác số phận người lính
trong và sau chiến tranh trở nên đa diện và sâu sắc hơn. Là một tác phẩm phản ánh
sự mất mát hy sinh nhiều hơn những chiến công, tổn thất, thương vong, người nằm
xuống nhiều hơn những kẻ may mắn trở về. Đó là những điểm mới chưa từng có
trong văn học chiến tranh trước đây. Có thể nói, với Đất trắng, Nguyễn Trọng
Oánh là tác giả đã mở ra một lối viết khác, một hướng tiếp cận hiện thực chiến
tranh cả bề rộng, lẫn chiều sâu.
3.4.3. Người lính nhìn từ góc độ số phận con người cá nhân trong Nỗi
buồn chiến tranh
Kế thừa thành tựu của tiểu thuyết chiến tranh tiền đổi mới 1975-1985 mà
Đất trắng là tiêu biểu, Nỗi buồn chiến tranh là một sự tiếp nối xuất sắc khi Bảo
Ninh nghiền ngẫm, tái tạo bộ mặt chiến tranh qua gương mặt và số phận con người.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng nhận định: “Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
91
của Bảo Ninh là tác phẩm đầu tiên nói một cách khác biệt về cuộc chiến tranh vừa
qua ở Việt Nam. Tất cả các tác phẩm về chiến tranh trước đó đều đứng ở góc độ số
phận của dân tộc, cộng đồng dân tộc mà nhìn nhận cuộc chiến tranh. Bảo Ninh là
người đầu tiên trong văn học hiện đại ở Việt Nam nhìn chiến tranh từ số phận của
một cá nhân con người” [109, tr. 176]. Có thể nói, với cảm hứng nhân văn chan
chứa thể hiện qua góc nhìn thân phận người lính, Nỗi buồn chiến tranh đã được
đánh giá là “cuốn tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh”, bởi “cuốn sách đã
chạm vào mẫu số chung của nhân loại”… Song, nhìn từ phía chủ thể sáng tạo, dễ
dàng nhận thấy Bảo Ninh đã thâm nhập sâu vào đặc trưng thể loại khi chọn nhân
vật để gửi gắm thông điệp và lý giải mọi vấn đề của hiện thực đời sống. Nhà văn
hiểu hơn ai hết sức ám ảnh, ấn tượng sâu đậm của một cuốn tiểu thuyết bao giờ
cũng thuộc về số phận nhân vật mà không phải là hệ thống sự kiện, biến cố.
Tuy không có “kích thước” của một “đại tự sự” nhưng thế giới nhân vật của
Nỗi buồn chiến tranh là tập hợp của nhiều gương mặt, nhiều cuộc đời, nhiều số
phận. Họ đều là những nạn nhân của chiến tranh, đặc biệt là những người lính tham
trận. Trên chiến trường và trong đời sống quân ngũ, nhân vật của Bảo Ninh đều là
những người trẻ tuổi, dễ thương, nặng tình đồng đội, giàu tình yêu quê hương, xứ
sở, coi hành động dấn thân ra chiến trường là biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước,
chí nam nhi. Một số nhân vật dù hiếm hoi đã hiện diện trên chiến trường bằng
những nét vẽ mang màu sắc lý tưởng bởi những hành động chiến đấu hy sinh quên
mình như Cừ, Tư, Hoà… Hình ảnh của Hoà “đứng hơi nghiêng trước nắng tà (…).
Cái cổ cao yếu ớt, áo cộc, quần đùi, đôi chân trần đầy vết gai cào” [147, tr. 227];
vậy mà người giao liên với thân hình mong manh, yếu đuối ấy đã dám liều mình
đánh lạc hướng quân thù để giải cứu đoàn thương binh, nhận lấy cái chết thảm
thương. Qua điểm nhìn của Kiên – nhân vật chính của tác phẩm, đây là một sự sát
hại man rợ, thú tính: “Hoà gục ngã giữa trảng cỏ và đằng sau bọn Mỹ xô tới, vây
xúm lại, trần trùng trục, lông lá trên mình như những con đười ươi, phì phò thở,
giằng giật, nặng nề hộc rống lên” [147, tr. 50]. Những hình ảnh thương đau đó hằn
92
sâu vào ký ức chiến tranh của Kiên, trở thành “kỷ niệm bi thảm, thương tâm và
hiểm nghèo nhất” sau mỗi lần hồi tưởng. Nhưng nó cũng chỉ là một bức nhục hình
nhỏ trong bức tường thành đại thảm hoạ của cuộc chiến. Và càng ngày, càng “nhớ
lại và suy nghĩ”, Kiên đã nhận ra rằng: “Chiến tranh, với bộ mặt gớm ghiếc của nó,
với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ
đơn thuần có ý nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải
qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi
không thể tha thứ cho mình” [147, tr. 101].
Số phận người lính trong Nỗi buồn chiến tranh được khai thác ở cả hai
quãng đời trong và sau chiến tranh. Ở quãng đời đầu, khác với đa số các tác phẩm
cùng đề tài chiến tranh, Bảo Ninh đã miêu tả chân dung người lính với ngoại hình
yếu ớt, thiếu sinh khí và một đời sống nội tâm yếu đuối, dễ tổn thương và quá nhiều
khiếp đảm. Đành rằng Kiên cũng như nhiều anh em khác đã tình nguyện ra chiến
trường, bỏ lại mối tình học trò đẹp như những trang thơ coi chiến tranh là một cơ
hội lập công… Nhưng khi tận mắt chứng kiến bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh,
mộng làm người hùng tiêu tan, tâm tính họ đã thay đổi gần như hoàn toàn. Chưa
bao giờ có trong văn học một tập thể những người lính rã rời và hành động mất
phương hướng đến thế. Trước cái chết, họ run sợ, hoảng loạn, khiếp đảm và tìm
cách chống trả. Để xua đi cái thực tại hàng ngày xương rơi, máu đổ, “khủng khiếp
và hồn hoang”, cái chết ập đến bất cứ lúc nào, họ đào ngũ, uống rượu, hít hồng ma,
chơi gái… Nhưng mọi con đường đều dẫn đến ngõ cụt, bế tắc và bi thảm. Can –
một chiến sĩ trinh sát quả cảm đã từ bỏ đồng đội, trốn chạy trong đêm với hy vọng
được trở về với người mẹ già đơn thân ở quê nhà. Anh vịn vào tâm linh “Mấy đêm
vừa rồi tôi toàn mơ thấy mẹ tôi gọi tôi. Có lẽ anh tôi đã chết mà mẹ tôi thành ra lâm
bệnh rồi chăng?” Đào ngũ để tìm cơ hội sống nhưng Can lại phải gánh lấy cái chết
thảm thương, chết bởi phát đạn trừng trị của những người cùng hàng ngũ, xác trôi
dạt trong mưa nguồn suối lũ, chết mà chưa kịp gặp mẹ… Rồi cảnh những người
lính giải buồn trong đám khói hồng ma, trong sự giải toả những ẩn ức libido bằng
93
hành động sex… Nhưng dường như những khao khát rất con người, nhất là những
người trẻ tuổi chỉ diễn ra trong những giấc mơ đúng như phán đoán của “ông tổ”
phân tâm học Freud. Chàng lính Vĩnh đêm đêm đắm chìm trong những “xen” hoà
hợp thể xác ảo để tìm khoái lạc: “Chỉ rặt mơ thấy đàn bà và hắn thường xuyên
khoái trá tả thực cho anh em nghe về những cuộc làm tình tưởng tượng vô cùng
tham lam, phức tạp, rất ngóc ngách, đầy lý thú và sống sượng với chị em huyền
thoại của hắn” [147, tr. 15]. Kiên xuất thân từ dòng dõi trí thức nên sự cảm nhận và
bộc lộ khía cạnh bản năng có phần tinh tế và thăng hoa hơn. Mỗi lần nghĩ đến
Phương là hình ảnh của một mỹ nhân mối tình đầu hiện lên với dáng hình tiên nữ,
ám ảnh anh suốt những đêm mưa dài, khiến mọi giác quan như được thức dậy, thân
thể anh “gai lên, xương thịt chờn rợn, run rẩy, rung động trong nỗi khát khao thèm
muốn được hưởng tới độ tột cùng cái cảm giác tiếp xúc êm ái, choáng ngợp, đáng
kinh hãi với cái hình hài yêu dấu, mong manh, mềm mại như cánh hồng ấy” [147,
tr. 32]. Những tình huống tương tự chúng ta có thể bắt gặp trong Ăn mày dĩ vãng
của Chu Lai, Lạc rừng – Trung Trung Đỉnh,… như một “hội chứng tập thể” biểu
hiện sự khủng hoảng tính dục của đời sống chiến tranh. Chính vì hiện tượng mất
cân bằng, thậm chí là “triệt tiêu giới” là phổ biến nên “mối tình” của ba cô gái Mây,
Thơm, Hơbia với những người lính trong đội trinh sát với những màn làm tình
“thật” là những trường hợp hy hữu, là “của hiếm” và thực sự có tính nhân văn sâu
sắc. Còn đại đa số những “hành vi tính dục” nói trên đã cướp mất bản năng “yêu và
sống” bình thường của người lính – một khía cạnh đáng buồn của thân phận, chính
vì vậy, nó là sự phản kháng dữ dội của con người trước chiến tranh.
Tiêu biểu nhất cho quãng đời chiến trận của người lính là những cuộc giao
tranh trên chiến trường. Với Nỗi buồn chiến tranh hành động nã súng, chém giết
nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của lý trí, ý thức và mang màu sắc bạo lực
tàn sát. Dẫu biết chiến tranh là sinh tử, là “một mất một còn” nhưng việc nả đạn xối
xả, đâm chém tới tấp vào những hình nhân không còn sức chống đỡ là đã vi phạm
vào nhân tính, là dã man, tàn bạo. Kiên khi đối mặt với tên thám báo bị thương
94
không đủ khả năng kháng cự vẫn “điên cuồng nã từng phát, từng phát đóng đanh
lên cái thân xác còn nóng hổi sức sống đang oằn oại đau đớn trong cơn rung giật,
giãy chết. Máu phọt toé lên ướt ống quần Kiên” [147, tr. 19]. Sự lạnh lùng, vô cảm
còn được nhân lên khi Kiên trút thù hận vào nữ thám báo của giặc: “Bắn trả thù. Và
kinh khủng hơn thế là khi bị cả chừng nửa băng đạn xô vật ra, cô ta vẫn còn thúc
cùi tay xuống sân và ngóc đầu lên, như toan ngồi dậy, Kiên bắn bồi luôn, không
phải một phát mà là trọn nửa băng nữa” [147, tr. 115]. Bản năng giết người trong
môi trường chiến tranh có khả năng lây lan, trở thành một thứ “vô thức tập thể”.
Hình ảnh Kiên cùng Tạo “voi” xả đạn từ khẩu đại liên vào đám tàn binh của trung
đoàn 45 đang bỏ chạy như xả vào hàng ngàn cái bia thịt trong con mắt của chính
Bảo Ninh là hành động tàn sát. Rùng rợn hơn là cảnh tượng người lính cao xạ “lôi
xác cô gái xuống bậc tam cấp. Tóc tai xoã tung, gáy và xác chết nảy bình bịch như
trái banh. Thằng chó má dã man kéo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt bê tông…
Hắn choãi chân, vặn lưng lấy đà, quăng mạnh, liệng bổng người ta lên. Xoay lộn
một vòng trong nắng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch, rơi thịch xuống cạnh mấy
cái thây lính dù chưa ai dọn” [147, tr. 111]. Rồi giấc ngủ ngon lành của Kiên bên
xác một cô gái ở sân bay Tân Sơn Nhất, cuộc ăn mừng chiến thắng của đồng đội
anh ngay cạnh mấy cái thây của đối phương… cho thấy người lính do tiếp xúc quá
nhiều, bị “bội nhiễm” với cái chết, không còn cảm giác sợ hãi … Rõ ràng, chiến
tranh hiện diện trong tác phẩm với đầy đủ tính chất huỷ diệt, không chỉ là sinh
mệnh con người mà là nhân tính, đã biến những thanh niên trí thức mơ mộng,
những người lao động chân chất, mộc mạc, hiền lành thành những kẻ giết người
không biết ghê tay, những kẻ đầu óc đầy rẫy hận thù, thậm chí là điên cuồng, khát
máu…
Thế nhưng, giữa cõi mịt mùng thiếu khuyết sự sống của Nỗi buồn chiến
tranh vẫn loé lên một đốm sáng của lòng nhân ái. Đó là câu chuyện của Phán về
người thương binh Ngụy trong một trận đánh giáp lá cà. Lúc đầu, khi cùng bị hất
xuống một chiếc hố, như một thói quen phải chém giết, Phán đã đâm tới tấp vào kẻ
95
thù. Nhưng khi cơn “say máu” lắng xuống, Phán chợt nhận ra người lính phía bên
kia đã dính đạn từ trước, anh chợt thấy hành động của mình thật khủng khiếp, anh
“run sợ đến thấu tim và xót thương” tận đáy lòng, xé áo băng bó vết thương cho
người lính Ngụy. Sau đó Phán trèo lên khỏi hố để tìm kiếm thêm vải và bông băng
nhưng một cơn mưa rừng quái ác ập đến bất ngờ đã vùi lấp một vùng giao tranh
đẫm máu, không thể tìm thấy dấu vết nơi người lính Ngụy xấu số đang cần sự trợ
cứu khẩn cấp. Hình ảnh Phán – người lính giải phóng quân “lồng lên chạy tìm
cuống quýt” trong “đau đớn chồng chất” với lời gọi thảm thiết “Ngụy ơi! Ngụy ơi!
Em ở đâu? Ngụy ơi…” là một tiếng kêu lạ, phát ra từ đáy sâu tình người và có sức
lay tỉnh ghê gớm. Chiến tranh luôn tồn tại những nghịch lý, nhưng đây là một
nghịch lý chỉ có thể giải nghĩa bởi bản tính thiện trong mỗi con người trước đồng
loại, và về một mặt nào đó, nó là thứ tình cảm thiêng liêng, chưa bị xoá mờ của
những con người có chung “căn cước dân tộc”, máu đỏ da vàng dù thuộc về hai bên
chiến tuyến… Đây thực sự là một thông điệp mang ý nghĩa dự báo, thức tỉnh, mở
ra chiều hướng tái nhận thức về chiến tranh, xoá bỏ thù hận và tạo hoà hợp dân tộc.
Chính Bảo Ninh, trong lời tựa cuốn tiểu thuyết Chuyện của Paco của nhà văn – cựu
chiến binh Mỹ Larry Heinemann đã chia sẻ: “Chỉ trong những tác phẩm văn học
đích thực (Chuyện của Paco – N.A.V nhấn mạnh) mới hiện lên đích thực bi kịch
Mỹ trong và sau chiến tranh Việt Nam và mới thực sự cho ta thấy cuộc đời cùng số
phận những người Mỹ lính tráng, nông dân, thợ thuyền, tiểu thị dân… bị chiến
tranh đày đoạ và dày vò như thế nào. Các tác phẩm văn học ấy dù có thể rất gai góc
và gây sốc, song quyết liệt tính hiện thực và đậm tinh thần nhân đạo, sẽ cho người
đọc trực diện nhìn thấy những người Mỹ bình dân, họ sướng khổ, buồn vui như thế
nào, họ tốt đẹp và xấu xa, họ thù hận và yêu thương, họ thiết tha với hoà bình và
căm ghét chiến tranh…”. Suy cho cùng, người lính dù thuộc phía nào của cuộc
chiến đấu đều là nạn nhân của cỗ máy chiến tranh và những ngày tháng cầm súng
trên chiến trường là một khởi điểm đau thương đè nặng lên số phậm kém may mắn
96
của đời họ.
Như đã trình bày ở trên, quãng đời chiến trận chỉ là sự khởi đầu cho hành
trình số phận của người lính. Thời gian sống ngoài mặt trận là ngắn ngủi so với
khoảng đời sau, nhưng nó lại là trung tâm của mọi dư chấn tinh thần, là vết thương
và nỗi đau không gì khoả lấp. Cùng với một số nhà văn cầm súng như Chu Lai,
Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy…; Bảo Ninh qua Nỗi
buồn chiến tranh đã khắc hoạ thành công chân dung số phận của người lính trở về
sau chiến tranh lạc thời, cô đơn, buồn bã giữa đời thường.
Cùng chung trải nghiệm, suy tư về người lính với nhiều nhà văn cùng thời,
nhưng Bảo Ninh dường như có được dự cảm nhạy và sớm hơn. Ngay từ hình ảnh
đoàn tàu đưa những người lính, những thương phế binh trở về, hành động của nhân
viên kiểm toa – những người ở hậu phương, đã làm tổn thương và gây nên nỗi đắng
cay chua chát không thành lời trong lòng Kiên. Những người lính bị kiểm tra, khám
xét từng chiếc ba lô, từng vật dùng cá nhân, từng món quà nhỏ và một vài chiến lợi
phẩm lặt vặt bởi ý nghĩ thô bạo: “Một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư
hao thất thoát, bị xâu xé tranh đoạt, bị hốt vơ vào cho đến sạch sành sanh là bởi anh
bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác” [147, tr. 84]. Cùng với những hành
động xúc phạm ấy là tiếng loa phóng thanh vang lên trên các toa tàu nhưng chủ yếu
cũng chỉ nhằm “lên lớp” cho người lính rằng: cần phải “chống cầu an, chống đạn
bọc đường, chống thói đam mê tàn tích của xã hội phồn vinh giả tạo và nào là cần
đặc biệt chống tư tưởng công thần” [147, tr 84]. Trở về với ngôi nhà cùng gia đình,
người thân, Kiên đã thành người xa lạ, càng cố gắng càng không thể hoà nhập. Anh
có cảm giác như đang “mắc kẹt trên cõi đời này”. Những ám ảnh của quá khứ chết
chóc, đau thương không buông tha, luôn trở đi trở lại hành hạ anh. Đang đêm, nghe
tiếng quạt trần, Kiên lầm tưởng là tiếng rít của cánh quạt trực thăng đang quần
thảo. Xem tivi thấy cảnh lính Mỹ mặc áo giáp ra trận, oái oăm thay, lại khiến Kiên
rạo rực “như sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém
giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng” [147, tr. 188]. Sự “hoá thân” của
97
Kiên vào vai một nhà văn phường, tìm đến hành động viết là sự giải toả áp lực
ngoài sức chịu đựng của “hội chứng chiến tranh” và cứu vãn nhân tính. Tuy là một
nhà văn “cấp thấp” – cấp phường, lại “điên điên, khùng khùng”, tối ngày dầm mình
trong men rượu, xa lánh mọi ồn ào chụp giật đang diễn ra xung quanh…; nhưng
những trang viết với ngổn ngang mộng mị, chập chờn quên nhớ là một nghĩa cử trả
nợ quá khứ, tri ân đồng đội, bày tỏ sám hối và thức tỉnh nhân tâm.
Nhìn ra xung quanh, những người bạn chiến trường của Kiên cũng đều là
những con người bất hạnh, những số phận bi kịch, thậm chí họ còn rủi ro hơn Kiên
nhiều khi phải gánh thêm nỗi đau thể xác. Thương tật và những căn bệnh hiểm
nghèo luôn có nguy cơ quật ngã, đầy đoạ và cướp đi sự sống mong manh của
những mảnh đời tàn phế. Đó là Sinh, bị thương vào cột sống, liệt nửa người, quanh
năm suốt tháng gắn liền với giường bệnh, thân xác hoại tử bốc mùi hôi thối, trở
thành gánh nặng cho vợ con, anh em. Là Vượng, một cựu binh thiết giáp hành nghề
lái xe nhưng cứ đến những đoạn đường “êm êm, mềm mềm, nhũn nhũn” là anh lại
nôn oẹ, hồi tưởng là cảnh “ở rãnh xích đầy những thịt với tóc, giòi lúc nhúc – thối
khẳm” [147, tr 176]. Là “cái mặt sốt rét cơn thâm xịt”, “mò đâu từ bên Lào về”…
Những con người đã không tiếc đời mình để làm nên ngày 30 - 4 - 1975 huy hoàng
cho dân tộc ấy “phần lớn chưa công ăn việc làm, chưa định hình cuộc sống mới, và
như người ta nói, là còn chưa lại hồn” [147, tr. 174]. Hẩm hiu hơn, có người còn
phải đi ăn xin. Mỗi lần tụ tập cùng nhau ở một quán cà phê của một người lính giải
ngũ, sau khi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vui buồn đời lính, đã thành thông lệ
và quan trọng hơn là để bày cho nhau “nơi có thể có việc làm, về cách lo lót bọn
nha lại để xin nhập tịch, xin trợ cấp thương tật, xin vào học lại ở trường đại học, xin
trở về xí nghiệp… Nhưng nói chung đây là nơi tụ tập giải sầu, gặp gỡ hàn huyên,
nói chung là những sự cố kết uỷ mị” [147, tr. 174]. Hoà bình đã lập lại nhưng
người lính thì vẫn còn ở tư thế “không thể nhấc chân ra khỏi miệng hố chiến tranh”,
càng không thể hoà nhập với đời sống bon chen, ô trọc thời hậu chiến. Lời giã biệt
của Hiền – một nữ thương binh cụt chân, người bạn tình cùng chuyến tàu của Kiên
98
trở về từ chiến trường trên sân ga Hàng Cỏ ngày ấy – đã chất chứa trong nó bao
ngậm ngùi, mặc cảm, tủi phận: “Đời hoà bình biết nông sâu thế nào mà lường, anh.
Có phải là còn chiến tranh, còn trong bộ đội mà bảo rằng sẽ được điều gì. Thôi, mai
rày có nhớ nhau thì cứ cậy vào run rủi…” [147, tr. 85]. Trở về cuộc sống đời
thường, Kiên và đồng đội dường như “trắng tay”: không tình yêu, không tiền bạc,
không có khả thích nghi với môi trường xã hội… Họ chính là những kẻ “lạc thời”,
những số phận đau khổ nhất mà chiến tranh để lại.
Trong một lần chia sẻ với báo giới nhân sự ra mắt của Ăn mày dĩ vãng, khi
đề cập đến thân phận của người lính kinh qua chiến tranh, nhà văn Chu Lai đã khái
quát: “Sau khi “giã từ vũ khí, cuộc đời những người lính mấy ai vui? Mấy ai được
hạnh phúc trọn vẹn giữa đời thường!...” [179, tr. 262]… Khám phá chiến tranh từ
góc độ số phận con người, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một diễn ngôn
phản chiến mang ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.
3.5. Tình yêu trong chiến tranh
Tình yêu là một đề tài vĩnh cửu của văn học nghệ thuật bao trùm lên đời sống,
đồng hành cùng quá trình sinh trưởng của nhân loại qua mọi thời kỳ, ở mọi phương
trời thuộc hành tinh trái đất. Trong nền văn học Việt Nam, đây cũng là một nguồn
cảm hứng lớn, xuyên suốt quá trình vận động và phát triển từ văn học dân gian, văn
học trung đại đến hiện đại và đặc biệt thăng hoa ở những thời đoạn rực rỡ, thành
tựu. Là món quà ưu ái tạo hoá ban tặng cho đời sống con người, một đề tài vừa vô
cùng xưa cũ vừa mới mẻ, nhưng mỗi thời đại văn học, mỗi trường phái, mỗi nhóm
tác giả và tác giả sẽ có cách cảm nhận, khám phá và thể hiện riêng. Khi nằm trong
khuôn khổ và dưới sức phong toả của đề tài chiến tranh, tình yêu trong ba tiểu
thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng
Oánh và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã có sự thu hẹp về kích thước, mặc
dầu vậy, nó vẫn hiện diện như một hình tượng tình yêu có sức cảm hoá và mang giá
trị nhân văn sâu sắc. Giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết, trong hoàn
cảnh vô cùng gian khổ và ác liệt của cuộc chiến tranh, hơn lúc nào hết, người lính
99
rất cần sự yêu thương, cần những điểm tựa tinh thần để cân bằng lại cuộc sống
chiến trường vốn khốc liệt, dữ dội. Tình yêu, vì vậy, đối với họ là nguồn lực tiếp
thêm sức mạnh để đối đầu với thử thách gian nan, là ánh sáng lấp lánh trong tâm
hồn để hướng về Tổ quốc, là niềm tin, hy vọng về một ngày mai hoà bình, sum họp
và hạnh phúc. Những câu chuyện tình yêu trong ba tác phẩm dù đậm nhạt, dài ngắn
khác nhau đều là sự phóng chiếu, thể hiện cảm xúc lứa đôi mang tính đặc thù của
những năm tháng trong và sau cuộc chiến tranh chống Mỹ.
3.5.1. Vận mệnh dân tộc đặt trên hạnh phúc cá nhân trong Dấu chân người
lính
Dấu chân người lính, trước hết là một bản hùng ca chiến trận, một tiểu thuyết
mang âm hưởng sử thi tôn vinh vẻ đẹp và sức mạnh cộng đồng, chính vì vậy,
những cung bậc cảm xúc tình yêu đặt trong tương quan tác phẩm có phần mờ nhạt
và bị lấn át. Đó cũng là một tất yếu bởi những năm tháng ấy, vận mệnh dân tộc đặt
lên trên hạnh phúc cá nhân. Cả đất nước gồng mình chống chọi mưa bom bão đạn
quân thù. Biết bao người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc. Có thể coi câu
thơ: Khi riêng tư ta thấy mình xấu hổ của Chế Lan Viên là sự tỏ bày thành thật gợi
nhớ về một thời cả dân tộc có cùng ý chí, chung “tâm hồn và ý nghĩ”. Nằm trong
quĩ đạo vận động đó, tình yêu trong Dấu chân người lính mang vẻ đẹp lý tưởng,
cao cả giữa “bầu khí quyển vô trùng” của ý thức tập thể. Nhân vật Nết, một cô gái
trẻ khi nhắc đến tình yêu đã để lại một “phát ngôn” thể hiện rất đúng sự lựa chọn và
cách ứng xử của tuổi trẻ chống Mỹ: “Tao chỉ biết công tác cho tốt đã” [22, T.1, tr.
760]. Tương tự nhưng có phần phức tạp hơn là mối cảm tình giữa Lượng và Xiêm.
Đây là một sự phải lòng thầm kín: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” nhưng có
phần éo le, trắc trở của một sĩ quan quân giải phóng và vợ một lính Ngụy. Ở vào
hoàn cảnh và thời điểm đó, kiểu “luyến ái” này rất dễ bị phản ứng từ phía khách
quan, thậm chí có nguy cơ bị quy kết là “hủ hoá”, “mất lập trường tư tưởng”… Sau
thương thầm, nhớ trộm, với Xiêm, có lúc cô như “bị ngọn lửa của tình yêu đốt
cháy” [22, T.1, tr. 751], với Lượng, mặc dù đã “cố quên đi để không bao giờ phải
100
nghĩ đến Xiêm. Thế nhưng hình như lúc nào anh cũng tưởng như trông thấy đôi
mắt Xiêm, đôi mắt như hai đốm hoa lửa bay qua một vùng sương mù của một đêm
mùa xuân đến rình đậu bên anh” [22, T.1, tr. 751]… Cuối cùng, Lượng đã khép lại
mối tình “chông chênh”, thiếu điểm tựa sức mạnh bằng một sự lựa chọn “an toàn”.
Anh dứt khoát “sẽ cắt đứt mối quan hệ tình cảm không biết nhen nhóm từ bao giờ
giữa anh và Xiêm” [22, T.1, tr. 751] nhưng vẫn không che giấu được một chút dối
lòng, một cái gì như tự an ủi bởi “mối quan hệ ấy đã có gì đâu” [22, T.1, tr. 751].
Đó là cái kết cục không thể khác, nằm trong dự đoán người đọc nhưng vẫn để lại
chút tiếc nuối bởi đây là một câu chuyện đời tư với những tình huống mang đậm
chất tiểu thuyết hơn cả.
Ấn tượng và tiêu biểu nhất là mối tình học trò, trong trắng giữa Lữ và Hiền.
Có thể nói đó là một mối tình của hai nhân vật được Nguyễn Minh Châu ưu ái và
cảm mến nhất của Dấu chân người lính, được mô tả với những diễn biến khá cặn
kẽ qua nhiều chương của tác phẩm. Họ là hai gương mặt đẹp đôi. Lữ gặp Hiền trên
đường giao liên, anh nhận ra đây là cô gái mình thầm yêu từ năm mười sáu tuổi
trong một lần cắm trại hè sau kỳ thi học sinh giỏi toàn khu vực. Giờ đây, Hiền đã
trở thành một diễn viên xinh đẹp trong đoàn văn công Mặt trận đi biểu diễn phục
vụ chiến sĩ Trường Sơn. Gặp lại Hiền trên chiến trường, những kỷ niệm tươi rói
của mối tình đầu ngây thơ, trong sáng sống dậy, dù Lữ đã đi qua tuổi học trò: “Anh
vẫn yêu Hiền. Anh vẫn yêu cô với tất cả sự hiểu biết và từng trải của anh hiện nay
trong khói lửa” [22, T.1, tr. 635] và hy vọng của Lữ lúc này chỉ thuần túy mang giá
trị tinh thần rằng tiếng hát của Hiền sẽ mang lại sức mạnh thực sự cho người chiến
sĩ cầm súng đang hàng ngày hàng giờ chịu đựng gian khổ và chiến đấu quên mình
trên chiến trường. Tuy nhiên, cũng có lúc Nguyễn Minh Châu chạm được vào
những cung bậc tình cảm thường tình trong tình yêu, nhưng nó vẫn hơi lên gân một
chút bởi tâm trạng nhân vật không chịu sự dẫn dắt của con tim mà vẫn giữ được sự
sáng suốt của ý thức, của lý trí. Đó là những lúc Lữ có tâm lý ghen tuông khi thấy
Hiền dành tình cảm cho Moan, người chiến sĩ cùng tổ máy đã nhận Lữ làm anh, và
101
chính Lữ là người giới thiệu Moan vào Đoàn – một “sự kiện quan trọng” và là niềm
vinh dự lớn của thanh niên thời đại chống Mỹ, nhưng khoảnh khắc “đáng xấu hổ”
đó qua đi rất nhanh, Lữ lại trở về với nhịp đập bình thường của “trái tim thời chiến”
và lấy lại tư thế cần có của người lính. Anh tự trách mình: “Sao có lúc mình lại sinh
ra lẩm cẩm vô lý đến vậy? Tại sao mình lại đi ghen với bạn? Tại sao Hiền lại không
thể quen biết và quan tâm đến Moan bằng tình đồng đội và tình bạn, cũng như
mình” [22, T.1, tr. 779]. Và mặc dầu rất yêu Hiền, Lữ vẫn xác định hy sinh cả hạnh
phúc cá nhân, chấp nhận thiệt thòi để dâng hiến tuổi xuân cho lý tưởng, cho Tổ
quốc: “Không biết bao nhiêu ngày đêm, anh đã ngồi một mình trong căn hầm này,
giữa miếng đất nóng bỏng lửa đạn này để viết cho Hiền những bức thư đầy các
trang nhật ký và chẳng bao giờ gửi đi” [22, T.1, tr. 780]. Có lúc anh tự giễu mình là
đã ấp ủ và theo đuổi một mối tình viển vông, một tình yêu đơn phương… Nhưng
vượt lên tất cả, anh hướng về một ngày mai toàn thắng. Khi đã hoàn thành sứ mệnh
với đất nước, nhân dân, tình yêu đôi lứa mới thưc sự vẹn tròn: “Rồi khi nào chiến
dịch kết thúc và thắng lợi, anh dự định sẽ chủ động đến tìm gặp Hiền… Anh sẽ thổ
lộ mối tình yêu chân thành của anh với người con gái ấy – như là anh trao cho cô
một trái cây đã chín đỏ trên cành cây tươi xanh. Anh sẽ cùng cô đứng giữa mảnh
đất chiến trường không còn bóng một tên Mỹ…, đã hình dung được thế nào là lòng
dũng cảm và tinh thần hy sinh quên mình, đã hiểu sâu xa hơn thế thế nào là chiến
thắng và niềm vui chiến thắng [22, T.1, tr. 781]. Lữ đã hy sinh và cái ngày “anh dắt
tay em trời chi chít sao giăng” (thơ Phạm Tiến Duật) đã không đến với Hiền. “Dàn
dựng” câu chuyện tình yêu này, Nguyễn Minh Châu dù ít nhiều tiếc nuối nhưng âm
hưởng chính vẫn là sự ngợi ca thứ tình yêu cao quí, lý tưởng, luôn biết hy sinh cái
riêng vì cái chung, hạnh phúc cá nhân vì cộng đồng. Đó là tiếng nói, là gương mặt
tình yêu tiêu biểu của thế hệ trẻ những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
3.5.2. Tình yêu lý tưởng mang xúc cảm đời thường trong Đất trắng
Tương tự Dấu chân người lính, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh tập trung
khắc hoạ bộ mặt chiến tranh ở vào một thời điểm cam go dữ dội nhất; chính vì vậy,
102
tình yêu người lính chưa phải là mối quan tâm thường trực của Nguyễn Trọng
Oánh. Trong tác phẩm nó chỉ được đề cập với một tỉ lệ ít ỏi và chưa thật sâu sắc.
Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện cảm hứng đời tư thế sự (dù chưa thực sự mạnh
mẽ) và ý thức khám phá số phận cá nhân; bên cạnh những mối tình ít nhiều vẫn
mang màu sắc lý tưởng, Nguyễn Trọng Oánh đã có những góc nhìn gần gũi, sẻ chia
hơn trong những nhu cầu, khao khát tình yêu của người lính. Những mối tình trong
Đất trắng cũng được nẩy nở trên chiến trường, cảm xúc lứa đôi chịu sự can dự và
chi phối trực tiếp của cảm hứng chiến trận. Mối cảm tình của ông Thêm với cô y sĩ
Út Lích là chân thực nhưng lại có quá nhiều những do dự, phân vân. Đầu tiên đó là
sự chênh lệch về tuổi tác. Tiếp đến và quan trọng hơn là vai trò, tư cách trợ lý tuyên
truyền trung đoàn của ông với nhiệm vụ chiến đấu hàng đầu: “Từ khi đi bộ đội, ông
Thêm chưa nghĩ đến một người con gái nào. Chẳng lẽ bây giờ ông lại nghĩ về một
cô gái kém ông gần 20 tuổi này” [152, tr. 107, 108] và: “Yêu iếc chi mặc, nhưng
phải đánh giặc xong cái đã” [152, tr. 394]. Nhưng tình yêu ở cái tuổi không còn trẻ
trong ông vẫn luôn trỗi dậy, đòi lên tiếng: “Mình yêu rồi ư? Cũng lần đầu tiên trong
đời ông tự hỏi như vậy. Yêu một cô gái kém mình đến gần hai chục tuổi. Rồi cả
trung đoàn này người ta cười cho, người ta bảo ông già còn chơi trống bỏi. Mà sao
mình lại sợ nhỉ? Thì đã sao? Mình yêu chính đáng mà” [152, tr. 180]. Chỉ đến khi
Út Lích, một cô gái trẻ Nam Bộ với tính cách mạnh mẽ, chân chất đã hoá giải dùm
ông những khúc mắc trong lòng bằng một thứ lý lẽ hết sức đơn giản, hết sức đời
thường nhưng cũng đầy sức thuyết phục: “Cương vị anh không lấy được vợ à anh
Hai (…). Sao anh cứ giữ gìn quá vầy cho khổ anh Hai, yêu em thì có chi mà sợ”
[152, tr. 282]. Xây dựng mối tình giữa ông Thêm và Út Lích, Nguyễn Trọng Oánh
đã mang đến cái nhìn hoà hợp giữa tình yêu và chiến tranh. Ông muốn lý giải nó
như một sự bù đắp, sự “làm đầy” và tăng thêm hương vị cho cuộc sống chiến tranh
vốn căng thẳng, quyết liệt. Người lính, bên cạnh hành động chiến đấu gan dạ, dũng
cảm, họ cần những góc cảm xúc riêng tư, những rung động tình yêu và cần được
103
hưởng hạnh phúc lứa đôi…
Theo bước chân nhân vật, Đất trắng còn để lại những mối tình hoặc dang dở,
hoặc luôn phải đón nhận những trở lực của chiến tranh mà những người tham gia
chiến đấu không thể khắc phục vượt qua để đến với tình yêu như mong đợi. Đó là
mối tình của An và Sáu Trang mà hoàn cảnh chiến đấu là nhân vật tạo ra khoảng
cách và trò chơi đuổi bắt giữa hai người mặc dầu họ không mong muốn: “Mối tình
của hai người cứ vậy, như trò chơi hú tìm với nhau, chẳng biết đến bao giờ anh cầm
được tay cô một lần nữa như hồi ở dưới hầm Tân Thới Hiệp. Một người thì giận,
một người thì buồn. Khoảng cách của tình yêu giữa họ chỉ có một tí, một tí, vậy mà
như hai con quay, nó quay tưởng như chạm vào nhau đến nơi thì vù một cái lại ra
xa” [152, tr. 147]. Sự lỡ nhịp, trò đùa đó, rõ ràng là do đời sống khách quan chiến
tranh mang lại. Cảm nhậm thấm thía điều đó, là người lính trẻ, khác với sự lưỡng lự
ở cái tuổi trung niên của ông Ba Thêm, hơn ai hết An muốn chạy đua với thời gian
và sự mong manh của sinh mệnh người lính trên chiến trường bằng quyết tâm thổ
lộ tình yêu: “Trong cuộc chiến tranh này, mọi chuyện có thể xẩy ra ngay trong đêm
nay, hay trong ngày mai. Cho nên, cái điều chưa nói phải được nói” [152, tr. 153].
Thế nhưng dù dứt khoát với lòng mình: “bằng bất cứ giá nào anh cũng phải gặp cho
được cô gái”, An cũng đành bất lực: “Tôi về tiểu đoàn thì cô ấy xuống đại đội. Tôi
xuống đại đội thì cô ấy sang sông. Tôi sang sông thì cô ấy vô trong ấp” [152, tr.
325] … Mối tình của Quá và Bảy Hường còn thương tâm hơn. Cũng bởi dự cảm về
khoảng cách nhỏ nhoi giữa sự sống với cái chết trong đời người lính trên chiến
trường nên Quá không dám bày tỏ trực tiếp tình cảm với Bảy Hường. Cái còn lại
giữa hai người cũng chỉ là những dòng chữ yêu thương sau những tấm hình trao
nhau làm kỷ niệm: “Khi nào hoà bình thống nhất đất nước anh sẽ đưa em về Hà
Nội” [152, tr. 209]. Và mơ ước đó đã vĩnh viễn không thành: Bảy Hường đã hy
sinh trên đường tải thương. Đất nước đã có ngày thống nhất, Nam Bắc đoàn tụ,
nhưng đôi lứa vẫn còn quá nhiều người không có ngày sum họp. Viết về tình yêu
trong chiến tranh, Nguyễn Trọng Oánh không có nhiều thứ ánh sáng lấp lánh của
Nguyễn Minh Châu, nhưng những trang văn của ông gần với xúc cảm đời thường,
104
ngậm ngùi, xót xa hơn trước những thiệt thòi, mất mát và người lính phải gánh
chịu. Với cảm quan tình yêu đó, Nguyễn Trọng Oánh đã mở ra một chiều hướng
tiếp cận với nhiều góc nhìn mới, buồn bã hơn nhưng cũng chân thực hơn.
3.5.3. “Thân phận của tình yêu” trong Nỗi buồn chiến tranh
Hoàn toàn không vô cớ khi lần đầu tiên xuất bản, Nỗi buồn chiến tranh mang
tên Thân phận của tình yêu mặc dầu như đã nói, cái tên này thu hẹp phần nào khả
năng chiếm lĩnh, phản ánh hiện thực và sức khái quát của tác phẩm. Thân phận của
tình yêu, hiển nhiên là một ẩn dụ nghệ thuật phản chiếu những xung động dữ dội
trong cảm hứng sáng tạo của Bảo Ninh. Một cách khái quát, Nỗi buồn chiến tranh
là sự xuyên thấm, hoà trộn giữa chiến tranh và tình yêu nhưng phần ngưng đọng,
kết tụ thành một hình hài có sức ám gợi vẫn là nỗi buồn thân phận tình yêu: “Tình
yêu, chiến tranh, viết tiểu thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt, bàng
hoàng, nhức nhối. Mưa và đêm, chiến tranh và sáng tác; khủng khiếp và hồn hoang.
Len lỏi, bao trùm và dẫn dắt tất cả các biến động của tiểu thuyết (mưa và đêm) là
một mối tình đau xót, kéo dài, vang vọng, ầm ĩ và bùng nổ, huỷ hoại tất cả” [67, tr.
266].
Không chỉ ở những nhân vật chính, một số nhân vật chỉ thoáng hiện trong tác
phẩm cũng được Bảo Ninh mô tả với nhiều khao khát lứa đôi cùng những hành vi
tình dục. Đó là “mối tình” của ba cô gái liên lạc Mây, Thơm, Hơbia với các chàng
trai ở đội trinh sát. Đó chưa hẳn đã là tình yêu nhưng việc đêm đêm họ thầm lén,
vụng trộm tìm đến với nhau để được gửi trao thân xác, được nếm trải những giây
phút tột cùng ái ân ở nơi sự sống và cái chết chỉ là gang tấc cho thấy cái nhìn trân
trọng trước những nhu cầu đời sống tự nhiên của con người, nhất là những người
trẻ tuổi. Là cuộc tình ngắn ngủi nhưng cảm động chỉ diễn ra trong khoảng thời gian
vài ngày và trên không gian của một khoang tàu giữa Kiên và Hiền, cô thương binh
trở về từ mặt trận khu 9 trên chiếc tàu hoà bình cùng Kiên. Là mối tình yêu thầm
kín, trọn vẹn của Lan, người em gái hậu phương trải dài suốt những năm tháng
chiến tranh cho đến ngày đất nước thống nhất dành cho anh bộ đội Kiên với một
105
kết cục buồn… Song bao trùm và ám ảnh nhất vẫn là mối tình giữa Kiên và
Phương – một mối tình ngây thơ, trong trắng, mãnh liệt, thủy chung… nhưng lại bị
tổn thương nặng nề, bị chà nát, chia ly và tan vỡ bởi chiến tranh.
Câu chuyện tình yêu dài giữa Kiên và Phương đi qua suốt những năm tháng
chiến tranh và hậu chiến u buồn của hai chặng đời người lính. Thời kỳ đầu, Kiên và
Phương xuất hiện trong tác phẩm như một “cặp đôi hoàn hảo” về cả ngoại hình lẫn
sự ngây thơ, trong sáng, đắm say trong tâm hồn, đặc biệt là nhan sắc “hút hồn” của
Phương – cô nữ sinh có “vẻ đẹp trời ban, vẻ đẹp rực cháy sân trường Bưởi”. Kỷ
niệm mối tình học trò diễn ra nơi sân trường, lớp học, trong cảnh hoàng hôn với
vầng mặt trời đỏ rực ở Tây Hồ… Nhưng như “một thiên mệnh mù mịt xa khơi, tối
tăm và đau xót”, một dự cảm nghiệt ngã, đau thương, ngay từ những ngày đầu bình
yên, say sưa tận hưởng những giây phút bình yên trong sáng bên nhau trước lúc
Kiên bước vào cuộc chiến, Phương đã nói: “Em nhìn thấy tương lai – đấy là sự đổ
nát, sự thiêu hủy” [147, tr. 150]. Phương đã bày tỏ ý nghĩ của mình nhằm níu kéo
người yêu ở lại nhưng Kiên đã khước từ. Cũng như bao thanh niên cùng thế hệ,
Anh đã hăng hái lên đường nhập ngũ và lại còn ấp ủ một giấc mộng “tiểu tư sản” là
sẽ trở thành người hùng chiến trận. Để kéo dài thời gian được bên nhau và không
muốn chia tay người yêu quá đột ngột, bất chấp bom rơi đạn nổ, Phương đã theo
Kiên trên chuyến tàu ra mặt trận. Và ngay từ “chuyến tàu định mệnh ấy”, dự cảm
của cô về chiến tranh và thân phận của một mối tình bất an, đau khổ đã ập đến.
Chuyến tàu là một không gian chuyển động trong sự bao phủ của bóng đêm tăm
tối, mịt mùng. Những hình ảnh “phố xá tối câm”, “sân ga tối om”, con đường với
“bóng tối đặc sệt bụi”, ca-bin “không đèn tối om”, “bóng đêm cuồn cuộn”, “đường
đêm tăm tối”, một toa tàu mang hàng vào Vinh “tối đen, nghẹt thở” giữa “đêm tối
chiến tranh mênh mông”…; là sự dự báo cho hành trình đầy bão táp, rủi ro của số
phận. Trên một khoang đen hoảng loạn, bất trị, Phương đã bị một đám đông xô
đẩy, chen lấn, đã bị xâm hại, bị cướp mất sự trong trắng mà cô vẫn dành để trao
cho Kiên. Đó là cú xốc chiến tranh kinh hoàng nhất đối với Phương, giết chết hoàn
106
toàn cảm xúc thánh thiện về tình yêu, đẩy cuộc đời cô về phía bất hạnh, vĩnh viễn
mất đi những rung động từ con tim, để rồi sau ngày gặp lại, Phương luôn cảm thấy
tiếc xót, ê chề, cay đắng… Đối với Kiên, tuy không phải nạn nhân trực tiếp như
Phương nhưng chuyến tàu định mệnh trong đêm đen ấy là một ký ức đau buồn,
tuyệt vọng, một mất mát không gì bù đắp nổi ám ảnh suốt quãng đời còn lại của
anh, để rồi mỗi lần nhớ lại lời Phương: Chúng mình có lẽ “đến chết vẫn còn trong
trắng”, vậy mà, chúng mình đã “yêu nhau đến nhường nào”…, lòng anh quặn thắt,
dấy lên bao thương cảm, tủi nhục, bất lực…
Và chuyến tàu của chiến tranh ấy đã vĩnh viễn hủy hoại mối tình trong trắng,
ngây thơ của hai người. Những gì đã diễn ra trên “con tàu định mệnh”, đặc biệt
hình ảnh Phương nhàu nát, tả tơi, sau khi bị làm nhục ngay trước thềm mặt trận tiền
phương báo hiệu tính chất tàn khốc, dữ dội, phi đạo đức của chiến tranh, đánh dấu
cuộc chia ly mãi mãi của một mối tình ngây thơ, trong trẻo, đẹp như những trang
sách học trò nhưng phải nếm đủ vị đắng cay, chua chát và xót đau.
Bỏ lại Phương một mình sau cái đêm khủng khiếp ấy, Kiên dấn thân vào cuộc
chiến khốc liệt đầy rẫy cảnh xương rơi máu đổ. Phương một mình ngược tàu trở lại
Hà Nội mang theo cùng lúc hai vết thương vô phương cứu chữa cả trên thân thể lẫn
trong tâm hồn. Từ một cô gái thanh tân, kiều diễm, Phương trở thành người đàn bà
phóng túng, thác loạn, bất cần đời. Cái quí giá nhất của đời con gái đã bị tước đoạt,
dày xéo, Phương lao vào hoan lạc để phung phí và tự hủy diệt đời mình. Còn đâu
hình ảnh “trẻ trung, xinh đẹp, không một nét sầu thương” của cô thiếu nữ Hà thành
trong dáng dấp “bóng hình tiên nữ kỳ ảo” kiêu sa trong tâm tưởng Kiên suốt những
đêm dài của cuộc chiến thê lương, tàn độc; nâng đỡ, chở che và níu kéo anh khỏi
vực thẳm phi nhân, đưa anh trở lại cõi người. Tình yêu của Phương đã chết kể từ
giây phút thảm hoạ trên chuyến tàu cô đưa tiễn người yêu vào chiến trường, dẫu
sau này Kiên may mắn được sống sót trở về thì mối tình say đắm ngày xưa đã trở
thành vết thương lòng nhức nhối. Những tưởng sau bao thương nhớ, chờ mong,
khao khát suốt thời chinh chiến, loạn lạc sẽ được đền bù hàn gắn, vun đắp vào ngày
107
hòa bình. Trái lại sự tái hợp của hai người đã làm “đổ bể tâm hồn nhau”, xoáy sâu
vào thương tổn, càng gợi lại cái thời khắc nhân phẩm bị xúc phạm trắng trợn, thô
bỉ… Đành rằng Kiên và Phương cả trong và sau chiến tranh vẫn luôn thương nhớ
nhau, nhưng vốn là những tâm hồn trí thức yếu đuối, nhạy cảm, dễ tổn thương, họ
không thể vượt qua cái quá khứ đau xót, bẽ bàng để đến với nhau. Phương đã nói
với Kiên những suy nghĩ khiến mối tình của họ mãi mãi khổ đau và dang dở:
“Đằng nào thì anh cũng thành ra thế, mà em thì thành ra thế này mất rồi” [147, tr.
268]. Bi kịch tình yêu ở Kiên càng nặng nề, đau đớn hơn. Sau mười năm bị lửa đạn
của chiến trường vằm xé, quãng thời gian trở lại với đời thường của Kiên lại bị
“móng vuốt của tình yêu xéo nát”. Sự ám ảnh của ký ức về cái đêm định mệnh
khiến anh vĩnh viễn mất Phương luôn hành hạ, dày vò Kiên: “Nỗi đau ngày xưa
làm sao mà nhớ nổi. Cái vết thương lòng kinh tởm ấy lúc nào cũng đè bẹp ý chí của
anh. Đè bẹp mãi mãi” [147, tr. 184]. Đó là một trong những nguyên nhân tạo nên
chấn thương tinh thần khiến Kiên không thể tái hoà hợp với cuộc sống thường nhật,
tìm lại được những cảm xúc lứa đôi và khát khao ân ái. Phương lại còn đáng
thương hơn. Những gì thuộc về phẩm giá được cô giữ gìn nâng niu đã bị dày xéo
phũ phàng. Không còn trinh trắng, chứng kiến sự bất lực của Kiên khi không bảo
vệ được mình trước đám đàn ông thú tính, sự vô tâm, lạnh nhạt khi Kiên bỏ lại cô
trên sân ga, bơ vơ, đơn độc, tê dại, hãi hùng… Phương đã tự hủy hoại cuộc đời
mình, ban phát một cách dễ dàng những lạc thú thân xác với rất nhiều đàn ông, trừ
Kiên. Sự cự tuyệt đó cho thấy Phương là một người phụ nữ sâu sắc, đầy lòng tự
trọng, đầy ý thức nhân phẩm và cao thượng. Sự lựa chọn và “văn hoá tình yêu” của
Phương gợi nhớ về cách ứng xử của Thúy Kiều thuở xưa trước Kim Trọng: “Chữ
trinh còn một chút này…” Phương đã ra đi trong âm thầm, đau khổ, nhưng theo cô,
đó là sự lựa chọn không thể khác để gìn giữ một mối tình trong sáng, cao đẹp, thủy
chung. Đối với cô, đó còn là tình yêu đầu đời, duy nhất, như ngọn gió “mãi mãi
thổi trên đời”, không sức mạnh nào có thể xua tan, thay thế dẫu bị chà đạp, giày
xéo, xúc phạm nặng nề… Đó là phần có ý nghĩa nhất trong hành trình vui ít, buồn
108
nhiều của mỗi con người trước vòng xoáy nghiệt ngã của số phận, là hiện thân của
cái đẹp và tuổi trẻ đã tồn tại trong tác phẩm như một đối thoại với sức tàn phá, huỷ
diệt của chiến tranh.
Mối tình của Kiên và Phương trong Nỗi buồn chiến tranh chính là biểu tượng
cho nỗi buồn thê lương của “thân phận tình yêu”. Thông qua những tình tiết của
câu chuyện giữa hai người và những hồi ức vụn vỡ, dai dẳng của Kiên, có thể gọi
Nỗi buồn chiến tranh là khúc sầu ca về nỗi buồn tình yêu – một góc nhìn chan chứa
cảm xúc về thân phận con người trong và sau chiến tranh. Hai nỗi buồn lớn về tình
yêu và chiến tranh đã được Bảo Ninh kết nối, dẫn dắt dưới một cái nhìn “dằng dặc”
xót xa và trong sự đau thương tột cùng. Nhưng vượt lên trên tất cả, đó vẫn là một
diễn ngôn ngợi ca sự hiện diện vĩnh hằng của tình yêu, bởi “Tình yêu gắn liền với
cái đẹp, với nhân tính, là cái đối lập với bạo lực huỷ diệt nhân tính” [166]. Từ
những thân phận của bi kịch tình yêu qua số phận con người trong và sau chiến
tranh, Bảo Ninh đã khắc hoạ được một chân dung tình yêu với nhiều đồng cảm, sẻ
chia và giàu lòng nhân ái.
Cùng với những chuyển đổi về phương diện tiếp cận và tái tạo hiện thực,
khám phá số phận cá nhân, lĩnh vực tình yêu trong Dấu chân người lính, Đất trắng
và Nỗi buồn chiến tranh đã có nhiều tìm tòi, đổi mới. Dễ nhận thấy là từ Dấu chân
người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh đến Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, văn học chiến tranh của thời hiện đại đã đi từ
những vấn đề cộng đồng đến vấn đề của cá nhân. Điều đó cho thấy những nỗ lực
cách tân theo chiều hướng hiện đại hoá qua từng chặng đường của dòng tiểu thuyết
thể tài chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX.
Tiểu kết
Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng
Oánh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ba tập “biên bản chiến tranh” khác
nhau về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở chương này, luận án đã khảo sát
các góc tiếp cận hiện thực chiến tranh qua ba tác phẩm, từ hiện thực chiến trường
109
đến hình tượng người lính và tình yêu trong chiến tranh để nhận thấy rằng, mỗi tác
phẩm là một lát cắt thời gian, một phân mảnh của cuộc chiến nhưng nếu kết nối
chúng vào một diễn trình văn học, chúng ta sẽ nhận diện được tính tổng thể của
hiện thực chiến tranh cũng như quá trình vận động và phát triển của dòng tiểu
thuyết chống Mỹ trong bức tranh chung của tiểu thuyết thể tài chiến tranh và cách
mạng Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỷ XX. Tiểu thuyết chiến tranh cũng như văn
xuôi và văn học viết về chiến tranh từ kháng chiến chống Mỹ đến thời hậu chiến đã
đi từ những niềm tin và các đại tự sự đến các dấu hiệu của tiểu tự sự, từ tâm thức
hiện đại đến ranh giới của hậu hiện đại để mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới của
110
văn học Việt Nam.
CHƢƠNG 4:
THI PHÁP TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH
QUA DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH, ĐẤT TRẮNG
VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
Thi pháp là hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật mang tính mở, bao gồm đặc trưng,
tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên tính chỉnh thể thẩm mỹ
của một văn bản tác phẩm. Luận án lựa chọn cách tiếp cận thi pháp cho tác phẩm
viết về chiến tranh để làm rõ quá trình vận động của những giá trị thẩm mỹ của một
bộ phận văn học trong thế kỷ XX. Qua cách tiếp cận này, luận án hi vọng không
chỉ nhìn thấy những giá trị bề mặt mà còn nhận diện được sự phát triển của các yếu
tố nội tại bên trong tác phẩm văn học. Trong khuôn khổ giới hạn của luận án,
chúng tôi chỉ lựa chọn một số yếu tố mà chúng tôi cho là tiêu biểu nhất, mang tính
biến động cao nhất là tổ chức kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, nghệ
thuật trần thuật để khảo sát.
4.1. Nghệ thuật tổ chức kết cấu
Kết cấu tác phẩm văn học là toàn bộ tổ chức phức tạp của tác phẩm văn học.
Nó không chỉ giới hạn ở sự liên kết mang tính bề mặt mà bao hàm sự liên kết bên
trong, là kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm. Trong một tác phẩm văn học, kết
cấu đảm nhiệm rất nhiều chức năng: triển khai cốt truyện, cấu trúc hệ thống tính
cách, tổ chức điểm nhìn trần thuật, đồng thời tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như
là một chỉnh thể nghệ thuật. Kết cấu chính là phương tiện cơ bản tạo nên diện mạo
tác phẩm, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của tác
phẩm. Mỗi tác phẩm đều có một kết cấu riêng, cụ thể phù hợp với nội dung và ý đồ
111
sáng tạo nghệ thuật của tác giả.
4.1.1. Kết cấu tiểu thuyết sử thi trong Dấu chân người lính
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi
chủ biên định nghĩa như sau: "Tiểu thuyết sử thi (tiếng Pháp: roman- épopée). Còn
gọi là tiểu thuyết anh hùng ca. Tên gọi ước lệ (ghép tên gọi thể loại "sử thi" épopée
với tên gọi "tiểu thuyết" - roman) để chỉ những tiểu thuyết (từ thế kỷ XIX - XX) có
dung lượng lớn, thể hiện những đề tài lịch sử - dân tộc. Những tác phẩm này vừa là
tiểu thuyết, đồng thời vừa có nhiều thuộc tính gần gũi với thể loại sử thi cổ đại hoặc
trung đại (tầm bao quát, tính hoành tráng của sự kiện có tầm thời đại, cảm hứng dân
tộc hoặc lịch sử, mô tả các sự kiện và xung đột có tính chất bước ngoặc như chiến
tranh cách mạng...)" [61, tr. 339].
Còn "Từ điển văn học" (bộ mới) nêu định nghĩa của Nguyễn Văn Khỏa như
sau: "Tiểu thuyết anh hùng ca. Còn gọi là tiểu thuyết sử thi. Thuật ngữ chỉ một loại
hình của thể loại tự sự, là sự phát triển tổng hợp, nâng cao và đổi mới của loại hình
anh hùng ca dân gian cổ điển và loại hình tiểu thuyết. Tiểu thuyết anh hùng ca phản
ánh những sự kiện, những biến cố lịch sử quan trọng, lớn lao và có ý nghĩa quyết
định đối với vận mệnh của một nhân dân, một dân tộc. Đó là hiện thực lịch sử có ý
nghĩa toàn dân. Trên cơ sở của việc tái hiện đúng bản chất một giai đoạn lịch sử và
miêu tả khá cụ thể về sinh hoạt tư tưởng, tình cảm, đời sống xã hội, phong tục tập
quán, tiểu thuyết anh hùng ca gắn bó số phận những nhân vật của mình với sự kiện,
biến cố lịch sử, đặt số phận nhân vật trước câu hỏi, trước thử thách của lịch sử tạo
thành mối liên hệ quy định tất yếu của lịch sử đối với số phận nhân vật. Cảm hứng
chủ đạo của tiểu thuyết anh hùng ca là khẳng định sức mạnh của chủ nghĩa anh
hùng và chiến công của nhân dân như là động lực của lịch sử".
Trong sách "150 thuật ngữ văn học" (1999), Lại Nguyên n xếp tiểu thuyết
sử thi vào mục Anh hùng ca: "Ở các thế kỷ XIX - XX, văn học tiểu thuyết (vốn tập
trung khám phá sự hình thành tính cách của các cá nhân con người), do đào sâu sự
suy tư trên các vấn đề lịch sử dân tộc, đã đi tới chỗ sáng tạo ra thể tài tiểu thuyết
112
anh hùng ca, cũng được gọi là tiểu thuyết sử thi (roman - épopée)".
Ở luận án này, chúng tôi sử dụng khái niệm tiểu thuyết sử thi để gọi những
tiểu thuyết có dung lượng lớn, thể hiện đề tài lịch sử- dân tộc, hướng đến các vấn
đề dân tộc ở những bước ngoặt lịch sử, cộng đồng, phản ánh được những vấn đề
lớn của thời đại. Những tác phẩm tiêu biểu của tiểu thuyết sử thi là Chiến tranh và
hòa bình, Sông Đông êm đềm… "Tình huống phù hợp nhất với thơ sử thi đó là các
xung đột của trạng thái chiến tranh. Thực vậy, trong chiến tranh, chính là toàn bộ
dân tộc đang vận động. Nó bị kích thích phải hành động bởi vì nó phải bảo vệ toàn
bộ mình" (Hêghen) [62, tr. 594]. Tiểu thuyết sử thi xây dựng những số phận con
người cá nhân gắn với những biến cố lịch sử, với vận mệnh của cả dân tộc.
Biến cố lịch sử và các xung đột xã hội chính là xương sống kết cấu của một
tác phẩm sử thi. Trong khi đó, theo "Kết cấu của tiểu thuyết là logic vận động của
tính cách... Trong tiểu thuyết thì chính số phận nhân vật và logíc của sự phát triển
tính cách sẽ quy định cốt truyện" [43, tr. 173]. Tiểu thuyết sử thi đi giữa các xung
đột xã hội và số phận cá nhân. Có nghĩa là, tiểu thuyết sử thi triển khai các dòng số
phận và tính cách nhân vật trên nền cốt truyện theo dòng biến cố lịch sử. Trong tiểu
thuyết sử thi cách mạng, thông thường tính cách của nhân vật chính diện sẽ vận
động theo chiều tiến bộ của lịch sử, trong khi đó, các nhân vật phản diện sẽ vận
động theo thường theo chiều hướng ngược lại, thậm chí là bị đào thải. Kết thúc tiểu
thuyết sử thi, xung đột chính buộc phải được giải quyết theo chiều hướng tiến bộ
của lịch sử, cũng là mong muốn chung của cả cộng đồng. Lối kết thúc vừa khép
vừa mở của tiểu thuyết sử thi cho phép những xung đột nhỏ có thể còn tồn tại, và
dòng tính cách ngược chiều lịch sử suy thoái dần.
Trong văn học 1930- 1945, kết cấu thường thấy của tiểu thuyết là kiểu kết
cấu đơn tuyến, chỉ xoay quanh cuộc đời và số phận của một vài nhân vật chính.
Đến văn học cách mạng 1945- 1975 đã bắt đầu xuất hiện những tiểu thuyết có quy
mô sử thi, dựng lại bức tranh lịch sử - xã hội rộng lớn với nhiều biến cố, sự kiện và
nhiều tuyến nhân vật, nhiều tuyến tình tiết đan cài phức tạp. Dấu chân người lính là
113
một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho lối kết cấu này. Hình thức thời gian phổ
biển là thời gian hiện tại bình thường: “Con người kháng chiến hoàn toàn sống với
thời gian hiện tại, ngập chìm trong thời gian sự kiện. Họ rất hiếm khi có thể hồi
tưởng quá khứ hoặc mơ mộng tương lai” [141, tr. 55]. Mạch truyện tiếp diễn theo
trật tự thời gian tuyến tính, đôi khi xen kẽ những hồi tưởng của các nhân vật. Kết
cấu này mang tính truyền thống và phù hợp với mục đích của tác giả khi muốn ca
ngợi không khí hào hùng và hoành tráng của các sự kiện lịch sử.
Tác phẩm bao gồm 7 chương, chia thành ba phần. Phần 1: Hành quân phần
2: Chiến dịch bao vây; phần 3: Đất giải phóng. Quy mô sử thi đã được làm rõ ở
kiểu bố cục này. Tiểu thuyết lấy tuyến diễn biến chiến trận làm tuyến trung tâm,
các tuyến sự kiện và nhân vật đều được gắn kết và xâu chuỗi cũng như bị chi phối
bởi tuyến trung tâm này. Tác phẩm bao gồm nhiều tuyến sự kiện đan chồng nhau:
tuyến diễn biến chiến trận và tuyến sự kiện hậu phương, tuyến sự kiện lịch sử của
đất nước và tuyến đời tư của các nhân vật… Tuyến trung tâm chính là chiến dịch
Khe Sanh, sự kiện liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc. Đó là những tháng
ngày gian khổ mà cả đất nước chuẩn bị cho chiến dịch, là hy sinh, mất mát, đầy đau
thương nhưng cũng vô cùng oai hùng của những con người như Kinh, Lượng,
Nhẫn, hay Lữ… Đây là quãng thời gian có ý nghĩa bước ngoặt quan trọng trong
cuộc cách mạng dân tộc. Tuyến số phận cá nhân bao gồm nhiều tuyến nhân vật đan
xen. Tác phẩm dường như không có nhân vật chính mà có nhiều nhân vật giữ vai
trò quan trọng như nhau, cuộc đời và số phận của các nhân vật Kinh, Lượng, Khuê,
Lữ, Đàm, Nết, cụ Phang… đều chỉ có ý nghĩa như những mảnh ghép trong toàn
cảnh chiến trận, trong toàn cục lịch sử dân tộc. Các sự kiện, các câu chuyện riêng
của từng nhân vật như cuộc đời Kinh, cuộc gặp gỡ với cậu con trai ở chiến trận,
chuyện Lữ bỏ học để tham gia chiến trận, cái chết thảm khốc của mẹ và em Khuê,
chuyện tình cảm giữa Lượng và Xiêm, Nết, đấu tranh nội tâm của cụ Phang có
thằng con trai duy nhất theo địch… tất cả đều hòa chung thành một bản hùng
114
ca Dấu chân người lính.
Cuốn tiểu thuyết có kết thúc mở, toàn dân tộc bước vào một cuộc chiến đầu
mới sau thắng lợi của chiến dịch Khe Sanh. Khó khăn gian khổ còn quá nhiều,
nhưng thắng lợi dường như đã là xu thế không thể đảo ngược. Hình ảnh kết thúc tác
phẩm "Bên phía Đồi không tên, một tiểu đoàn dân công vận chuyển hoả tuyến vừa
dừng lại bắc bếp thổi nấu, khói bếp bay chờn vờn trên nóc mấy chiếc hầm chữ Y đã
bị bom đánh sập"[22, tr. 879] gợi mở rất nhiều điều về một tương lai ngổn ngang
nhưng đã nhìn thấy rõ đường hướng.
Dấu chân người lính với lối kết cấu kiểu tiểu thuyết sử thi nhiều tuyến sự
kiện, nhân vật đan xen phức tạp đã bao quát được một phạm vi hiện thực vô cùng
rộng lớn. Lối tổ chức kết cấu trần thuật này đã giúp tác phẩm mở rộng phạm vi
phản ánh ra khỏi một chiến dịch cụ thể để đi đến bao quát toàn cảnh về cuộc kháng
chiến chống Mĩ của dân tộc.
4.1.2. Kết cấu tiểu thuyết phóng sự trong Đất trắng
Trong khi Nguyễn Minh Châu lựa chọn kết cấu sử thi cho Dấu chân người
lính thì Nguyễn Trọng Oánh trong Đất trắng lại phản ánh hiện thực cuộc chiến qua
kiểu kết cấu tiểu thuyết phóng sự. Nếu quan niệm tiểu thuyết phóng sự là phản ánh
chân thực hiện thực khách quan, không chấp nhận hư cấu nghệ thuật thì Đất trắng
không phải là một tiểu thuyết phóng sự. Nhưng nếu quan niệm về tính chân thực của
tiểu thuyết phóng sự là sự tôn trọng hiện thực khách quan qua các thủ pháp khái quát
hiện thực thì Đất trắng rất gần với tiểu thuyết phóng sự. Nó vừa mang tính thời sự vì
chú trọng chức năng phản ánh nhanh chóng và kịp thời một cách tương đối hiện thực
chiến trường vừa có tính chính luận vì có khuynh hướng chính trị rõ ràng.
Đặc biệt, kết cấu mà Nguyễn Trọng Oánh lựa chọn rất đặc trưng cho tiểu
thuyết phóng sự. Tiểu thuyết truyền thống lấy tình tiết làm đường dây liên kết, tiểu
thuyết tâm lý đương đại lấy tâm lý nhân vật làm sợi dây kết cấu, còn tiểu thuyết
phóng sự lấy sự thật cuộc sống ngổn ngang để tạo mạch triển khai trần thuật. Đó là
kiểu kết cấu dựa theo dòng sự kiện, lấy sự diễn tiến của các sự kiện nhỏ cụ thể làm
115
trục chính của mô hình tự sự. Có thể hình dung tác giả tiểu thuyết như một người làm
công việc ghi chép các sự kiện chiến trận mà ở đó trung tâm phản ánh là sự kiện chứ
không phải nhân vật. Tiểu thuyết phản ánh cuộc chiến đấu khốc liệt và cam go của
trung đoàn Mười Sáu với kẻ địch để bám trụ địa hình, giành đất, giành dân, qua hàng
loạt sự kiện liên tiếp dồn dập. So với tiểu thuyết sử thi, hiện thực trong Đất trắng như
được zoom vào cận cảnh hơn, người đọc có thể nhìn thấy chiến tranh ở góc hẹp hơn,
gần hơn, thế nên giữa những điều tuyệt đẹp, người ta thấy cả sự xấu xa, giữa màu
xanh của sự sống, người ta thấy cả màu đen của cái chết, giữa tình yêu và sự hy sinh,
người ta thấy cả sự bội phản, giữa màu sáng của hy vọng, người ta thấy màu tối tăm
của tuyệt vọng… Chiến tranh đã được nhìn nhận đa chiều hơn, phức tạp hơn, bộn bề
hơn từ cách lựa chọn kết cấu của Nguyễn Trọng Oánh.
Nếu ở Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu triển khai nhiều tuyến sự
kiện khác nhau dàn trải trên phạm vi hiện thực không gian và thời gian rộng lớn, thì
ở Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh chỉ tập trung vào một tuyến sự kiện dồn nén với
nhiều nhân vật liên quan đến sự kiện đó. Các sự kiện được mô tả dồn dập như trong
một bản ký sự mặt trận, tỉ lệ số trang/ sự kiện rất thấp. Khác với Dấu chân người
lính, nhân vật trong Đất trắng ít có thời gian suy ngẫm và hồi tưởng hơn, ít thời gian
mơ mộng với chiêm nghiệm, họ hành động nhiều hơn, và bị các sự kiện cuốn đi. Có
khi chỉ trong một trang sách mà nhiều sự kiện dồn dập xảy ra. Sự xuất hiện với mật
độ dày đặc của các sự kiện khiến người đọc luôn ở trạng thái tâm lý căng thẳng đón
đợi những sự kiện liên tục xảy ra với các nhân vật, ít khi có những khoảng lặng thư
giãn với đoạn văn nhiều chất lãng mạn như Dấu chân người lính.
Tuy vậy, trong Đất trắng vẫn chứa đựng những miêu tả tâm lý, giới thiệu tiểu
sử nhân vật, những chi tiết tả cảnh và trữ tình ngoại đề. Các đoạn miêu tả tâm lý tiêu
biểu như Tám Hàn trước khi quyết định đầu hàng, cảm nhận của An sau khi biết
Tám Hàn đầu hàng, tâm lý của Quá khi anh nằm điều trị ở trạm xá phân khu… đều
khá hiệu quả, tuy rằng diễn biến tâm lý nhân vật đôi khi diễn ra quá nhanh. Các nhân
vật quan trọng trong Đất trắng vẫn có những đoạn được trình bày tiểu sử như ông
116
Ba Kiên, Tám Hàn, ông Năm Truyện, ông Thêm, ông Dũng, Nghĩa, Nam, Canh, Bảy
Hường, Sáu Trang..., những chi tiết tả cảnh quan môi trường (miêu tả khu vực ém
quân của trung đoàn, miêu tả quang cảnh vùng "đất trắng", cảnh nhà dân bị địch đốt
phá...), những dòng trữ tình ngoại đề... Song so với các tiểu thuyết khác, ví dụ như
Dấu chân người lính thì những yếu tố này trong Đất trắng tương đối ít.
Kiểu kết cấu này đã rất thành công trong việc tạo được cảm giác về một
không khí khốc liệt, căng thẳng và nặng nề của cuộc chiến đấu. Nó truyền tải một
cách nhìn của tác giả về hiện thực chiến tranh, không còn đâu chất lãng mạn của
Dấu chân người lính, mà chỉ còn hiện thực trần trụi: sự gian khổ của cuộc chiến
đấu, quân số ít, trang bị thiếu thốn, khó khăn trong liên lạc với các đơn vị bạn, với
cấp trên, phải tự lực cánh sinh đối mặt với kẻ thù mạnh gấp nhiều lần. Tác giả
giống như một phóng viên chiến trường vội vàng chạy theo ghi chép các sự kiện,
càng nhiều, càng chi tiết, càng cập nhật càng tốt.
Với kiểu kết cấu tiểu thuyết phóng sự, Nguyễn Trọng Oánh đã tạo được nét
đặc trưng cho tác phẩm của mình. Chất hiện thực, gay cấn và cận cảnh với chiến
tranh được nhấn mạnh từ cách lựa chọn kết cấu. Tính lãng mạn sử thi của thời Dấu
chân người lính đã không còn nhiều dấu vết. Đất trắng khác biệt với các tiểu thuyết
chiến tranh khác ở nhiều phương diện, trong đó có kết cấu đã truyền tải được ý đồ
nghệ thuật của tác giả.,
4.1.3. Kết cấu tiểu thuyết dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh
Thuật ngữ dòng ý thức (stream of consciousness) do nhà tâm lý học người
Mĩ William James đưa ra vào cuối thế kỷ XIX trong công trình Các nguyên lý tâm
lý học (1890), để biểu thị dòng tư tưởng và ý thức không bị đứt đoạn của một tâm
trí thức tỉnh. Trong công trình A Glossary of Literary Terms (Macmillan, Delhi,
1985), tác giả M. H. Abram đã định nghĩa “dòng chảy ý thức” như là “một phương
thức tự sự đảm nhận việc nắm bắt toàn bộ phạm vi và dòng chảy tiến trình tâm trí
của một nhân vật, trong đó những cảm nhận về ý nghĩa hoà lẫn với những suy nghĩ
có ý thức và nửa ý thức, với những kỷ niệm, tình cảm và những sự liên tưởng ngẫu
117
nhiên” [24]. Sau James, với sự phát triển lý thuyết phân tâm học Freud và thuyết
trực giác của Berson, văn học dòng ý thức đã hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ
XX với các tên tuổi Marcel Proust (Đi tìm thời gian đã mất), James Joyce
(Ulysses), William Faulkner (Âm thanh và cuồng nộ)... Ở Việt Nam, thủ pháp dòng
ý thức bắt đầu manh nha như “một thủ pháp có tính cục bộ” trong các sáng tác của
Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... rồi trở nên dần
thành một kỹ thuật dòng ý thức hoàn chỉnh trong các sáng tác của Bảo Ninh,
Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng, Châu Diên...
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được coi như một dấu một mốc quan
trọng trong sự phát triển của kỹ thuật dòng ý thức trong văn học Việt Nam. Không
phải người đầu tiên ở Việt Nam sử dụng kỹ thuật này một cách xuyên suốt như một
nguyên tắc nghệ thuật chi phối toàn tác phẩm, nhưng Bảo Ninh là người đầu tiên đã
sử dụng thành công trong việc vận dụng kỹ thuật dòng ý thức thấm đến từng chi
tiết, phương diện của tác phẩm, trong đó chi phối cách tổ chức kết cấu tác phẩm, có
thể gọi kết cấu của Nỗi buồn chiến tranh là kết cấu dòng ý thức.
Bảo Ninh rất ý thức về kĩ thuật dòng ý thức mà mình sử dụng. Ông thể hiện
điều đó một cách tường minh ngay trong dòng chảy tâm trạng, lẫn lộn giữa hữu
thức và vô thức, giữa hiện tại và quá khứ của nhân vật Kiên bằng một kỹ thuật điêu
luyện mà nhân vật trong tác phẩm tự thể hiện ra bằng những dòng chữ: “Mặc dù
vẫn hết trang này sang trang khác, chương này sang chương khác, song càng viết
Kiên càng âm thầm nhận thấy rằng, tuồng như không phải là anh mà là một cái gì
đấy đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi phạm,
không ngừng lật ngược tất cả những giáo điều cùng tất cả những tín niệm văn
chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi, mỗi
ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của nghịch lý hiểm nghèo ấy của bút
pháp. Ngay từ chương đầu tiên cuốn tiểu thuyết của anh đã buông lơi cốt truyện
truyền thống, không gian và thời gian tự ý khuấy đảo, không kể gì đến tính hợp lý,
bố cục bấn loạn, dòng đời các nhân vật bị phó mặc cho ngẫu hứng. Trong từng
118
chương một Kiên viết về cuộc chiến tranh một cách rất tuỳ ý như thể ấy là một
cuộc chiến tranh của riêng anh. Và cứ thế, nửa điên rồ, Kiên lao đầu vào chiến đấu
lại cuộc chiến của đời mình một cách đơn độc, phi hiện thực, một cách cay đắng,
đầy rẫy va vấp và lầm lạc” [147, tr. 53- 54].
Dường như Bảo Ninh đã thực sự chắp những mảnh vỡ của một đồ vật một
cách ngẫu nhiên không theo trật tự như nó vốn có. Đó là chi tiết đêm Kiên bỏ đi,
cửa phòng để ngỏ, gió mùa tràn về bật tung cửa sổ, đống bản thảo bị hất tung dưới
nền nhà, vương vãi khắp sàn, và người đàn bà câm tỉnh dậy một mình đi thu gom
từng mảnh giấy, dồn lại thành một đống. Nhân vật trần thuật xưng “tôi” xuất hiện
cuối truyện, người cầm đống bản thảo ấy đọc đã kể lại: “Dần dà, chính tôi đã đi đến
chỗ cho phép mình đọc theo một phương thức rất tùy nghi. Tôi đọc cả núi giấy ấy
một cách giản đơn là tờ trước rồi đến tờ sau bất kể trình tự đó là ngẫu nhiên, bất kể
đó là một trang bản thảo hay là một lá thư, một trang ghi ghép rời ra từ sổ tay, một
trang nhật ký, một bản nháp của bài báo. Tôi đọc gộp cả lại, giở lần lượt từng tờ ra
mà đọc…” [147, tr. 284- 285]. Đó chính là cách hình dung một cách hình tượng về
cấu trúc của Nỗi buồn chiến tranh, dường như là tùy tiện, là không theo bất kỳ
logic, trật tự lý tính nào đối với người ngoài cuộc, nhưng thực chất nó dựa trên
dòng ý thức, dòng tâm tưởng của nhân vật chính, nó chính là sự phá vỡ cái đại tự
sự, là tuân thủ một thứ logic của cái tự nhiên, của sự chấp nhận những ngổn ngang,
vụn vỡ và hoài nghi của tâm thức hậu hiện đại. Nhân vật xưng “tôi” này chính là
người đã định dạng cuốn tiểu thuyết ở hình thức cuối cùng. Chính điều này tạo
thành hai lớp hư cấu và đã chi phối toàn bộ nguyên tắc kết cấu của Nỗi buồn chiến
tranh khiến nó vừa mang dáng dấp tiểu thuyết dòng tâm tưởng, vừa là tiểu thuyết
trong tiểu thuyết. Chính với kết cấu dòng ý thức đi quá xa khỏi lối kết cấu trật tự
thời gian truyền thống theo kiểu Dấu chân người lính, Đất trắng mà Nỗi buồn
chiến tranh quả thực khó đọc với người độc giả ở thời điểm mà nó ra đời.n làiả
Tác phẩm không có những xung đột người- ta (ta- địch, tốt- xấu…), không
được phân chia thành những chương với các đường dây cốt truyện mạch lạc. Các
119
hồi ức của Kiên bị chia vụn ra, có những hồi ức xuất hiện dang dở ở phần đầu và
chỉ được làm rõ ở phía cuối, cơ bản không có logic, không có sự tiếp nối hay báo
trước cho sự xuất hiện của các hồi ức. Nỗi buồn chiến tranh dường như là một sự
lắp ghép ngẫu nhiên các mảnh vỡ của vô thức, tiềm thức và ý thức. Thủ pháp “dòng
ý thức” là một cách thức để khai quật được những khối quặng dưới lòng đất trong
tâm thức con người. Bảo Ninh không mô tả, không kể, tái hiện đời sống xã hội của
một con người mà tái hiện một thế giới tâm lý đầy ẩn ức, những hồi ức, sám hối,
dằn vặt, đau đớn qua những cơn xung đột tinh thần khủng khiếp của nhân vật Kiên.
Bằng cách thức đó, ông đã tái hiện được toàn vẹn “hai nửa sự thật” của hiện thực
chiến tranh, và đồng thời, qua “hội chứng sau chiến tranh” của nhân vật nhà văn
Kiên, Bảo Ninh muốn truyền đi những thông điệp đa chiều về chiến tranh, những
đau đớn, vụn vỡ, những hoang mang, mất hướng của con người sau chiến tranh.
4.2. Không gian và thời gian nghệ thuật
Không gian và thời gian nghệ thuật là một trong những phương diện đặc
trưng tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật. Hai phạm trù này không những
biểu hiện cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy chiều sâu thế giới
quan cũng như đặc điểm tư duy của tác giả và thời đại. Qua không gian và thời gian
nghệ thuật, người đọc có thể tìm thấy một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong,
tính độc đáo cũng như loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Nghiên cứu hiện
thực chiến tranh qua ba tác phẩm Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn
chiến tranh, chúng tôi nhận thấy có sự vận động của không gian và thời gian nghệ
thuật phù hợp với ý đồ nghệ thuật của các tác giả.
4.2.1. Không gian nghệ thuật
4.2.1.1. Không gian sử thi trong Dấu chân người lính
Tiểu thuyết sử thi phản ánh những số phận cá nhân gắn liền với vận mệnh và
những biến cố dân tộc, chính vì vậy không gian nghệ thuật trong dạng tiểu thuyết
này thường là không gian rộng lớn mang tính sử thi, mang tầm vóc đất nước. Dấu
120
chân người lính cũng như xu hướng tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1945- 1975
lựa chọn phong cách sử thi, hướng đến những biến cố lịch sử lớn lao của dân tộc
nên không gian nghệ thuật của những tác phẩm đó chủ yếu là không gian mang tính
sử thi: bề thế hoành tráng, rộng lớn và phản ánh một dòng chảy liên tục và có tính
nhân quả của lịch sử.
Trước hết, đó là không gian chiến trận của chiến dịch Khe Sanh được mô tả
hoành tráng trên diện rộng. Dĩ nhiên, đây là chiến trường, nên màu sắc chủ đạo của
không gian ấy vẫn là tiếng súng, đạn bom và những cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và
địch: "Trên khoảng đất nằm van vát đầy mảnh kim khí sáng lấp lánh có một búi cỏ
khô, rễ nằm chổng ngược lên. Nắng đỏ rực lên mãi chung quanh cái búi cỏ trước
cửa hầm, y như một vồng hoa mười giờ. Không gian tưởng như đang vỡ ra bởi
tiếng động cơ của các loại máy bay. Chung quanh hầm Lữ, chỗ nào cũng có địch.
Trên khoảng sườn đồi B chật hẹp, chúng đã vứt xuống hầm hai đại đội. Chúng
đang tràn ra, đang di động, đang hò hét, đang hô khẩu hiệu và phất cờ. Tiếng súng
trường và súng máy nổ khắp bốn phía." [22, tr. 824-825]. Không gian chiến trận
mở rộng cả sang phía căn cứ của địch, ra những vùng đất đã giải phóng.
Nhưng đặc biệt, không gian dữ dội, ác liệt của đạn bom của chiến trận trong
Dấu chân người lính luôn được cân bằng, thậm chí lấn át bởi cái lãng mạn, thơ
mộng của thiên nhiên và con người. Ngay đầu tiểu thuyết, tác phẩm mở ra không
gian của một cuộc hành quân đông vui, rộn rã như không khí tưng bừng của ngày
hội, là nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ, đến từ nhiều vùng quê, cùng hướng về chung
một mục đích: "Dọc con đường giao liên bấy giờ, khu rừng hai bên có những quãng
dòng thác người tự nhiên cứ quẩn lại, phình to ra, đông đúc và ồn ào như dòng
nước lũ chảy qua một cái xoáy lớn. (…) Đông đúc quá! Không ai có tài nào mà
phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây là đường
rừng hay quảng trường, là rừng cây hay là rừng người và rừng súng đạn. Người ta
chỉ biết đông đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở, của mùi mồ hôi người, là
tiếng nói ồn ào của cuộc sống, là đàn ong cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc,
121
là cơn giận dữ của đất nước lại một lần cầm lấy súng. Người ta cũng không thể
phân biệt hiện tại hay khung cảnh lịch sử, hay là tương lai đang bước ra từ đây trên
đôi bàn chân đất của người lính?" [22, tr. 333- 334]. Suốt cả tác phẩm, thiên nhiên
ở nơi thường trực đạn bom luôn hiện lên đẹp đẽ, đầy chất thơ qua cái nhìn thấm
đẫm chất lạc quan: "Bom đạn đào xới lên tất cả vậy mà có một giống cỏ được các
chiến sĩ gọi là cỏ vạn thọ vẫn mọc tươi tốt, mùa xuân đến vẫn khoe một sắc hoa
vàng sẫm như nghệ." [22, tr. 495], “Dọc theo bờ dốc thẳm của những vách đá sâu
hun hút và tối tăm, ở đó không khí bao giờ cũng ẩm ướt, các giống cây có gai và
không có gai không tên tuổi vẫn mọc sum sê, cành lá chen khít nhau; mùa xuân đến
các giống cây ấy cũng thi nhau nở rộ những bông hoa nhỏ li ti khoe một thứ màu
sắc mộc mạc như hạnh phúc của những người bình thường.” [22, tr. 554- 555].
Giữa không gian chiến trận khốc liệt ấy, luôn luôn xuất hiện nụ cười lạc quan của
người lính, tình cảm đồng đội, đồng chí, tình cha con, và nảy nở những khát vọng
yêu đương nam nữ... Cảnh cuối cùng của Dấu chân người lính là khung cảnh chiến
trường trong mắt chính ủy Kinh, người cha vừa mất đứa con trai út- người đồng
đội- trong trận chiến trước đó không lâu: “Bên kia phía Đồi không tên, một tiểu
đoàn dân công vận chuyển hỏa tuyến vừa dừng lại bắc bếp thổi nấu, khói bếp bay
chờn vờn trên nóc mấy chiếc hầm chữ Y đã bị bom đánh sập.” [22, tr. 879] Giữa
cái chết luôn có sự xuất hiện của sự sống mới len lỏi.
Nhưng không gian sử thi của Dấu chân người lính không chỉ giới hạn ở
chiến trường Khe Sanh mà còn bao gồm cả hậu phương rộng lớn. Không gian hậu
phương thường được hiện lên qua hồi ức, có thể là những hồi ức buồn về những gì
đau thương diễn ra trong quá khứ của các nhân vật. Đó có thể là những cảnh đau
buồn như căn nhà bị ném bom với cái chết của mẹ và đứa em út của Khuê, là bản
A-lâu bên bờ sông A-si bị giặc Mĩ đốt phá trong nhật ký của Lữ... Nhưng nó cũng
có thể là kí ức rực rỡ tươi đẹp của Lữ về gia đình, và tình yêu và niềm hy vọng của
122
Kinh đối với vợ con.
Không gian nghệ thuật mang màu sắc sử thi đã góp phần thể hiện chất hào
hùng, oanh liệt của thời đại đánh Mĩ. Nó cho thấy lý tưởng, niềm tin và khát vọng
chiến thắng của cả một thời đại mang tính lịch sử đã phản ảnh trong văn chương.
4.2.1.2. Không gian chiến trường mang đậm tính phóng sự của Đất trắng
Đất trắng là kiểu tiểu thuyết phóng sự, lấy chiến trường làm trung tâm khai
thác các sự kiện, nên không gian bao trùm tác phẩm là không gian chiến trường
dưới các góc nhìn cận cảnh. Vẫn là chiến trường, nhưng tính chất khốc liệt của bom
đạn ở Đất trắng đã ở mức độ khác hẳn so với Dấu chân người lính. Chất bi kịch đã
khiến không gian chiến trận trở nên cực kỳ căng thẳng. Ngay đầu tác phẩm là tranh
chấp giữa hai bên ta- địch trong một khoảng không gian khá hẹp: “Đó là một khu
vườn vuông, mỗi chiều không đầy một ki-lô-mét rưỡi (…) Họ đào hầm chiến đấu ở
dưới những gốc giâu, gốc dừa, men theo các bờ rạch, các ụ chiến đấu ở ngoài cánh
đồng dưới lùm cây hoặc bên bãi mía để có thể đánh địch từ xa. Trong lúc chiến
đấu, men theo bờ cây hoặc lòng rạch, họ di chuyển từ khu vực này qua khu vực
khác, từ trong vườn ra ngoài cánh đồng và từ cánh đồng vào trong vườn, Sau khi
đánh xong, tùy theo hướng địch, họ có thể lội qua những con rạch, rút về bưng Voi
Nhỏ hay khu vực Vườn Cau theo ý định của họ.” [151, tr. 24]. Trong những khoảng
không gian khá cận cảnh ấy, các sự kiện, hành động xảy ra dồn dập đầy căng thẳng.
Cảm giác không gian trong Đất trắng luôn căng lên trong từng trang viết: “Họ
nhằm phía tiếng súng nổ mà đi tới, người sau đi cách xa và nhìn chừng người đi
trước. Tiếng súng nổ mỗi lúc một dữ. Chỉ năm phút sau, đạn đại bác đã nhằng lửa
trên bờ rạch. Thấy đạn lửa bắn vào ngôi nhà bỏ đầu ấp đỏ rực, Thị biết Thân đã
chiếm được ngôi nhà đó. Anh vòng theo bờ ruộng lên chiếm con đường, đứng chỉ
hướng cho đoàn thương binh lần lượt vượt qua. Tiếng súng trong ngôi nhà vẫn nổ.
Thị nhìn đồng hồ: cái kim phút nhích lên từng tý một, đoàn cáng đi qua rồi. Còn
năm người chưa qua được con rạch. Bỗng nhiên tiếng súng AK im bặt. Anh nhìn
đồng hồ: mới có hai mươi phút. Đoàn đi đầu có thể chưa vượt ra ngoài ấp được.”
123
[151, tr. 51]. Không gian chiến trận luôn căng thẳng như thế, từng tấc đất đang ở
trong thế bị tranh giành quyết liệt. Sự dồn nén về không gian ấy khiến cho tác phẩm
đạt được sự ngột ngạt, bức bối khác hẳn chất lãng mạn sử thi của Dấu chân người
lính.
Đất trắng hầu như không có không gian thiên nhiên thơ mộng của núi rừng
như Dấu chân người lính, thiên nhiên của Đất trắng hiếm hoi mới xuất hiện, nhưng
xám xịt u ám trong mùa mưa càng làm tăng cảm giác bức bối của không khí truyện:
“Cuối tháng tám trời đổ mưa ào ào. Nước sông Sài Gòn dâng lên mênh mông. Ngồi
trong cứ d Bảy nhìn ra, chỉ thấy trời đất mù mịt. Những mái nhà tôn trong ấp 3
cũng lẫn vào trong màn mưa. Xa xa chỉ còn trông thấy vệt xanh mờ của hàng cây
tiếp với bờ sông trắng xóa” [152, tr. 238], “Những đám mây đen dày đặc ở phía
chân trời cứ ùn lên, lan ra mãi, gió từ phía đông thổi về phía tây, làm cho những
đám mây bay đi, hạt mưa không kịp rơi xuống. Người đi dưới bầu trời xám xịt đã
tưởng thoát nạn.” [152, tr. 340]. Tiểu thuyết chú trọng sự kiện hơn là tâm lý của
nhân vật, nên trong tác phẩm rất ít những dòng mô tả thiên nhiên có chút màu sắc
tâm trạng như trên.
Dĩ nhiên Đất trắng cũng có những khoảng không gian hiện lên qua hồi
tưởng hoặc các đoạn kể về tiểu sử các nhân vật. Đó là những không gian khác hẳn
với hiện thực mang tính chất bi kịch, đó hoặc là quê hương gắn với hình ảnh người
mẹ của Nam, đầy ngọt ngào dù vô cùng nhọc nhằn và cay đắng, hình ảnh hào hùng
quê hương Canh qua câu chuyện bắn máy bay địch ở cảng sông Gianh, những
chiến công đầy tự hào của ông Ba Kiên và trung đoàn Mười Sáu thời chống Pháp,
thậm chí đó là bang Ten-ni-xi tươi đẹp yên bình, quê hương của tên tù binh Mỹ
Điloong qua lời kể của hắn… Nhưng do ít chú trọng tới nội tâm nhân vật nên
những không gian hồi cố này cũng rất ít xuất hiện trong Đất trắng.
Không gian nghệ thuật trong Đất trắng tương đối hạn hẹp trong phạm vi một
vùng chiến sự được nhìn cận cảnh, từ một cách tiếp cận hiện thực chiến tranh ở
124
chiều kích và cảm hứng khác so với Dấu chân người lính, đã có tác dụng chuyển
tải những thông điệp phức tạp hơn, đa chiều hơn về một giai đoạn lịch sử của đất
nước.
4.2.1.3. Không gian đa chiều trong tâm tưởng của Nỗi buồn chiến tranh
Với thể loại tiểu thuyết dòng thời gian, với sự hướng đến một diễn ngôn đa
thanh, với việc nhìn hiện thực chiến tranh từ những chiều kích khác của một thời
đại mới, không gian trong Nỗi buồn chiến tranh đa chiều nhưng đều bị giới hạn
trong tâm tưởng của nhân vật. Nó phù hợp nhất quán với tư duy của kết cấu tự sự
dòng ý thức mà tác phẩm theo đuổi.
Toàn bộ truyện được hiện ra qua những dòng ý thức triền miên không logic,
không trật tự của nhân vật Kiên về quá khứ, một quá khứ mà mọi chuyện đều gắn
liền với chiến tranh. Không gian chiến trường được tái hiện nhiều nhất trong dòng
thời gian hồi tưởng của Kiên: “Bắt đầu vào tiểu thuyết, ánh đuốc hồi ức đã đưa
Kiên lạc sâu vào trong mê cung, vòng vo trong muôn ngóc ngách rồi lại dẫn anh về
những với những rừng rậm hoang vu của thì quá khứ” [147, tr. 94]… Không gian
chiến trường được nhớ lại với ký ức kinh hoàng, tàn khốc "Trời ơi, và từ đấy… cả
thế hệ anh đã lao vào trận chiến một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ
máu mình, đổ máu người. Hàng đọi máu, sông máu. Ập tới, trực diện trận giáp lá
cà kinh khủng dưới chân Ngọc Bơ Rẫy. Quân lính hai bên xông vào nhau, thọc lưỡi
lê, phang báng súng. Những hình người toán loạn chạy dích dắc trên đầu ruồi súng
máy rồi nhảy dựng lên…" [147, tr. 132] Văn chương của Bảo Ninh tuyệt đẹp và
đầy chất thơ, nhưng những không gian chiến trận trong Nỗi buồn chiến tranh mang
đầy tính bi kịch và nỗi đau của con người trước chiến tranh. Thiên nhiên được mô
tả trong không gian rừng núi nơi chiến trường xưa đầy huyền bí và ẩn giấu những
bí mật khủng khiếp và bi thảm của cuộc chiến tranh: “Trong trời thì cứ mưa, ngày
này qua ngày khác. Cuộc chiến có vẻ như bị vùi lấp trong biển mênh mông, mịt mù
mùa mưa, thế nhưng nếu cứ để tâm lắng nghe mãi tiếng mưa rơi trên mái rừng và
ngước nhìn mãi bầu trời thâm xám, thấp và tối như vòm hang thì người ta chỉ có
125
thể nghĩ tới duy nhất nó mà thôi: chiến tranh, chiến tranh.” [147, tr. 16] Nó không
mơ mộng, không một màu lý tưởng và hoài bão như thời của tiểu thuyết sử thi, mà
pha trộn nhiều màu sắc, có vẻ đẹp của chất bi hùng, nhưng nổi trội là sắc u ám của
cái chết, nỗi đau, sự tuyệt vọng và hủy hoại cả thể xác lẫn tâm hồn. Các không gian
rừng núi mơ hồ hiện ra lộn xộn hoang mang từ đầu đến cuối, những hình ảnh của
truông Gọi hồn với loài hoa hồng ma mà trung đội trinh sát của Kiên bị chôn chân
suốt mùa mưa; những nơi diễn ra những cái chết bi thảm đầy ám ảnh của đồng đội;
không gian nhà ga Thanh Hoá và chuyến tàu bi kịch của Kiên và Phương- nơi khởi
đầu của chiến tranh đối với Kiên và Phương... Đó là nơi mà chiến tranh giáng đòn
đầu tiên và bi thảm nhất lên mối tình ngây thơ cũng như tâm hồn trong trắng của
họ, đó là nơi mà “tâm hồn Kiên ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn
của đời sống thời chiến đã là một tâm hồn chết lặng đi, không thể ngóc đầu lên
được nữa” [147, tr. 214].
Một loại không gian nữa chiếm tỉ lệ lớn trong Nỗi buồn chiến tranh là không
gian của Hà Nội, phố phường, ngôi trường cấp ba, ngôi nhà và căn phòng của Kiên.
Đó là không gian trước chiến tranh với những ký ức ngọt ngào, êm ả, buồn bã và ẩn
chứa những tiên lượng đầy giông bão về tuổi trẻ, về gia đình và về Phương. Nó
không phải là một không gian có tính khách quan mà đã bị tái hiện lại bằng tâm
hồn của một con người đã gánh chịu những vết thương của chiến tranh. Đây là Hà
Nội gắn với ký ức về người cha mộng du, người phải gánh chịu những nỗi đau của
thế hệ ông mà ngày ấy Kiên không thể nào hiểu nổi: “Hà Nội thuở đó tử tế và tốt
bụng, người ta sẽ sàng nhường lối cho ông già lạc nẻo, không ai xen ngang vào cõi
phiêu diêu bát ngát của ông, ngay cả trẻ con cũng không chọc phá ông, chúng chỉ
trông chừng để giấc ngủ không đưa ông xuống hồ Thuyền Quang.” [147, tr. 136].
Đó là căn phòng áp mái mà cha Kiên đã một mình đánh vật với sự cô đơn, đã vẽ ra
những tác phẩm bị người đời ruồng rẫy, và đã tự mình ném tất cả vào ngọn lửa.
Không gian Hà Nội trước khi Kiên lao vào chiến tranh được nhìn bằng lăng kính
của thời hậu chiến, đầy những đau đớn và khắc khoải. Sau chiến tranh, không gian
126
này vẫn vậy mà đã hoàn toàn đổi khác, vừa hiện thực vừa bị chồng lấp bởi quá khứ.
“Anh chỉ từ rất xa, mé đường Thanh Niên mà hướng nhìn về góc trường đó. Mặt hồ
dường như ngước nhìn anh bằng đôi mắt lấp lánh màu nâu của Phương, với vẻ kỳ
diệu và nỗi ngậm ngùi của tuổi thơ ấu, của tình yêu đã đi qua, đã xa vời vợi.” [147,
tr. 148]. Nó là một Hà Nội đã khác xa ngày xưa, là nơi mà khi trở về Kiên thấy
mình lạc lõng, không bao giờ còn trở lại được cảm giác của ngày xưa. “Ký ức
chẳng buông tha” [147, tr. 89] như lời Phương nói trước khi bỏ Kiên mà đi, tất cả
bọn họ đều bị chiến tranh ám ảnh và hủy hoại, nó khiến Kiên không cách nào hòa
nhập trở lại với cuộc sống đời thường, với Hà Nội tuổi thơ của anh. Nó là không
gian căn phòng của Kiên, nơi anh đối diện với chính mình, như cha anh thuở trước,
nơi anh đã chong đèn thâu đêm để rút ruột, buộc mình đối diện với quá khứ, buộc
mình quên đi, buộc mình nhớ lại những ký ức làm anh đau đớn, để trút tất cả lên
từng trang giấy: “Không khí căn phòng này khi ấy thật kỳ lạ, như thể bị hút vào
trường hấp dẫn của quá khứ, cũng rung lên, xô giật, đập thình thịch vì sóng xung
kích của hàng trăm trái đạn pháo dội cấp tập xuống lòng truông Gọi Hồn. Và tường
vách căn phòng rầm rầm rung lên trong tiếng động cơ máy bay bổ nhào. Kiên giật
mình bật lùi khỏi cửa sổ. Hồn phách xiêu lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn, Kiên
đi đi lại lại, ký ức lóe chớp.” [147, tr. 91].
Không gian của Nỗi buồn chiến tranh trong quá khứ không mang tính hiện
thực mà dường như là những không gian ảo giác của khói hồng ma thời truông Gọi
Hồn vẫn mãi ám ảnh trong tâm hồn của Kiên. Bảo Ninh đã tạo dựng bối cảnh
không gian bị mờ nhòe giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và hư trong dòng ký ức
của nhân vật, từ đó hiện thực chiến tranh hiện lên trong tính đa chiều và phức tạp
của nó.
4.2.2. Thời gian nghệ thuật
4.2.2.1. Thời gian hiện tại hướng tới tương lai của Dấu chân người lính
“Con người kháng chiến hoàn toàn sống với thời gian hiện tại, ngập chìm
trong thời gian sự kiện. Họ rất hiếm khi có thể hồi tưởng quá khứ hay mơ mộng
127
tương lai” [141, tr. 55]. Theo Bakhtin thì thời gian trong sử thi là thời gian tương
lai, nhưng có thể miêu tả thời hiện tại trong sử thi với điều kiện là, phải nhìn hiện
tại từ điểm nhìn tương lai. "Tất nhiên, có thể tri giác cả "thời đại của chúng ta" như
một thời đại sử thi anh hùng, từ giác độ ý nghĩa lịch sử của nó, tri giác từ xa, từ cự
ly thời gian (không phải bằng con mắt mình, con mắt người đương thời, mà dưới
ánh sáng tương lai)”. [10, tr. 37] Như vậy, xét về mặt lý thuyết, thời gian trong tiểu
thuyết sử thi là thời gian hiện thực được lý tưởng hóa, được nhìn từ phía tương lai.
Trong Dấu chân người lính, thời gian hiện tại chi phối toàn bộ hệ thống tổ
chức thời gian nghệ thuật của tác phẩm. Với quan niệm thời gian gắn liền với bước
đi của lịch sử, mỗi cá nhân đều bị đặt trong dòng thác các biến cố lịch sử, nên thời
gian hiện tại trong tác phẩm cũng mang tính lịch sử - sự kiện. Các mốc thời gian
hiện tại trong tác phẩm đều gắn liền với một sự kiện lịch sử cụ thể và có mối quan
hệ nhân quả theo trật tự tuyến tính với nhau. Cách xây dựng cấu trúc thời gian như
vậy phù hợp với tư duy thể loại tiểu thuyết sử thi. Thời gian trần thuật trong Dấu
chân người lính diễn ra đồng thời với thời gian của truyện kể, gắn với các sự kiện
lớn, chia thành các phần Hành quân, Chiến dịch bao vây, Đất giải phóng. Ở trong
dòng chảy thời gian đó, diễn ra các cuộc gặp gỡ cha con, đồng đội, bạn bè, đồng
hương, các cuộc chiến lớn nhỏ. Đó là một cách cảm nhận thời gian từ tầm nhìn trên
cao xuống. Tương ứng với không gian nghệ thuật hoành tráng trải rộng thì thời
gian nghệ thuật của Dấu chân người lính cũng trôi chậm chạp. Các mốc thời gian
tuyến tính của các sự kiện diễn ra theo lối kể truyện truyền thống.
Nhưng đôi khi dường như người kể chuyện như đón trước ở thì tương lai:
“Đến sau này Lượng vẫn còn ngượng, một người cứng cỏi như Lượng mà vẫn
không khỏi hết sức ngượng mỗi khi anh tới …” [22, tr. 385] “Cho mãi về sau này
Lữ vẫn còn bực bội và hết sức ngạc nhiên về thái độ của anh lúc bấy giờ” [22, tr.
624]. Thời gian hiện tại của Dấu chân người lính là hiện tại được nhìn từ phía
tương lai. Tương lai là một chuẩn mực lý tưởng. Đây là cách tư duy về thời gian
luôn hướng về tương lai đó: “Tiếng ngáy của những người lính đều đặn như mặt
128
đất đang thở - “Ngủ đi, ngủ đi các ông. Nay mai ta sẽ bước vào chiến đấu!”” [22, tr.
381] “Bên phía Đồi không tên, một tiểu đoàn dân công vận chuyển hỏa tuyến vừa
dừng lại bắc bếp thổi nấu, khói bếp bay chờn vờn trên nóc mấy chiếc hầm chữ Y đã
bị bom đánh sập.” [22, tr. 879]. Cách cảm nhận về thời gian này xuất phát từ cảm
hứng khẳng định hiện tại và tương lai của thời đại chống Mỹ.
Bên cạnh thời gian hiện tại, tác phẩm cũng xuất hiện thời gian quá khứ. Đó
là khi các nhân vật hồi tưởng lại quá khứ của mình. Đó là khi “ký ức Lữ như một
con ngựa thả lỏng cương lững thững quay trở lại một khung cảnh cũ trong đời
chiến sĩ của mình” [22, tr. 649], hoặc đó hồi ức của Kinh về đứa con trai mới hi
sinh của mình “Những kỷ niệm về đứa con trai lần lượt hiện ra, mỗi kỷ niệm mang
một vết máu rỉ ra từ trong lòng Kinh” [22, tr. 865]. Nhưng thường quá khứ của các
nhân vật được người kể chuyện kể lại qua các đoạn tiểu sử của Kinh, Lượng, Lữ,
Khuê, Cận, Moan… Kiểu thời gian quá khứ này góp phần làm rõ quá khứ và một
phần thế giới nội tâm của các nhân vật. Tuy nhiên, thời gian quá khứ xuất hiện
không nhiều và không đóng vai trò đáng kể đến sự phát triển của các sự kiện trong
tác phẩm. Hiện thực chiến tranh trong Dấu chân người lính thuộc về thời hiện tại
và tương lai.
4.2.2.2. Thời gian hiện tại căng thẳng trong Đất trắng
Cũng giống như Dấu chân người lính, thời gian nghệ thuật trong Đất trắng
vẫn chủ yếu là thời gian hiện tại, nhưng nó là một thực tại được nhìn cận cảnh hơn,
mang nhịp điệu căng thẳng, gấp gáp hơn của tiểu thuyết phóng sự. Các mốc thời
gian được đo bằng các đơn vị nhỏ với tính chính xác cao như "sáu giờ tối", "buổi
chiều", "bốn giờ", "nửa đêm", "mười một giờ đêm", "khoảng 7 giờ sáng", “bảy giờ
tối”, "chín giờ ba mươi phút"... như cách ghi chép nhật ký chiến trường. Các sự
kiện chính xảy ra trong thì hiện tại là chủ yếu. Thời gian trần thuật và thời gian diễn
ra sự kiện cũng gần như đồng thời, khoảng cách của hai loại thời gian này hẹp hơn
trong Dấu chân người lính. Vì các sự kiện dồn dập xảy ra trong khoảng thời gian
tương đối ngắn nên sự nồn nén về mặt thời gian hiện tại trong Đất trắng rất cao.
129
Các khoảng thời gian được chú ý và đôi khi rất chi tiết theo kiểu ghi chép nhật ký:
“Cuộc oanh kích kéo dài từ bảy giờ sáng đến năm giờ chiều. Đến sáu giờ, tiểu đoàn
cho người sang Vườn Giâu và tìm thấy thi hài của ba chiến sĩ, nhưng không thấy
Sâm và Mạn” [151, tr. 115]. “Bốn giờ. Một chiếc trực thăng bị bắn cháy bay về
phía Vườn Cam” [151, tr. 115]. Cách thức diễn đạt về thời gian đó luôn đặt người
đọc trong tâm thế căng thẳng đón đợi các sự kiện xảy ra. Nó cũng hiệu quả trong
việc diễn giải một cách nhìn nhận về chiến tranh không còn một màu giống như
thời của tiểu thuyết sử thi, mà đã đa sắc hơn và nhiều góc khuất hơn. Tuy vậy, tâm
thế của Đất trắng vẫn cứ là khẳng định hiện tại, là nhìn về phía trước, chưa có gì
khác biệt so với Dấu chân người lính.
Trong Đất trắng, thời gian quá khứ, thời gian hoài niệm xuất hiện nhiều hơn
trong Dấu chân người lính. Thời gian quá khứ thường là hồi ức được kể lại qua
những từ chỉ thời gian mơ hồ, không định vị được như: "hồi đó", "trước đây",
"trước đó", "lần đó", "ngày xưa"... Nhưng nhiều khi thời gian quá khứ được gắn
liền với những sự kiện lớn, các trận đánh: “ngày vỡ mặt trận ở thành phố Huế”,
"trong trận càn Thanh Hương", "đầu đợt một Tết Mậu Thân", "trước lệnh tổng công
kích và tổng khởi nghĩa hai tháng"... Các mốc thời gian ấy thường là khi người kể
chuyện kể lại quá khứ của các nhân vật. Số phận của mỗi cá nhân dường như đều
gắn liền với số phận của cả dân tộc. “Ông Thêm nhìn các cậu tân binh và bỗng nhớ
đến ngày vỡ trận ở thành phố Huế. Cái ngày ấy ông bỏ nhà ra đi, bỏ lại cái thành
phố sau lưng ngùn ngụt lửa khói. Cũng từ đó, đến nay hơn hai chục năm rồi, ông
biền biệt không còn tin tức gì của gia đình nữa. Ông đã lấy cái trung đoàn này làm
một gia đình thứ hai của ông” [151, tr. 246]. Cách thức tổ chức thời gian quá khứ
này đã góp phần tạo nên một diễn ngôn về mối quan hệ giữa số phận của mỗi cá
nhân và số phận của cả dân tộc trong tác phẩm Đất trắng.
4.2.2.3. Thời gian đồng hiện trong Nỗi buồn chiến tranh
Thời gian nghệ thuật trong Nỗi buồn chiến tranh là một dòng thời gian hỗn
độn không theo quy luật và trật tự của hiện tại và quá khứ, trong đó quá khứ hoàn
130
toàn chi phối hiện tại. Đó là những cơn đau, những biểu hiện của một tâm hồn đầy
thương tích của chiến tranh đi giữa hiện tại và quá khứ của nhân vật Kiên, như
chính nhân vật tự thú nhận: “Nhưng mà tâm hồn tôi thì đã ngưng bước lại ở những
ngày tháng ấy chứ không tài nào mà đổi đời nổi như là bản thân đời sống của tôi.
Một cách trực giác, tôi luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn đang lẩn khuất. Đêm
đêm, giữa chừng giấc ngủ, tôi nghe thấy tiếng chân tôi từ những thuở nào đó rất xa
rồi vang lên trên hè phố lát đá.” [147, tr. 48]. Phần lớn câu chuyện được nhìn từ
điểm nhìn quá khứ. Kiên là một nhà văn trở về sau cuộc chiến, đang cố gắng viết
một tác phẩm đầu tay về cuộc chiến mà anh vừa đi qua, về những điều đang ám ảnh
tâm hồn anh: tuổi học trò trước chiến tranh, gia đình, mối tình với Phương, những
năm tháng chiến tranh, hòa bình lập lại. Thực chất toàn bộ quá khứ, hiện tại và
tương lai của Kiên đã bị chiến tranh ám ảnh. Kiên như một kẻ lạc bước giữa hiện
tại mà tâm hồn vẫn để lại nơi quá khứ. Quá khứ, chiến tranh và những vết thương
nó gây ra đã ám ảnh tâm hồn, cuộc sống và toàn bộ phần đời còn lại của con người.
Nó đã khiến số phận con người hoàn toàn thay đổi, không có cách gì vãn hồi được:
“Chính nghĩa đã thắng, lòng nhân cũng đã thắng, nhưng cái ác, sự chết chóc và bạo
lực phi nhân cũng đã thắng. Cứ nhìn mà xem, cứ ngẫm nghĩ mà xem sự thực là như
thế đấy. Những tổn thất, những mất mát có thể bù đắp, các vết thương sẽ lành, đau
khổ sẽ hóa thạch nhưng nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì sẽ ngày càng thấm thía
hơn, sẽ không bao giờ nguôi” [147, tr. 231]. Quá khứ đã hủy hoại tất cả, tuổi trẻ,
mối tình trong trắng và tương lai của Kiên, của Phương và của cả một thế hệ.
Phương đã đau đớn mà nhận ra rằng: “Ký ức chẳng buông tha. Chúng mình đã lầm
tưởng có thể vượt qua được một hạt sạn” [147, tr. 89]. Quá khứ trở thành một dòng
tâm tưởng của những mê man, ảo giác mà Kiên bị đắm chìm trong đó. Cái nhìn của
Nỗi buồn chiến tranh là cái nhìn ngược về quá khứ với dòng ý thức miên man
không đầu không cuối như những giấc mơ hỗn loạn, nhưng lại trọn vẹn trong ý
thức của Kiên.
Theo Genette, sự thể hiện trình tự thời gian chỉ ra mối liên hệ giữa “trật tự
131
thời gian kế tục các sự kiện trong sự nói đến và trật tự thời gian giả của sự trình bày
chúng” [68, tr. 114]. Trong tiểu thuyết truyền thống như Dấu chân người lính và
Đất trắng, câu chuyện diễn ra trình tự theo thời gian biên niên, do vậy thời gian
trần thuật và thời gian sự kiện gần như trùng khít. Thế nhưng, ở Nỗi buồn chiến
tranh, kiểu trần thuật phi tuyến tính của kiểu tiểu thuyết dòng ý thức đã khiến thời
gian trần thuật và thời gian sự kiện bị sai lệch tương đối lớn, trật tự thời gian bị xáo
tung. Thời gian quá khứ, hiện tại của tác phẩm trở thành một khối hỗn độn thách
thức “tầm đón đợi” của người đọc ở thời điểm tác phẩm ra đời. Theo Đặng Anh
Đào, “Trong dòng tâm tư, quá khứ, hiện tại, tương lai xuất hiện cùng một lúc,
không bị ngăn cách, liên tục như một dòng chảy, đó là hiện tượng mà người ta gọi
là thời gian đồng hiện” [40 ,tr 77]. Câu chuyện bị ngắt quãng liên tục, dường như
tác giả đã sử dụng thủ pháp lắp ghép hình ảnh của điện ảnh, các hình ảnh bị xáo
trộn lên rồi sắp xếp lại một cách ngẫu nhiên. Ví dụ như chuyện về cô giao liên Hòa
xuất hiện ở đầu tác phẩm bỗng bị dừng lại bằng việc Kiên đang viết tiểu thuyết ở
Hà Nội, tiếp đến chuyện quay lại đồi Mơ, ký ức về người cha dượng, quay lại
chuyện Kiên viết tiểu thuyết, chuyện về Hạnh, về Phương, người bạn học tên Sinh
sau chiến tranh… Xen kẽ vào những hồi ức ấy là những giấc mơ, những cơn mộng
mị, giữ vai trò đồng hiện, dự báo, lắp ghép… Kiên thường mơ về Phương, những
giấc mơ ẩn chứa hồi ức, khát vọng, sức mạnh tình yêu và tuổi trẻ của anh, cả những
ẩn ức tình dục ấu thơ, những giấc mơ chập chờn suốt quãng thời gian chiến trận:
“những giấc mơ đậm đặc cảm giác, nóng bỏng và ngọt lịm như mật ứa ra, trào lên
lấp đầy cõi mộng mị. Trong những đêm mưa ấy, giữa từ giữa miền không gian xa
xanh, sâu thẳm, khuất chìm sau sương mù ký ức, người con gái của thành phố quê
hương lại hiện lên và bước tới với anh trong bóng hình tiên nữ mờ ảo. Cả người gai
lên, xương thịt chờn rợn, run rẩy, rung động trong nỗi khát khao thèm muốn được
hưởng tới độ tột cùng cảm giác xúc tiếp êm ái, choáng ngợp, đáng kinh hãi với cái
hình hài yêu dấu, mong manh, mềm mại như cánh hồng ấy” [147, tr. 32]. Những
giấc mơ ấy là một phần hồi tưởng, một phần khát khao, một phần ẩn ức sâu thẳm
132
của Kiên nối liền hiện tại với quá khứ. Có thể nói, “khi tiếp xúc với Nỗi buồn chiến
tranh, ta như chạm vào, nhập vào dòng ý thức của nhân vật, “xem trộm” những bí
mật của anh ta” [164, tr. 401].
Với kiểu tiểu thuyết dòng ý thức, thời gian trong Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh chủ yếu là dòng hồi tưởng, suy tư, hoài niệm, mộng mị, mê loạn… của
nhân vật về quá khứ gắn liền với cuộc chiến tranh. Cách cấu trúc thời gian bằng sự
xáo trộn quá khứ- hiện tại- tương lai thành những mảnh vỡ ấy hoàn toàn khác biệt
so với thời gian tuyến tính của tiểu thuyết truyền thống từ Dấu chân người lính đến
Đất trắng. Nỗi buồn chiến tranh là một diễn ngôn chấn thương, một lối tư duy của
thời đại đang hoang mang trước sự đổ vỡ niềm tin vào những trật tự, những tín
niệm tưởng như đã trở thành bất khả xâm phạm. Tác phẩm cũng là một bước
chuyển mình theo hướng hiện đại hóa của tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam.
4.3. Nghệ thuật trần thuật
4.3.1. Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật là "Vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự
vật trong tác phẩm" [61, tr. 113]. Có thể nói, không có điểm nhìn thì không thể có
nghệ thuật. Đây chính là yếu tố thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ
thể sáng tạo trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật, đồng thời cung cấp cho người đọc
một phương diện để nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong
cách ở trong đó. Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần bắt nguồn từ sự thay đổi
điểm nhìn, đem lại cho người đọc một cái nhìn mới đối với cuộc sống. Do đó, việc
lựa chọn và tổ chức điểm nhìn trần thuật có ý nghĩa quyết định tới sự thành công
hay thất bại của tác phẩm tự sự.
4.3.1.1. Điểm nhìn “toàn tri” trong Dấu chân người lính và Đất trắng
Theo Genette thì có hai kiểu trần thuật là trần thuật ngôi thứ nhất và trần
thuật ngôi thứ ba. Stanzel thì có ba loại trần thuật: trần thuật ở ngôi thứ nhất, trần
thuật của tác giả và trần thuật của nhân vật. Trong Dấu chân người lính và Đất
133
trắng, giống như kiểu tiểu thuyết truyền thống, người viết đã chọn điểm nhìn ngôi
thứ ba- điểm nhìn tác giả (điểm nhìn biết tuốt" hay điểm nhìn “toàn tri”)- làm điểm
nhìn chủ đạo để quan sát và trần thuật. Người kể chuyện kiểu này thường đứng
ngoài câu chuyện nên khiến người đọc dễ dàng chấp nhận quyền năng “biết tuốt”
vô hạn của Chúa trời. Cách nhìn thế giới bao quát của người kể chuyện- tác giả-
như “Trời nhìn” rất phổ biển ở các kiểu tự sự truyền thống, đặc biệt thích hợp với
việc phát hiện sức mạnh cũng như khiếm khuyết tinh thần của nhân vật. Điển hình
cho kiểu văn bản trần thuật theo điểm nhìn tác giả là các tác phẩm tiểu thuyết hiện
thực xã hội. Ở Dấu chân người lính, người trần thuật xuất hiện ở ngôi thứ ba, và
đứng về phía “quân ta” để kể các sự kiện tuần tự từ cuộc hành quân đến bao vây và
tiêu diệt kẻ địch của “quân ta” với thái độ ngợi ca, tự hào. Người trần thuật thường
đứng ngoài nhân vật để kể chuyện, luôn giữ một “khoảng cách sử thi” nhất định đối
với các nhân vật của mình. Trong Đất trắng, người kể chuyện đứng ngoài câu
chuyện để khách quan kể về cuộc chiến đấu căng thẳng, khốc liệt của trung đoàn
Mười Sáu với kẻ địch để giành giật từng tấc đất. Điểm nhìn tác giả giữ vai trò
thống trị ở cả hai tác phẩm này.
Tuy nhiên, ở cả hai tác phẩm, chúng tôi cho rằng các tác giả cũng đã bắt đầu
có ý thức xây dựng các điểm nhìn nhân vật. Đã bắt đầu xuất hiện trường hợp một
số nhân vật trong tác phẩm được nhìn qua điểm nhìn của những nhân vật khác.
Trong Dấu chân người lính, các nhân vật thường được nhìn từ nhiều góc như thế.
Ví dụ như Lữ nhận xét về Khuê: “Cái thằng cha này, Lữ nghĩ, không biết bố mình
tìm ở đâu ra mà nó có cái nhìn như muốn lột người ta ra vậy” [22, tr. 356], hay như
Khuê nghĩ về Kinh: “Ông cụ Kinh nhà mình nói chuyện với con trai cũng chẳng
khác gì nói chuyện với bộ đội” [22, tr. 687]…
Đất trắng tiến xa hơn một chút, đôi khi có trường hợp lẫn lộn giữa người kể
chuyện và nhân vật. Đấy là trường hợp người kể chuyện mượn điểm nhìn nhân vật,
đến mức như hoá thân vào nhân vật và người đọc phân vân không rõ đây là giọng
của tác giả hay là giọng của nhân vật. Ví dụ trường hợp: "Phó chính ủy định đi ra
134
bến, thấy tình hình như thế thì ngồi nán lại chờ, nhưng năm phút, mười phút, rồi ba
mươi phút trôi qua đi, người ta vẫn chẳng thấy gì. Anh em lai ra ngoài hầm ngồi tán
chuyện. Chiếc “đầm già” cũng đã biến mất. Như thế nghĩa là thế nào? Một đòn
chiến tranh tâm lý chăng?" [151, tr. 258]... Ở những trường hợp thế này, người kể
chuyện có vẻ như lùi lại một bước so với vị trí quen thuộc, nhưng không ẩn đi mà
vẫn hiện diện ở đó. Xét cho cùng, thực chất điểm nhìn vẫn cứ là của một người kể
chuyện ở bên ngoài, biết hết mọi điều.
Cách nhìn thế giới theo kiểu toàn năng “biết tuốt” của người kể chuyện trong
các tiểu thuyết này góp phần khiến tác phẩm mang tính chất độc thoại, đơn thanh,
như là kể về một hiện thực đã xong xuôi, đã hoàn toàn được biết hết, không còn tồn
tại tranh cãi hay hoài nghi, một siêu tự sự- hay một đại tự sự của thời đại chống Mỹ
cứu nước.
4.3.1.2. Sự di chuyển của các điểm nhìn trần thuật trong Nỗi buồn chiến
tranh
Một trong những dấu hiệu chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
và đặc biệt là sau Đổi mới là sự gia tăng các điểm nhìn trần thuật. Nhà văn bắt đầu
phá vỡ quyền uy của người kể chuyện tác giả để trao cho nhân vật của mình quyền
phát ngôn bình đẳng với chủ thể trần thuật. Đó là kết quả của sự gia tăng tính đối
thoại trong tác phẩm.
Nỗi buồn chiến tranh được xây dựng từ nhiều điểm nhìn trần thuật khác
nhau. Mạch truyện được kể lại thông qua hai điểm nhìn chính là nhân vật Kiên và
điểm nhìn của người kể chuyện xưng “tôi”. Ngoài ra, một số nhân vật khác trong
tác phẩm cũng tham gia kể chuyện. Các điểm nhìn này được di chuyển liên tục.
Phần lớn tác phẩm được nhìn bằng cái nhìn của nhân vật Kiên, dù đa phần
được kể ở ngôi thứ ba. Đây là kiểu trần thuật của nhân vật (figural narrative), kiểu
truyện kể mà các sự kiện diễn ra trong truyện được phản ánh bên trong ở ngôi thứ
ba. Người kể chuyện ở đây là người kể chuyện ở ngôi thứ ba ẩn tàng, giấu mình sau
135
sự hiện diện của ý thức. Người kể chuyện đã lùi lại đằng sau nhân vật, chỉ còn dòng
hồi ức của nhân vật đang tự kể lại câu chuyện của mình. Toàn bộ câu chuyện là hồi
ức của Kiên về quá khứ và chiến tranh, nhưng không phải là một câu chuyện được
kể gãy gọn, mạch lạc từ đầu đến cuối, mà chỉ là những lát cát, những miếng ghép
lộn xộn và đứt quãng của Kiên về những điều ám ảnh tâm trí anh. Đó là những kỷ
niệm ngọt ngào và cay đắng về tuổi hoa niên, về mối tình đầu, về cô gái duy nhất
mà anh đã yêu suốt cuộc đời, về gia đình, khu phố, về Hà Nội của anh. Đó cũng là
những ký ức đau đớn về chiến tranh, về những người đồng đội đã ngã xuống, về
những người phía bên kia, về cái chết, về sự sống, về sự cao cả và nỗi đớn hèn, về
cái thiện và cái ác… Kiên không có ý định kể lại một câu chuyện trọn vẹn về cuộc
đời mình, anh chỉ kể lại những mảnh vỡ của ký ức trong dòng suy tưởng vụt qua
tâm trí anh.
Đôi khi, Bảo Ninh để nhân vật Kiên kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Đó là những
đoạn ngắn ngủi Kiên như mê sảng: “Ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ
của tôi! Suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung, bởi thương tiếc và cay
đắng ngậm ngùi.” [147, tr. 49] “Và như thế là đằng đẵng bao nhiêu năm trời rồi trôi
qua. Mười năm. Rồi mười một. Rồi mười hai, mười ba năm. Ngay cả cái tuổi bốn
mươi ngày nào xa lạ và khó tin biết mấy cũng chỉ còn lại nốt mùa đông này. Từ
chân trời dĩ vãng, ngọn gió buồn vô hạn của tình yêu và tự do như là niềm tiếc nuối
không nguôi cứ mãi hoài thổi qua thành phố, qua làng mạc, và trong đời tôi…”
[147, tr 52]. Chắc hẳn, sự lộn xộn khi lúc viết ngôi thứ ba, lúc thì ở ngôi thứ nhất là
sự lựa chọn có chủ đích của nhà văn. Tác giả muốn tạo dựng một diễn ngôn đa
chiều cho truyện của mình ngay từ cách chọn điểm nhìn trần thuật.
Với kết cấu truyện hai lần hư cấu, trong Nỗi buồn chiến tranh ẩn dấu một
nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” đến cuối tác phẩm mới lộ diện. Đây là người
đã có vai trò thu thập và sắp xếp lại đống bản thảo lộn xộn bị vứt bỏ của Kiên.
Điểm nhìn trần thuật và mạch trần thuật của nhân vật này đã bị ẩn giấu suốt chiều
dài truyện và chỉ xuất hiện ở cuối tác phẩm. Sự xuất hiện của nhân vật này đã đẩy
136
lùi khoảng cách giữa nhân vật Kiên và người đọc về hai phía. Người đọc nhận ra
mình đang theo dõi hai mạch trần thuật khác nhau, nhưng thực ra hai mạch này lại
rất thống nhất. Nhân vật “tôi” khẳng định tính khách quan của mình: “Không hề có
một chữ nào của tôi trong bản thảo mới, tôi chỉ xoay xoay vặn vặn như một người
chơi Ru- bic vậy thôi” [147, tr. 285]. Nhân vật ấy có xuất thân cũng là một cựu
chiến binh, đồng cảm với Kiên trong câu chuyện về chiến tranh, họ là “chúng tôi”:
“Dường như do sự tình cờ của câu chữ và bố cục, tôi và tác giả đã ngẫu nhiên trở
nên hòa đồng tư tưởng, trở nên rất gần nhau. Thậm chí thôi ngờ rằng có quen anh
trong chiến tranh” [147, tr. 285], “Nhưng chúng tôi còn có chung một nỗi buồn, nỗi
buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau
khổ.” [147, tr. 286]. Tạo thêm điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”
này, tác giả đã thêm vào cho tiểu thuyết một tầng đa nghĩa nữa.
Ngoài hai điểm nhìn chính là nhân vật Kiên và người kể chuyện xưng “tôi”,
Nỗi buồn chiến tranh còn có những điểm nhìn từ các nhân vật khác: Phương, cha
của Kiên, Can, Phán, người đàn bà câm… Phương là một nhân vật nữ khác lạ trong
văn học viết về chiến tranh ở Việt Nam, quá đẹp, quá kiêu hãnh, quá nhạy cảm, quá
nghệ sĩ, quá độc lập và quá thông minh. Cô đã có những dự cảm về chiến tranh
khác hẳn với Kiên. Khi Kiên của tuổi 17 non nớt say sưa với lý tưởng như tất cả
mọi thanh niên của thời đại mình thì Phương đã có lối suy nghĩ khác hẳn: “Chiến
tranh, hòa bình, vào đại học, đi bộ đội khác nhau lắm hay sao? Và thế nào là cuộc
đời tốt, cuộc đời xấu?” [147, tr. 153]. Phương đã đi quá xa so thời đại của cô trong
cách nhìn về chiến tranh. Cả trong cách nhìn nhận về cuộc đời nói chung, chính
Phương là người có thể đồng cảm với người họa sĩ già là cha của Kiên khi ông còn
sống chứ không phải Kiên, người nghệ sĩ đã không gặp thời, sống ở một thời đại
mà thứ nghệ thuật cao siêu của ông bị chà đạp, hắt hủi đến mức ông đã ném hết
mọi thứ vào ngọn lửa trước khi qua đời. Các nhân vật khác đã ít nhiều đem lại các
điểm nhìn từ nhiều phía, nhiều góc khác nhau cho tác phẩm.
Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật, người trần thuật cũng như mạch trần
137
thuật đã tạo nên tính đa thanh, đa âm cho Nỗi buồn chiến tranh, cho diễn ngôn về
hiện thực chiến tranh của thời Đổi mới, điều mà những tác phẩm viết về chiến tranh
trước đó như Dấu chân người lính và Đất trắng chưa có được.
4.3.2. Giọng điệu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là "Thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện
trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm
thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,...” [61, tr.
134]. Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học, mang nội dung
khái quát nghệ thuật, phù hợp với từng đối tượng thể hiện, là nơi tác giả biểu lộ lập
trường xã hội, thái độ, tình cảm, phong cách, tài năng cũng như thị hiếu thẩm mĩ
của mình. Do đó, việc nhận biết giọng điệu của tác phẩm văn chương rất quan
trọng trong việc hiểu được nội dung tác giả muốn truyền tải.
4.3.2.1. Giọng điệu ngợi ca hào hùng trong Dấu chân người lính
Giọng điệu cơ bản của sử thi cổ điển thường là trang trọng, hùng tráng, phù
hợp với cảm hứng ngợi ca, khẳng định, đề cao sự nghiệp anh hùng. Dấu chân
người lính cũng giống các tiểu thuyết sử thi trước năm 1975 mang giọng điệu đơn
thanh: ngợi ca hào hùng. Văn chương của Nguyễn Minh Châu khỏe khoắn, mạnh
mẽ, đầy những câu văn nghiêm trang, hào hứng, tầng tầng lớp lớp: “Các con đường
mòn chạy xuyên qua Trường Sơn bao giờ cũng lõng bõng một lớp bùn nhão đầy vết
giày in chi chít ngang dọc. Các ngả đường ngập những lính, đâu đâu trong rừng
cũng sực lên hơi người, đâu đâu cũng gặp những bếp than cháy dở, những cái túp
cỏn con kề bên suốt bên trong ba hòn đá vực dưới suối lên đã cháy đen thui.” [22,
tr. 298- 299]. Giọng điệu hào hùng thể hiện qua cái chết của người chiến sĩ: “Người
chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hy sinh còn ngẩng cao đầu lên một lần cuối: Trên
nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ mỗi lúc một thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi
lúc càng tiến dần đến trước mặt. Rồi anh nhắm mắt hẳn. Những món tóc rất xanh
rối bù dính bết máu phủ kín cả vầng trán lấm tấm mồ hôi đã trắng nhợt. Dường như
138
từ trong ngực anh, chiếc đài vẫn đang nói sang sảng” [22, tr. 827].
Sự ngợi ca, hào hùng không chỉ biểu hiện qua giọng điệu ngợi ca, hào hùng
ở những đoạn văn trang trọng, đầy hào khí như ở trên mà nó còn thể hiện ở những
sắc thái giọng điệu khác. Đó là giọng trữ tình đầy chất thơ khi mô tả cảnh thiên
nhiên, những đoạn nhật ký của Lữ. Đó là giọng điệu hài hước, lãng mạn khi nói về
cuộc sống của những người lính: cảnh đuổi bắt lợn, cảnh con chó bị buộc củ riềng
ở cổ của Lữ. Đó là giọng cảm động như đoạn kể về hoàn cảnh của Nết và Xiêm.
Đó là giọng trữ tình – tha thiết (như những đoạn miêu tả thiên nhiên, những đoạn
miêu tả tâm trạng của các nhân vật hay một số đoạn trong nhật ký của Lữ...)... Nó
cho thấy những màu sắc khác nhau trong cuộc sống của người lính, những khía
cạnh đáng tự hào và ngợi ca trong hoàn cảnh như thế. Do đó, có thể khẳng định,
trong Dấu chân người lính, ở phương diện giọng điệu trần thuật, chất đơn thanh
của sử thi vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế, tính chất ngợi ca, khẳng định xung quanh
đại tự sự vẫn là xu thế chính của tác phẩm.
4.3.2.2. Giọng điệu khách quan bi hùng trong Đất trắng
Đất trắng không dùng giọng điệu trần thuật ngợi ca hào hùng dễ nhận thấy
như Dấu chân người lính. Thực chất vẫn là kiểu tiểu thuyết đơn thanh truyền
thống, nhưng trong cái đơn thanh của Đất trắng đã thấp thoáng dấu hiệu của những
màu sắc khác nhau. Dường như nhà văn đang đóng vai trò của một người khách
quan ghi ghép lại hiện thực chiến trường. Người kể chuyện thản nhiên kể lại các
cuộc đụng độ của trung đoàn Mười sáu với kẻ địch, thản nhiên kể về sự hi sinh, cái
chết, sự phản bội, sự cao cả và sự thấp hèn… Vẫn có những nhân vật được tác giả
nhìn cả điểm tốt và điểm xấu bất kể thuộc phía nào, bằng giọng điệu khách quan,
như nhân vật Huy ở phía bên kia, và như nhân vật Tám Hàn ở phía bên này. Dĩ
nhiên, tư duy nhìn nhân vật tốt- xấu như thế vẫn chưa thoát khỏi kiểu tiểu thuyết
truyền thống. Tuy nhiên, bên trong sự thản nhiên ấy, người đọc vẫn nhận ra nhiều
tầng âm điệu khác của tiểu thuyết. Ở sau ấy ẩn chứa một giọng điệu chủ đạo là hào
hùng ngợi ca, dù không thuần nhất như Dấu chân người lính. Nó thể hiện qua việc
139
miêu tả cuộc chiến đấu anh dũng trung đoàn cũng như khi miêu tả các nhân vật
mang màu sắc chính diện: "Sau bốn mươi phút, tuy không diệt hoàn toàn cụm địch,
nhưng ta làm chủ trận địa. Ba chiếc xe tăng địch bị bắn cháy. Hai chiếc chạy thoát
nhưng không dám quay lại bắn. Một số bộ binh địch lợi dụng đêm tối long theo bờ
rạch, chạy trốn” [151, tr. 68] ; "ông Ba Kiên vốn là một người rất thích sống cởi
mở, yêu ghét rõ ràng, nghĩ sao nói vậy" [151, tr. 232]... Niềm tin duy nhất vẫn
xuyên suốt tác phẩm: “Cái còn lại duy nhất vững chắc nhất trong con người những
cán bộ vùng ven lúc bấy giờ là lòng tin ở sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương
Đảng. Mỗi lần khẳng định lại điều này cho mình thì họ lại yên tâm vượt qua mọi
khó khăn” [151, tr. 168]. Với sự lựa chọn giọng điệu ca ngợi hào hùng, tác giả
muốn truyền đạt một diễn ngôn về chiến tranh mang tính khẳng định lý tưởng
không đổi của thế hệ mình.
Tuy nhiên, giọng điệu ngợi ca hào hùng của Đất trắng không phải là chủ âm
duy nhất như Dấu chân người lính, mà xen vào đó đã có những giọng điều khác,
không đối lập, nhưng đã bắt đầu khác biệt. Đó là giọng điệu bi hùng, phản ánh
chiến tranh ở cả phía hiện thực nhất của nó, là những bế tắc, gian khổ, hi sinh, mất
mát. Chiến tranh không còn là một cuộc dạo chơi lãng mạn nữa, mà nó nhiều cay
đắng, đau thương: “Lúc đánh nhau, chiến sĩ của chúng ta phải đứng ở dưới nước
như vậy mà bắn. Đêm đến, họ trải vải mưa ngủ trong hầm và khi có đại bác bắn, họ
lại phải nhảy xuống nước” [151, tr. 128]; “Còn một việc nữa: gạo đâu, quân đâu bổ
sung? Đó là chưa kể thương binh không biết đưa về đâu?” [152, tr.139]; "Đời lính,
Thị đã từng chứng kiến bao nhiêu cuộc chia ly, vậy mà chưa lần nào anh thấy đau
xót như lần này. Đúng như ông Hai nói: nhà cha chết thì anh cả phải lo. Bọn Thị
bây giờ chẳng khác gì con mất cha..." [152, tr. 191].
Giọng điệu chủ đạo của Đất trắng thực chất vẫn là ngợi ca bi hùng, nhưng
được ẩn sau giọng điệu khách quan lạnh lùng. So với Dấu chân người lính, tiểu
thuyết của Nguyễn Trọng Oánh đã tiến xa hơn trong việc phản ánh hiện thực chiến
140
tranh một cách khách quan từ nhiều góc độ, vừa hùng vừa bi.
4.3.2.3. Giọng điệu đa thanh trong Nỗi buồn chiến tranh
Nỗi buồn chiến tranh là một bước tiến về phương diện nghệ thuật tự sự trên
quá trình hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam nói chung cũng như tiểu thuyết
phản ánh hiện thực chiến tranh nói riêng. Giọng điệu đa thanh, đa tầng mang tính
đối thoại của Nỗi buồn chiến tranh đã đem đến một bức tranh nhiều màu sắc cho
văn học viết về chiến tranh của Việt Nam.
Nỗi buồn chiến tranh không còn giọng điệu ngợi ca, hào hùng của tiểu
thuyết sử thi, Bảo Ninh đã mang đến cho tác phẩm của ông một giọng điệu buồn
thương, đau đớn khi tiếp cận hiện thực chiến tranh qua thân phận của con người.
Bao trùm lên cuốn tiểu thuyết là nỗi đau đớn, tiếc nuối, buồn thương về chiến
tranh, tình yêu, thân phận của kiếp người. Ngập tràn trong văn ông là những “nỗi
buồn”, càng về cuối càng đậm đặc và lên cao trào: “Kiên biết rằng thời gian của
cuộc đời anh đang ruổi nước mã hồi. Anh chẳng sợ gì cái chết. Cái chết không đáng
sợ, chỉ buồn thôi và nó trĩu nặng những dang dở cùng những nuối tiếc” [147, tr.
129]; “Tuy nhiên, cứ nghĩ mà xem, cứ nhìn vào sự sống sót của bản thân mình, cứ
nhìn kỹ vào nền hòa bình thản nhiên kia và nhìn vào cái đất nước đã chiến thắng
này mà xem: đau xót, chua chát và nhất là buồn xiết bao” [147, tr. 231]. Các kiểu
câu dài và các cấu trúc trùng điệp mang những dòng suy tưởng triền miên của nhân
vật như: "là cõi... là cõi...", "người thì... người thì…", “cũng ngập lòng... cũng trải
qua... cũng ngốc nghếch... cũng từng tan nát... cũng đáng..."... Đó là giọng điệu đầy
day dứt khi Kiên nghĩ về những kỷ niệm cũ, trước chiến tranh, về chiến tranh, về
những người thân, người yêu và những người đồng đội đã ngã xuống. Bên cạnh
giọng điệu buồn thương, đau đớn đóng vai trò chủ âm, trong tác phẩm, Nỗi buồn
chiến tranh còn mang nhiều giọng điệu khác. Đó là giọng suy tư, chiêm nghiệm về
chiến tranh, cuộc đời, về con người. Nỗi buồn chiến tranh đặt ra hàng loạt câu hỏi:
Chiến tranh là gì? Chết là gì? Hào quang của chiến thắng có thật hay không? "Một
người ngã xuống để những người khác sống, điều đó chẳng có gì mới, thật thế.
141
Nhưng khi anh và tôi thì sống, còn những người ưu tú nhất, tốt đẹp nhất, những
người xứng đáng hơn ai hết quyền sống trên cõi dương này đều gục ngã, bị nghiền
nát, bị cỗ máy đẫm máu của chiến trận chà đạp, đày đọa, bị bạo lực tăm tối hành
hạ, làm nhục rồi giết chết, bị chôn vùi, bị quét sạch, bị tuyệt diệt, thì sự bình yên
này, cuộc sống này, cảnh trời êm biển lặng này là cả một nghịch lý quái gở" [147,
tr. 231]... Ở đây có sự dằn vặt, day dứt trước chiến tranh, trước số phận con người
đối diện với chiến tranh. Chiến tranh dù đã qua lâu nhưng vết thương ấy vẫn còn
ám ảnh những người trong cuộc mãi mãi.
Ngoài ra, Nỗi buồn chiến tranh còn mang giọng điệu trữ tình tha thiết, giọng
điệu đầy chất thơ của một cuốn tiểu thuyết viết về tâm hồn của con người, những
dòng suy tưởng, những nỗi đau, những bi kịch của kiếp người. Văn của Bảo Ninh
đẹp như thơ, nhưng là thứ thơ buồn thương đau đớn nhất có thể với những câu văn
dài trùng điệp, về triết lý về cuộc đời, về cõi người: “Đêm tối đen, hoang vu như
đêm đồng nội. Và thêm nữa, mưa gió rét mướt. Trong cái buồn của đêm đen thành
phố, anh như thấy được cảm thông, nỗi buồn riêng dường như dịu đi. Đôi khi lò mò
đi trong những ngõ hẻm câm lặng như hang sâu, lòng anh lại bừng lên cảm giác
ngọt ngào nao nức như thể đang đứng trước một khoảng trời rộng mở. Một ý tưởng
lơ vơ có thể được làn gió lùa dọc phố bốc mạnh lên như một cánh buồm” [147, tr.
167].
Sự kết hợp của các giọng điệu mang tính đối thoại, đa thanh, nhất là giọng
điệu đau đớn, buồn thương, sự triết lý, sự dằn vặt đã cho thấy hiện thực chiến tranh
ở một góc tiếp cận hoàn toàn khác biệt so với các tác phẩm trước đó. Bảo Ninh đã
nhìn chiến tranh từ góc độ những bi kịch và những vết thương nó gây ra cho đời
sống tinh thần, tâm hồn, và số phận của con người bằng thái độ không phán xét,
không khẳng định, không phủ định. Ông đã nhìn chiến tranh bằng cách đi sâu vào
phía bên trong thẳm của tâm hồn, ký ức, đời sống tinh thần của con người. Giọng
điệu tự vấn ấy cứ day dứt, dằn vặt, tự đối thoại với chính mình, không cố gắng tìm
kiếm một chân lý cuối cùng, hoặc có chăng, chân lý cuối cùng chính là số phận của
142
con người.
Tiểu kết
Thi pháp thể hiện hiện thực chiến tranh qua ba tác phẩm Dấu chân người
lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh đã đi từ những đặc trưng của tiểu thuyết sử
thi đến tiểu thuyết phóng sự và tiểu thuyết dòng ý thức. Trong giới hạn của luận án,
các yếu tố được khảo sát bao gồm nghệ thuật tổ chức kết cấu, không gian và thời
gian nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật. Ở từng yếu tố nghệ thuật, ba tác phẩm Dấu
chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh đều có sự vận động phù hợp
với sự biến đổi của hệ tư tưởng cũng như tư duy tiếp cận hiện thực chiến tranh ở
từng giai đoạn khác nhau. Sự vận động này cùng chiều với quá trình hiện đại hóa
của văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng, đi từ đơn thanh tới đa thanh,
từ một chiều đến nhiều chiều, từ một mặt phẳng tới đa diện. Quá trình hiện đại hóa
của thể loại tiểu thuyết sẽ còn tiếp diễn trong văn học viết về chiến tranh của thế kỷ
143
XXI cùng với văn học viết về những đề tài khác.
KẾT LUẬN
1. Phản ánh hiện thực là một bản chất của văn chương, tuy vậy cách thức
nhận thức cũng như phản ánh hiện thực mỗi thời lại không giống nhau. Ở mỗi giai
đoạn, văn học viết về chiến tranh đều có những đặc thù riêng. Chịu ảnh hưởng của
lý tưởng thời đại cũng như của hệ tư tưởng cách mạng, văn học viết về chiến tranh
cách mạng trước thời kỳ đổi mới được bao trùm bởi phương pháp sáng tác hiện
thực xã hội chủ nghĩa, cho nên những tác phẩm văn chương 1945-1975 và những
năm đầu sau chiến tranh gắn liền với chính trị, phục vụ sự nghiệp cách mạng của
dân tộc. Cảm hứng sử thi lãng mạn đã khiến mảng văn học viết về chiến tranh
mang màu sắc đặc trưng rõ rệt. Sau năm 1986, cảm hứng sử thi đã trở nên mờ nhạt,
sự xáo trộn của xã hội thời hậu chiến dẫn đến những biến động của tư tưởng, nhận
thức và quan niệm thẩm mỹ, cùng với sự đổ bộ của các trào lưu hiện đại và hậu
hiện đại từ phương Tây đã khiến văn học nói chung và văn học viết về chiến tranh
nói riêng đi xa khỏi phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa một thời độc tôn để tiến
gần hơn với thế giới bên ngoài thông qua các cảm thức mới về cuộc sống và con
người.
2. Khảo sát trường hợp ba tác phẩm Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi
buồn chiến tranh, chúng tôi nhận thấy rằng, từ các góc tiếp cận hiện thực chiến
tranh đến thi pháp thể hiện hiện thực chiến tranh này đều tiêu biểu cho tiến trình
hiện đại hóa của văn học cũng như tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Dấu chân người lính và Đất trắng đều thuộc về hệ thống đại tự sự của thời
hiện đại, của thời đại chiến tranh cách mạng. Dù Đất trắng đa chiều hơn, phản ánh
nhiều mặt phức tạp hơn của hiện thực chiến tranh, nhưng nó vẫn thuộc về mô thức
tư duy của tiểu thuyết truyền thống, vẫn chưa bao giờ hồ nghi những định đề chung
đã được khẳng định. Nỗi buồn chiến tranh đã bước xa hẳn vào thời hậu chiến với
sự khủng hoảng niềm tin vào những chân lý tưởng chừng bất biến của một thời, đã
144
bắt đầu đặt ra những vấn đề gần với tinh thần của hậu hiện đại. Nỗi buồn chiến
tranh là sự nhìn nhận lại chiến tranh từ một tâm thế hoàn toàn khác, của một thời
đại khác, đã tách mình ra khỏi những ánh hào quang kéo dài của cuộc chiến nhiều
thập kỷ của một dân tộc để hướng về những vấn đề mang tính bản thể, vĩnh cửu
hơn của nhân loại, vấn đề về nhân tính, về số phận con người, về hạnh phúc và khổ
đau trên thế gian này.
Hiện thực chiến trận là góc tiếp cận hiện thực chiến tranh ngắn nhất. Dấu
chân người lính đã phản ánh một khung cảnh chiến trường hào hùng đầy khí thế
của cả dân tộc thời chống Mỹ với cảm hứng sử thi kết hợp cảm hứng lãng mạn
dưới sự chi phối của nguyên tắc và đặc trưng thẩm mỹ của văn học chiến tranh
cách mạng. Với Đất trắng, hiện thực chiến tranh bắt đầu được khai thác ở nhiều
chiều hơn, quyết liệt hơn, cả vinh quang và những góc khuất của cuộc chiến. Nỗi
buồn chiến tranh nhìn lại hiện thực chiến trận từ hậu chiến, thế nên chiến tranh
được chiêm nghiệm từ những đau thương mất mát của số phận cá nhân con người
đã mang màu sắc hoàn toàn khác, nó tàn khốc hủy diệt nhân tính.
Nhân vật người lính cũng là một góc tiếp cận chiến tranh cơ bản mà chúng
tôi khảo sát qua ba tiểu thuyết Dấu chân người lính, Đất trắng, Nỗi buồn chiến
tranh. Ở Dấu chân người lính, nhân vật người lính được xây dựng theo nguyên tắc
của tiểu thuyết sử thi, mẫu hình người anh hùng lý tưởng mà số phận cá nhân phụ
thuộc và bị chi phối bởi vận mệnh của cộng đồng được đề cao. So với Dấu chân
người lính, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh đã mở rộng góc nhìn khi khắc hoạ
chân dung người lính bên cạnh phẩm chất anh hùng lý tưởng có một phần đời sống
tự nhiên mang bản tính người. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đi xa hơn bằng
cách tái tạo bộ mặt chiến tranh qua số phận con người.
Tình yêu nam nữ là một góc tiếp cận chiến tranh đặc biệt của tiểu thuyết,
những câu chuyện tình yêu trong ba tác phẩm dù đậm nhạt, dài ngắn khác nhau đều
mang tính đặc thù của những năm tháng trong và sau cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Ở Dấu chân người lính, vận mệnh dân tộc đặt trên hạnh phúc cá nhân, những cung
bậc cảm xúc tình yêu đặt trong tương quan tác phẩm có phần mờ nhạt và bị lấn át.
145
Tình yêu trong Dấu chân người lính mang vẻ đẹp lý tưởng, cao cả giữa sự lấn át
của ý thức tập thể. Những mối tình trong Đất trắng cũng được mang màu sắc lý
tưởng dù đã bắt đầu nhuốm màu sắc hiện thực. Nỗi buồn chiến tranh là một nỗi đau
mang tên Thân phận của tình yêu, mà ở đó tác giả đem tình yêu đối lập với chiến
tranh.
Cùng với những chuyển đổi về phương diện tiếp cận và tái tạo hiện thực,
khám phá số phận cá nhân, lĩnh vực tình yêu trong Dấu chân người lính, Đất trắng
và Nỗi buồn chiến tranh đã có nhiều tìm tòi, đổi mới. Dễ nhận thấy là từ Dấu chân
người lính của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh đến Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, văn học chiến tranh của thời hiện đại đã đi từ
những vấn đề cộng đồng đến vấn đề của cá nhân. Điều đó cho thấy những nỗ lực
cách tân theo chiều hướng hiện đại hoá qua từng chặng đường của dòng tiểu thuyết
thể tài chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX.
3. Ở phương diện thi pháp thể hiện hiện thực chiến tranh, luận án khảo sát
các yếu tố nghệ thuật tổ chức kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, nghệ
thuật trần thuật để xem xét sự vận động của các yếu tố nghệ thuật tiểu thuyết tương
ứng với sự biến đổi của cách thức tiếp cận hiện thực chiến tranh. Dấu chân người
lính là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu cho lối kết cấu tiểu thuyết sử thi mang
âm hưởng ngợi ca. Trong khi đó, Nguyễn Trọng Oánh trong Đất trắng lại phản ánh
hiện thực cuộc chiến qua kiểu kết cấu tiểu thuyết phóng sự. Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh được coi như một dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển của kỹ
thuật dòng ý thức trong văn học Việt Nam, có thể gọi kết cấu của Nỗi buồn chiến
tranh là kết cấu dòng ý thức. Bằng cách thức đó, ông đã tái hiện được toàn vẹn “hai
nửa sự thật” của hiện thực chiến tranh và truyền đi những thông điệp đa chiều về
chiến tranh, những đau đớn, vụn vỡ, những hoang mang, mất hướng của con người
sau chiến tranh.
Dấu chân người lính mang phong cách sử thi, hướng đến những biến cố lịch
sử lớn lao của dân tộc nên không gian nghệ thuật của những tác phẩm đó chủ yếu là
không gian mang tính sử thi. Đất trắng là kiểu tiểu thuyết phóng sự, lấy chiến
146
trường làm trung tâm khai thác các sự kiện, nên không gian bao trùm tác phẩm là
không gian chiến trường dưới các góc nhìn cận cảnh. Với thể loại tiểu thuyết dòng
thời gian, với sự hướng đến một diễn ngôn đa thanh, với việc nhìn hiện thực chiến
tranh từ những chiều kích khác của một thời đại mới, không gian trong Nỗi buồn
chiến tranh đa chiều nhưng đều bị giới hạn trong tâm tưởng của nhân vật.
Trong Dấu chân người lính, thời gian hiện tại chi phối toàn bộ hệ thống tổ
chức thời gian nghệ thuật của tác phẩm. Cũng giống như Dấu chân người lính, thời
gian nghệ thuật trong Đất trắng vẫn chủ yếu là thời gian hiện tại, nhưng nó là một
thực tại được nhìn cận cảnh hơn, mang nhịp điệu căng thẳng, gấp gáp hơn của tiểu
thuyết phóng sự. Thời gian nghệ thuật trong Nỗi buồn chiến tranh là một dòng thời
gian hỗn độn không theo quy luật và trật tự của hiện tại và quá khứ, trong đó quá
khứ hoàn toàn chi phối hiện tại.
Trong Dấu chân người lính và Đất trắng, giống như kiểu tiểu thuyết truyền
thống, người viết đã chọn điểm nhìn ngôi thứ ba- điểm nhìn tác giả (điểm nhìn biết
tuốt" hay điểm nhìn “toàn tri”)- làm điểm nhìn chủ đạo để quan sát và trần thuật.
Nỗi buồn chiến tranh được xây dựng từ nhiều điểm nhìn trần thuật khác nhau. Sự
đa dạng về điểm nhìn trần thuật, người trần thuật cũng như mạch trần thuật đã tạo
nên tính đa thanh, đa âm cho Nỗi buồn chiến tranh, cho diễn ngôn về hiện thực
chiến tranh của thời Đổi mới.
Ở Dấu chân người lính, ở phương diện giọng điệu trần thuật, chất đơn thanh
của sử thi vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế, tính chất ngợi ca, khẳng định xung quanh
đại tự sự vẫn là xu thế chính của tác phẩm. Đất trắng không dùng giọng điệu trần
thuật ngợi ca hào hùng dễ nhận thấy như Dấu chân người lính mà trong cái đơn
thanh của Đất trắng đã thấp thoáng dấu hiệu của những màu sắc khác nhau. Nỗi
buồn chiến tranh là một bước tiến về phương diện nghệ thuật tự sự trên quá trình
hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam nói chung cũng như tiểu thuyết phản ánh
hiện thực chiến tranh nói riêng với giọng điệu đa thanh, đa tầng mang tính đối
thoại.
4. Từ Dấu chân người lính đến Đất trắng tới Nỗi buồn chiến tranh, văn học
147
viết về đề tài chiến tranh đã trải qua một chặng đường khá dài đi từ những vấn đề
mang tính cộng đồng đến số phận cá nhân của mỗi con người, từ những lý tưởng về
một thế giới toàn vẹn đến những hoài nghi trước một hiện thực ngổn ngang, từ
niềm tin vào một đại tự sự tuyệt đối đến ranh giới sự đổ vỡ của đại tự sự và dấu
hiệu khởi đầu của những tiểu tự sự của tương lai. Nhìn vào sự vận động từ tư tưởng
nội dung đến hình thức thể loại của các tác phẩm, có thể thấy, từ tâm thức hiện đại,
văn học Việt Nam đã đang chuyển mình về phía tâm thức hậu hiện đại. Đề tài chiến
tranh ở những năm đầu thế kỷ XXI không còn nóng hổi như trước nữa, nhưng vẫn
hứa hẹn những bước tiến theo xu hướng hiện đại hóa nói chung của nền văn học
148
Việt Nam.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyễn Anh Vũ (2015), Tiểu thuyết chiến tranh từ sau 1975 đến nay,
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 374, tr. 97- 100.
2. Nguyễn Anh Vũ (2015), Tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam
1945- 1975, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9, tr. 23- 32.
3. Nguyễn Anh Vũ (2015), Những góc nhìn về hiện thực chiến tranh trong
Dấu chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh, Tạp chí Văn hóa Nghệ
thuật, số 375, tr. 74- 78.
4. Nguyễn Anh Vũ (2015), Chân dung và số phận người lính qua một số
tác phẩm viết về chiến tranh, Tạp chí Lý luận Phê bình Văn học, nghệ thuật, số
149
37, tr. 52- 60.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tuấn Anh (1991), Tư duy nghiên cứu văn học hiện đại trước yêu cầu
đổi mới, Tạp chí Văn học (số 5).
2. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học vì sự phát triển, Tạp chí Văn học
(số 4).
3. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể
loại, Tạp chí Văn học (số 9).
4. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học Xã
hội.
5. Thái Phan Vàng Anh (2010), Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 2).
6. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca- Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Nxb
Văn học, Hà Nội.
7. Lại Nguyên n (1998), Sống với văn học cùng thời, Nxb Văn học, Hà
Nội.
8. Lại Nguyên n (Biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
9. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử,
Lại Nguyên n, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
10. M. Bakhtin (1992) - Lý luận và thi pháp tiểu thuyết - Trường viết văn
Nguyễn Du, Hà Nội,
11. M. Bakhtin (2006), Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng
tạo nghệ thuật ngôn từ (Phạm Vĩnh Cư dịch), Tạp chí Văn học nước ngoài (số 1).
12. Ban chấp hành trung ương Đảng (1975), Những bức thư của Ban chấp
hành trung ương Đảng gửi các Đại hội văn nghệ, Nxb Sự thật, Hà Nội.
13. S. Barnet, M. Berman, W. Burton (1992), Nhập môn văn học (Hoàng
150
Ngọc Hiến dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.
14. D. Brewster, J.A. Burrell (2006), Tiểu thuyết hiện đại (Dương Thanh
Bình dịch), Nxb Lao động, Hà Nội.
15. Lê Huy Bắc (1996), Đồng hiện trong văn xuôi, Tạp chí Văn học (số 6).
16. H. Bénac (2005), Dẫn giải ý tưởng văn chương (Nguyễn Thế Công
dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam
sau 1975, Luận án PTS Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
18. Nguyễn Thị Bình (2007), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – một cái nhìn
khái quát, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 2).
19. Vũ Cao (2004), Vài điều ghi về Nguyễn Minh Châu, Tuyển tập mười năm
Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
20. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa, Báo Văn nghệ, Số 49- 50, tr. 2- 15.
21. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
22. Nguyễn Minh Châu (2001), Toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội.
23. Trần Duy Châu (1994), Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh ?, Tạp chí
Cộng sản (số 10).
24. Nguyễn Văn Dân (2010), Sức sống dai dẳng của kỹ thuật “dòng chảy ý
thức”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8.(2010)
25. Trương Đăng Dung (Chủ biên, 1990), Các vấn đề của khoa học văn học,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
26. Trương Đăng Dung (1996), Tác phẩm văn học như là một quá trình, Tạp
chí Văn học (số 12).
27. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
28. Trương Đăng Dung (2001), Những đặc điểm của hệ thống lý luận văn
151
học macxit thể kỉ XX, Tạp chí Văn học (số 7).
29. Trương Đăng Dung (2005), Trên đường đến với tư duy lý luận văn học
hiện đại, Tạp chí Văn học nước ngoài (số 1).
30. Nguyễn Thị Xuân Dung (2010), Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về
chiến tranh từ 1986 đến 1996, http://evan.vnexpress.net.
31. Trung Dũng (1972), "Đọc Dấu chân người lính", Báo Nhân dân (số ra
ngày chủ nhật, 10/12).
32. Đinh Xuân Dũng (1990), Đổi mới văn xuôi chiến tranh, Báo Văn nghệ
(số 51).
33. Đinh Xuân Dũng (1995), Văn học Việt Nam về chiến tranh, hai giai đoạn
của sự phát triển, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 12, tr. 91- 95.
34. Đinh Xuân Dũng (1998), Nghĩ về sự biến đổi bên trong của tư duy sáng
tạo của nhà văn viết về chiến tranh, Văn hoá văn nghệ và đời sống quân đội, Nxb
Quân đội nhân dân, Hà Nội.
35. Đinh Xuân Dũng (2003), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
36. Đinh Xuân Dũng (2004), Văn học văn hóa tiếp nhận và suy nghĩ, Nxb
Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
37. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
38. Đặng Anh Đào (1991), Một hiện tượng mới trong hiện thực kể chuyện
hiện nay, Tạp chí Văn học (số 6).
39. Đặng Anh Đào (1993), Sự tự do của tiểu thuyết – Một khía cạnh của thi
pháp, Tạp chí Văn học (số 3).
40. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện
đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
41. Phan Cự Đệ (1973), Nguyễn Minh Châu một cây bút văn xuôi nhiều triển
vọng, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 1).
42. Phan Cự Đệ (1984), Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
152
cách mạng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 9, tr. 108- 103.
43. Phan Cự Đệ (1974- 1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb ĐH&
THCN, Hà Nội.
44. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
45. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội.
46. Nguyễn Đăng Điệp (2004), Kỹ thuật dòng ý thức trong “Nỗi buồn chiến
tranh” của Bảo Ninh, in trong sách Tự sự học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.
299- 408.
47. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (Tuyển chọn và biên soạn, 2010),
Thi pháp học ở Việt Nam , Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
48. Trần Độ (1987), Về một đặc điểm của văn học trong đại hội Đảng lần
VI, Tạp chí Văn học (số 1).
49. Anh Đức (2010), Hòn Đất, Nxb Văn học, Hà Nội.
50. Hà Minh Đức (1987), Thời gian và trang sách, Nxb Văn học, Hà Nội
51. Hà Minh Đức (2001), "Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu",
Tác phẩm văn học - Phân tích và bình giảng, Nxb Văn học, Hà Nội.
52. Nguyễn Tiến Đức (2009), Cái nhìn mới về người lính và sự thay đổi
quan niệm về đề tài của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Tạp chí Văn nghệ quân đội
(số 697).
53. Nguyễn Hương Giang (2001), Người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết
chiến tranh thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 4).
54. M. Gorky (1970), Bàn về văn học (Tập 1 – Nhiều người dịch), Nxb Văn
học, Hà Nội.
55. A.R. Griliet (2000), Vì một nền tiểu thuyết mới (Lê Phong Tuyết dịch),
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
56. N.A. Gulalev (1982), Lý luận văn học (Lê Ngọc Tân dịch), Nxb Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
153
57. K. Gunnars (2005), “Về những truyện ngắn”, http://Vnexpress.net.
58. Nguyễn Hải Hà (1992), Thi pháp tiểu thuyết L. Tônxtôi, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
59. Nam Hà (2002), Lại nói về chiến tranh và viết về chiến tranh, Tạp chí
Văn nghệ quân đội (số 564).
60. Lưu Thị Thu Hà (2009), Hiện tượng phân rã cốt truyện trong Phiên
chợ Giát và Thân phận tình yêu, http://evan.vnexpress.net.
61. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2004), Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
62. Hêghen (1999), Mỹ học - Tập 2 - Nxb Văn học, Hà Nội.
63. Phạm Ngọc Hiền (2007), Chất sử thi và chất tiểu thuyết trong Dấu chân
người lính của Nguyễn Minh Châu, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 2).
64. Hoàng Ngọc Hiến (1990), Thời kỳ văn học vừa qua và xu thế phát triển,
Chuyên san báo Văn nghệ, tháng 4, tr. 9- 15.
64. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Bộ Văn hóa –
Thông tin và thể thao - Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.
66. Đào Duy Hiệp (2007), Thời gian trong Thân phận tình yêu của Bảo
Ninh, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 8).
67. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
68. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
69. Phạm Thị Hoài (1990), Trích Hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay,
Báo Văn nghệ (số 9).
70. Nguyễn Trọng Hoàn (Tuyển chọn và giới thiệu, 2004), Nguyễn Minh
Châu – Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
71. Nguyễn Trí Huân (2003), Chim én bay, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
72. Trần Quốc Huấn (1991), Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Tạp chí
Văn học (số 3).
73. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Chiến tranh đi qua, tình người ở lại, Tạp
154
chí Văn nghệ quân đội (số 12).
74. Đinh Thị Huyền (2008), Nhân vật của tiểu thuyết hậu chiến, Tạp chí
Nghiên cứu Văn học (số 10).
75. Mai Hương (2006), Đổi mới văn học và đóng góp của một số cây bút văn
xuôi, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 11).
76. Dương Hướng (2000), Bến không chồng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
77. Tố Hữu (1973), Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân
ta, với thời đại ta, Nxb Văn học, Hà Nội.
78. Tố Hữu (1982), Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, Nxb
Sự thật, Hà Nội.
79. Đỗ Văn Khang (1991), Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận tình yêu,
Báo Văn nghệ (số 43).
80. M.B. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
văn học (Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
81. M.B. Khrapchenco (2002), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận
nghiên cứu văn học (Nhiều người dịch, Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
82. Phùng Ngọc Kiếm (2000), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945
– 1975 (Bộ phận văn học cách mạng), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
83. M. Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Đà
Nẵng.
84. M. Kundera (2005), Sứ mệnh của tiểu thuyết (Ngân Xuyên dịch),
http://www.vietnam.net.
85. Chu Lai, (1995) Nhân vật người lính trong văn học, Tạp chí Văn nghệ
quân đội (số 6).
86. Chu Lai (2002), Sử thi và hoành tráng – Câu trả lời cho một đời, Tạp
chí Văn nghệ quân đội (số 564).
87. Chu Lai (2003), Ăn mày dĩ vãng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
155
88. Chu Lai (2003), Vòng tròn bội bạc, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
89. Chu Lai (2004), Viết về chiến tranh đôi điều suy ngẫm, Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, số 8, tr. 102- 104.
90. Cao Kim Lan (2015), Tác giả hàm ẩn trong tu từ học tiểu thuyết, Nxb
Văn học, Hà Nội.
91. Tôn Phương Lan, Lại Nguyên n (Biên soạn, 1991), Nguyễn Minh Châu
– Con người và tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
92. Tôn Phương Lan (1994), Chiến tranh qua những tác phẩm được giải,
Tạp chí Văn học (số 12).
93. Tôn Phương Lan (1995), Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh
của những nhà văn cầm súng, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 4).
94. Tôn Phương Lan (1999), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
95. Tôn Phương Lan (2005), Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh – Người đi từ
chiến tranh, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 2).
96. Tôn Phương Lan (2010), Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến
tranh, http://www.vienvanhoc.org.vn.
97. Phạm Gia Lâm (1995), Tiểu thuyết chiến tranh Nga- Xô Viết hiện đại:
Những vấn đề thi pháp của thể loại, Tạp chí Văn học (số 11), tr.37.
98. Nguyễn Văn Linh (1987), Nói chuyện với văn nghệ sĩ, Báo Văn nghệ, (số
11), tr.2- 7.
99. Phong Lê (1980), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội
chủ nghĩa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
100. Phong Lê (1993), Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà
Nội.
101. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình thế kỷ XX, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
102. Phong Lê (2005), Về văn học Việt Nam hiện đại – Nghĩ tiếp…, Nxb Đại
156
học Quốc gia Hà Nội.
103. Phong Lê (2009), Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ
XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
104. Phong Lê (2010), Tiểu thuyết viết về chiến tranh nhìn từ hôm nay, Tạp
chí Văn nghệ Quân đội, Xuân Canh Dần, tr. 48.
105. Nguyễn Trường Lịch (2006), Đôi điều về tiểu thuyết trong bối cảnh
giao lưu văn hoá, http:// www.vienvanhoc.org.vn.
106. Nguyễn Văn Long (1981), Cuộc chiến tranh chống Mĩ và những trang
văn xuôi hôm nay, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 7).
107. Nguyễn Văn Long (1985), Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến
chống Mỹ, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 4), tr.116- 122
108. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
109. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (Đồng chủ biên, 2006), Văn học Việt
Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
110. Lê Lựu (2000), Thời xa vắng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
111. Nguyễn Văn Lưu (1992), Văn học cách mạng và cách mạng văn học,
Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (số 8).
112. Phương Lựu (1989), Đổi mới từ những bài học cách mạng, Báo Văn
nghệ (số 09), tr.6.
113. Phương Lựu (1995), Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại,
Nxb Văn học, Hà Nội.
114. Phương Lựu (Chủ biên, 2002), Lý luận văn học (Tái bản lần thứ 2),
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
115. J.- F. Lyotard (2008), Hoàn cảnh hậu hiện đại, (Ngân Xuyên dịch),
Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 55.
116. Huỳnh Lý (2009), Sự phát triển văn học từ Cách mạng tháng Tám đến
nay, Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Quyển 5 - Tập IX, Nguyễn Ngọc Thiện chủ
157
biên), Nxb Văn học, Hà Nội.
117. C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin (1977), Về văn học và nghệ thuật,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
118. Nguyễn Đăng Mạnh (1998), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
119. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
120. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn Việt Nam hiện đại – Chân dung
và phong cách, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
121. Thiếu Mai (1983), “Từ Dấu chân người lính đến Những người đi từ
trong rừng ra", Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 4).
122. Hữu Mai (1983), Viết về đề tài chiến tranh giải phóng, Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, (số 8), tr.113- 118.
123.Hữu Mai (1984), Chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và trách
nhiệm của chúng ta, Báo Văn nghệ, (số 52), tr.3.
124. Hữu Mai (1985), 40 năm văn học viết về đề tài chiến tranh, thành tựu
và trách nhiệm, Nxb Văn học, Hà Nội.
125. Sương Nguyệt Minh (2004), Văn xuôi viết về người lính - Một thách đố
nhà văn, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 610).
126. Nguyên Ngọc (1983), Đôi nét về tình hình văn học và công việc của
những người cầm bút Việt Nam trong thời gian qua, Báo Văn nghệ (số 13), tr.8.
127. Nguyên Ngọc (1990), Mạnh bạo bước qua cái xấu để hướng tới cái
thiện, cái đẹp, Báo Lao động chủ nhật (số 08).
128. Nguyên Ngọc (1991), Văn xuôi sau 1975 - thử thăm dò đôi nét về quy
luật phát triển, Tạp chí Văn học (số 4).
129. Nguyên Ngọc (2000), Đất nước đứng lên, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
130. Phan Ngọc (2000), Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb
Thanh niên, Hà Nội.
131. Phạm Xuân Nguyên (2010), Người Mĩ nghĩ gì về Nỗi buồn chiến
158
tranh, http://www.e-thuvien.com.
132. Vương Trí Nhàn (Sưu tầm và biên soạn, 1996), Khảo về tiểu thuyết,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
133. Vương Trí Nhàn (2009), Phê bình và tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội.
134. Trần Thị Mai Nhân (2007), Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt
Nam giai đoạn 1986 – 2000, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 7).
135. Trần Thị Mai Nhi (1994), Văn học hiện đại, văn học Việt Nam giao lưu
gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội.
136. Nhiều tác giả (1972), Về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
137. Nhiều tác giả (1990), Hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay, Báo Văn
nghệ (số 14- 15).
138. Nhiều tác giả (1991), Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu,
Báo Văn nghệ (số 37).
139. Nhiều tác giả (1995), Nguyễn Minh Châu – Kỷ yếu 5 năm ngày mất,
Hội Nhà văn Nghệ An xuất bản, Nghệ An.
140. Nhiều tác giả (1996), 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng
8, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
141. Nhiều tác giả (1996), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà
Nội.
142. Nhiều tác giả (1997), Kỷ yếu hội thảo Việt Nam - Nửa thế kỷ văn học:
1945 – 1995 (26/9/1995), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
143. Nhiều tác giả (1998), Hội thảo về tiểu thuyết, Báo Văn nghệ (số 3).
144. Nhiều tác giả (2001), Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn
ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
145. Nhiều tác giả (2002), Đổi mới tư duy tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà
Nội.
146. Nhiều tác giả (2003), Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội.
159
147. Bảo Ninh (2009), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Văn học, Hà Nội.
148. Bảo Ninh (1991), Bài ca người lính sau chiến tranh, Báo Văn nghệ (số
28).
149. Mai Hải Oanh (2007), Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trong tiểu thuyết
Việt Nam thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn học (số 10).
150. Nguyễn Trọng Oánh (1980), Từ tấm lòng người viết, Tạp chí Văn nghệ
quân đội (số 6).
151. Nguyễn Trọng Oánh (2007), Đất trắng (Tập 1), Nxb Văn học, Hà Nội.
152. Nguyễn Trọng Oánh (2007), Đất trắng (Tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội.
153. Ngô Văn Phú (2004), Nguyễn Trọng Oánh một con người trầm lặng,
Báo Văn nghệ, (số 47), tr.19.
154. Hồ Phương (1991), Những tìm tòi không mệt mỏi, Tạp chí Văn nghệ
quân đội (số 9).
155. Hồ Phương (2001), Có gì mới trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
hôm nay, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 4).
156. Hồ Phương (2002), Tản mạn về tiểu thuyết sử thi, Tạp chí Văn nghệ
quân đội (số 564).
157. G.N. Poxpelov (Chủ biên, 1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, (Trần
Đình Sử, Lại Nguyên n, Lê Ngọc Trà dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
158. Trần Huyền Sâm (2000), Bảo Ninh và nỗi ám ảnh về chiến tranh, http://
www.tapchisonghuong.com.vn.
159. Nguyễn Thanh Sơn (2000), Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu?, Phê bình
văn học, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
160. Trần Đăng Suyền (2004), Nhà văn, hiện thực đời sống và cá tính sáng
tạo, Nxb Văn học, Hà Nội.
161. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (1987), Lý luận văn
học (Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
162. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
160
163. Trần Đình Sử (2001), Văn học và thời gian, Nxb Văn học, Hà Nội.
164. Trần Đình Sử (Chủ biên, 2007), Tự sự học, một số vấn đề lý luận và
lịch sử, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
165. Trần Duy Thanh (1985), Đọc tiểu thuyết Đất trắng, Tạp chí Văn nghệ
Quân đội, (số 4), tr.129- 131.
166. Phạm Xuân Thạch (2004), "Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh
thời hậu chiến từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới thi pháp",
http://thachpx.googlepages.com.
167. Phạm Xuân Thạch (2014), Sự khởi sinh của tính hiện đại- trần thuật
Việt Nam trong ba thập niên đầu thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
168. Bùi Việt Thắng (1991), Văn xuôi gần đây và quan niệm con người, Tạp
chí Văn học (số 6).
169. Bùi Việt Thắng (Biên soạn, 2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb Văn hoá
Thông tin, Hà Nội.
170. Bùi Việt Thắng (2005), Tiểu thuyết đương đại, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội.
171. Nguyễn Đình Thi (1969), Công việc của người viết tiểu thuyết, Nxb
Văn học, Hà Nội.
172. Nguyễn Đình Thi (1997), Xung kích, Nxb Văn học, Hà Nội
173. Đoàn Cầm Thi (1994), Về nhân vật Phương, người phụ nữ Hà Nội và
chủ đề văn học trong Nỗi buồn chiến tranh, http://evan.vnexpress.net.
174. Đoàn Cầm Thi (2004), "Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn
chương Việt Nam", http://www.talawas.org.
175. Nguyễn Ngọc Thiện (1990), Tiểu thuyết hướng nội trong văn xuôi Việt
Nam hiện đại, Tạp chí Văn học (số 6).
176. Xuân Thiều (1998), Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách
mạng, Báo Văn nghệ (số 3).
177. Bích Thu (1995), Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975
161
qua hệ thống mô típ chủ đề, Tạp chí Văn học (số 11).
178. Bích Thu (2006), Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi
mới, tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 11).
179. Lý Hoài Thu (2006), Đồng cảm và sáng tạo, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.
262.
180. Đỗ Lai Thúy (2002), Nghệ thuật như là thủ pháp (Lý thuyết văn chương
của Chủ nghĩa hình thức Nga), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
181. Đỗ Lai Thúy (2004), Sự đỏng đảnh của phương pháp (giới thiệu 15 lý
thuyết và phương pháp nghiên cứu văn hóa, văn học của thế giới trong thế kỷ XIX,
XX), Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội.
182. Đỗ Lai Thúy (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn
hóa- Thông tin, Hà Nội.
183. Đỗ Lai Thúy (2010), Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng
phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
184. Khuất Quang Thuỵ (2004), Không phải là vấn đề đề tài, Tạp chí Văn
nghệ quân đội (số 10).
185. Phan Trọng Thưởng (1991), Đặc điểm cơ bản của sự phát triển văn học
trong điều kiện chiến tranh 1945- 1975, Tạp chí Văn học (số 1).
186. Phan Trọng Thưởng (2005), Văn học Việt Nam 60 năm nhìn lại (1945-
2005), Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 9), tr. 3- 12
187. Phan Trọng Thưởng (2013), Thẩm định các giá trị văn học, Nxb văn
học, Hà Nội.
188. Nguyễn Đình Tiến (1976), Viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh,
Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 9.
189. Tz. Todorov (2004), Thi pháp văn xuôi (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm
dịch), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
190. Lê Ngọc Trà (2002), Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới, Tạp
chí Văn học (số 2).
191. Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hưng (Sưu tầm và biên soạn, 1997), Văn
162
học 1975 – 1985 - Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
192. Đức Trung (1991), Chiến tranh nào? Nỗi buồn nào ?, Báo Văn nghệ
(số 43).
193. Hà Xuân Trường (1977), Đường lối văn nghệ Đảng: vũ khí, trí tuệ, ánh
sáng, (in lần thứ 2) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
194. Nguyễn Thanh Tú (2007), Một hình dung về quá trình phát triển của
tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ 1945 đến nay, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 669).
195. Phùng Văn Tửu (2002), Tiểu thuyết Pháp hiện đại – Những tìm tòi đổi
mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
196. Nguyễn Thiệu Vũ (2004), Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng
và lực lượng vũ trang sau 1975- những thành tựu nghệ thuật còn bỏ lỡ, Tạp chí
163
Văn nghệ quân đội (số 604).

