
Hoài giang Nguyên
Quân
Hùng cúi khom lưng tr
ầ
n che ch
ắ
n t
ừ
ng ng
ọ
n gió, c
ố
nhen
nhúm cái bếp dã chiến. Ngọn lửa mong manh cứ nháng lên rồi
tắt ngúm. “Gió lớn quá” tôi lẩm bẩm và dịch người tránh luồng
khói cay xé mắt cứ chực tạt vào mặt.
- Anh thấy chưa, rồi nó cũng phải chịu thua mình thôi.
Hùng hả hê nói khi ngọn lửa dần bốc cao và những ngọn gió
bây giờ lại trở thành tác nhân giúp lửa cháy to hơn.
- Ông nầy kiên nhẫn thật, gặp tôi thì thà ăn sống chú vịt còn hơn phải xì xụp
lạy lục ông táo như thế.
Dụi đôi mắt ngộp khói tôi trả lời rất vô duyên. Hà - tay trạm trưởng y tế xã -
một ông bạn tôi mới làm quen được trong chuyến rong chơi đầy ngẫu hứng
này, vỗ nhẹ vai tôi cười:
- Chẳng kiên trì thế làm sao nó có được cô vợ đảm đang xinh đẹp như bây giờ
phải không Hoài Giang?
Câu nói của Hà khiến những người đang ngồi quanh bếp lửa phá lên cười tán
thưởng. Hùng lúng túng cúi gầm mặt, đôi tay ngượng nghịu chẳng biết giấu
vào đâu nên cứ day qua trở về cái soong nước mới bắc lên mấy viên gạch kê
tạm làm bếp.
Tiếng cười quá lớn đủ để đánh thức bầy vịt ngủ trong chuồng, chúng đồng
thanh kêu toáng loạn. Hoài Giang đang giúp chồng nhóm lửa, vội vã đứng dậy
bước nhanh về phía cái chuồng che chắn hơi sơ sài bằng lá dừa nướ
c. Tôi nhìn
theo cái dáng thon gầy với mái tóc xõa dài đột hiện giữa nền trời sáng loáng
vầng trăng hạ tuần mới nhú. “Đẹp tuyệt”, tôi buột miệng khen. Từ tuyệt đẹp
vừa thốt lên tôi chỉ có ý tán tụng khoảnh khắc thơ mộng bất chợt bắt gặp. Có
lẽ mới quen nên Hà chưa hiểu hết ý tôi, anh ta vội tán theo:
- Chưa đẹp bằng chuyện tình và thân thế của nàng đâu. Hấp dẫn ly kỳ hơn tiểu
thuyết phải thế không chú Hùng?
Hùng gật đầu và ném thêm vào bếp những nhánh lá khô. Tôi hơi bị bất ngờ

trư
ớ
c thái đ
ộ
m
ặ
c nhiên công nh
ậ
n c
ủ
a Hùng, nó b
ắ
t tôi ph
ả
i n
ổ
i tính
hi
ế
u k
ỳ
tra gạn Hùng về cái gật đầu xác nhận đầy kiêu hãnh ấy...
Hà ví von thật đúng, cái khoảng khắc tôi cho là tuyệt đẹp vừa bắt gặp chẳng
nghĩa lý gì so với câu chuyện Hà kể về thân thế Hoài Giang, về Hùng và mối
tình của đôi vợ chồng chủ nhân cái cồn cát mà chúng tôi ngẫu nhiên ghé lại
trong chuyến thả thuyền rong chơi dọc sông Hoài. Thật sự cái tên Hoài Giang
là tôi mượn tên để gọi người đàn bà trẻ có dáng dấp thon gầy mảnh mai và bờ
tóc mềm mại xõa dài như dòng sông hiện hữu trước mặt.
Chị Hảo nén tiếng nấc trong lồng ngực để đẩy mạnh, chiếc thuyền thúng
chòng chành theo từng vòng sóng nước, con bé mấy tháng tuổi no căng sữa
mẹ được gia thêm vài giọt thuốc ngủ nên vẫn say sưa giấc. Chiếc thuyền
thúng nhỏ xíu dật dờ trôi giữa dòng sông mù mờ ánh trăng hạ tuần. Chị Hảo
thầm đọc những lời cầu nguyện rồi xốc lại cây súng, quay lưng bước nhanh về
phía cánh đồng tranh lách um tùm trải dài đến tận rừng già. Chị không đủ can
đảm để nán lại, nhìn theo đứa con rứt ruột sinh thành mà giờ đây số phận nó
lại phải gởi gắm vào sự định đoạt của dòng sông. Nhưng chị có một linh giác
rằng con nước hiền hoà thân thuộc gắn bó suốt cả một thời thơ ấu của chị sẽ
cưu mang, bảo vệ đứa con gái của chị trong hành trình xuôi dòng qua cái thị
trấn, qua gầm cầu ken đầy lính gác để đến được bến bờ bình yên, một làng
chài ở hạ lưu con sông.
Vợ chồng chị đều ở trong đội du kích hoạt động bí mật giữa vùng địch chiếm,
một đội viên bị lộ và bị bắt đã không giữ vững tinh thần trước những đòn tra
tấn nên đã cung khai. Sự phản bội của y làm đa số du kích trong làng bị lùng
sục bắt bớ, theo chỉ thị của Huyện đội, vợ chồng chị phải rút lên cứ ở thượng
nguồn sông, đúng thời điểm chị đang mang thai. Hai tháng sau đứa bé chào
đời. Chiến tranh đang ở thời kỳ bộc phát dữ dội, quân đội Sài Gòn liên tiếp
mở nhiều cuộc hành quân cấp sư đoàn, quyết tâm san bằng cứ địa của quân du
kích. Đứa bé mới sinh trở thành gánh nặng cho vợ chồng chị, cho đồng đội
trong những trận chống càn, những trận oanh kích mang tính huỷ diệ
t. Cái khó
là làm sao đưa được đứa bé an toàn vượt qua vùng chiến tuyến đầy lửa đạn,
đầy những đồn bót chốt trạm của nhiều đơn vị lính Sài Gòn tăng cường, ngăn

ch
ặ
n các ng
ả
đư
ờ
ng ti
ế
p t
ế
c
ủ
a dân lên chi
ế
n khu.
Cùng tất biến, chị Hảo chợt nghĩ tới dòng sông. Dưới hạ nguồn, cách nơi chị
đang chiến đấu chỉ một đêm nước ròng, có biết bao dân làng, biết bao bà con
nội ngoại thân yêu của anh chị sẵn sàng nuôi nấng, chở che cho con chị. Qua
một đường dây chưa bị lộ, chị liên lạc được với hội phụ nữ kháng chiến còn
hoạt động trong làng để bố trí ngày giờ đón cháu bé. Vợ chồng chị tranh thủ
từng giây từng phút tạm yên sau những đợt đánh phá để chặt tre, đan thuyền.
Anh chị em ở huyện đội cũng chia phiên đi thu gom từng lớp nhựa ứa ra trên
những thân cây chò cổ thụ bị miếng bom mảnh đạn băm vằm. Mỗi ngày, hình
như chị mỗi có cảm giác yên tâm với quyết định của mình. Đứa con gái bé
bỏng của vợ chồng chị sẽ được bình an xuôi dòng trong chiếc thuyền thúng
tuy thô kệch bé nhỏ nhưng rất vững chãi bởi niềm tin và nghĩa tình...
“Cũng một đêm có trăng như thế nầy…” Người du kích nhỏ tuổi nhất của
huyện đội năm ấy sửa lại thế cho chiếc chân gỗ, thở dài rồi dốc cạn ly rượu,
nghếch mặt ra phía dòng sông đang giăng kín những ngọn đèn của người đi
dũi tôm, lưới cá, nghề sinh sống của đa số cư dân vùng cửa biển. Tôi hiểu Hà
muốn nói vào một đêm trăng xa xăm thời chiến tranh, chính những ngọn đèn
dầu tù mù, chập chờn theo triều sương, sóng nước ấy đã vớt được đứa bé chưa
tròn một năm tuổi, một bé gái mềm mại, duyên dáng nhuần thấm đạo lý bồi,
lở và nhân hậu trong xanh của một dòng sông. Như sự tính toán tỉ mỉ và
những lời cầu nguyện đầy nước mắt của người mẹ...
Hoài Giang trấn áp xong hàng trăm chú vịt đã lên tiếng phản đối bọn người
vãng lai không dưng phá vỡ giấc ngủ của chúng bằng tiếng cụng chén côm
cốp, bằng tiếng cười ngợp ngụa hơi men.
- Ngày mai mà thất thu trứng là em bắt đền mấy anh đó.
Hoài Giang vừa cười vừa nói khi bỏ thêm vào nồi nước sôi sùng sục mấy quả
trứng vịt nhặt được trong chuồng, nụ cười của người thiếu phụ mà tôi đoán
chừng chỉ nhỉnh hơn tuổi hai mươi lăm một chút, thật hiền và quyến rũ, Hùng
cũng trạc bằng tuổi ấy, chẳng hiểu bản lĩnh nào giúp hai vợ chồng còn rất trẻ
có thể chịu đựng được cuộc sống gần như biệt lập, tẻ nhạt trên cái đảo cát
không tên gọi, không mấy khi có bóng người. Gọi là đảo chứ thực chất nó chỉ

là m
ộ
t cái bãi b
ồ
i khá l
ớ
n n
ằ
m gi
ữ
a hai nhánh sông ch
ạ
y dài ra phía bi
ể
n và
chỉ độc một loài cây dừa nước tồn tại được. Chúng mọc từng đôi một, như
muốn nương tựa nhau để chống đỡ những phong ba bão táp của đạ
i dương. Cơ
ngơi của vợ chồng Hùng là căn chòi, khu chuồng trại từ mái lợp đến phên
vách đều làm bằng những tàu lá dừa nhưng trông rất ấm áp vững chắc.
Đêm đã vào sâu, ngoài dòng sông vắng dần những đốm lửa chài, con trăng
mười tám muộn màng chếch ngã hẳn về phía nguồn núi bỏ lại chút ánh sáng
mông mênh kỳ ảo phản quang từ cát, từ ngàn vạn ngọn sóng lăn tăn tìm đườ
ng
về biển cả. Cái đẹp nguyên sơ hoang vắng thêm chút ngây ngây của men rượu
như cũng khiến con người cởi mở cõi lòng hơn, giọng Hùng buồn buồn: “Bố
em mắc nợ dân làng nhiều lắm anh ạ, không nhà nào không có người hy sinh,
vùng đất này là vùng cách mạng truyền thống mà anh...”
Qua những lời tâm sự nồng hơi men của Hùng tôi mới biết bố Hùng là một sĩ
quan cấp tá chế độ cũ. Chính ông ta hồi ấy trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn địa
phương quân càn quét du kích ngay trên quê hương bản quán của mình. Sau
ngày đất nước hoàn toàn giải phóng ông đi học cải tạo, ngôi nhà hai tầng nằm
giữa trung tâm thị xã và của cải đều bị tịch biên, cả gia đình Hùng bị đuổi ra
khỏi nhà chỉ với mỗi người một xách tay quần áo. Túng quẫn, hết đường nên
bồng bế nhau tìm đường về quê. Phải vất vả làm lụng kiếm miếng cơm manh
áo giữa thái độ ghẻ lạnh mà đa phần dân làng và chính quyền đị
a phương dành
cho gia đình kẻ “nợ máu nhân dân” là áp lực khủng khiếp nhất trút xuống đầu
thằng con trai mới chỉ hơn mười tuổi. Thời gian mấy năm đầu mới trở về
làng,
Hùng còn nhỏ nên sự kỳ thị ấy chẳng ảnh hưởng nhiều tới tâm tính. Nó chỉ
ngạc nhiên vì lũ trẻ con trong làng cứ tìm cách gây gổ hay xa lánh anh em nhà
nó. Càng nhẫn nhịn càng bị chúng lấn áp bắt nạt, sau quá nhiều trận đòn vô cớ
nên bất chấp lời mẹ răn đe, căn dặn, Hùng đánh lại bọn chúng, bao nhiêu uất
khí dồn nén lâu ngày bỗng chốc trở thành liều lĩnh hung hãn làm bọn trẻ khiếp
sợ...
Hùng ngừng kể, cúi sát xuống bếp lửa châm thuốc, khuôn mặt nhíu lại theo
từng bụm khói đặc quánh... Tuổi hoa niên của Hùng rất khổ nhọc, Hùng mỗi
ngày mỗi trưởng thành trong gánh nặng vật chất cũng như tinh thần, phầ
n giúp
mẹ lo miếng ăn, tấm áo cho bốn đứa em còn quá bé, phần lo bới xách cho bố

còn n
ằ
m vô th
ờ
i h
ạ
n trong tr
ạ
i c
ả
i t
ạ
o. C
ứ
sau m
ộ
t l
ầ
n cùng m
ẹ
đi thăm b
ố
v
ề
,
Hùng lại càng thấm thía hơn tính cách trầm lặng, tủi nhục của ông và những
giọt nước mắt chua xót của mẹ… Tôi không ngạc nhiên khi biết trước đây
Hùng nổi tiếng là côn đồ với hàng chục tờ kiểm điểm còn chất chồng trong uỷ
ban xã. Bị cô lập bởi những định kiến, nỗi đau xót, khổ sở mà với suy nghĩ
của một đứa trẻ rất dễ nảy sinh sự phá phách hung tợn bắt người khác phải nể
sợ mình thì dù sao cũng đỡ hơn phải nhẫn nhịn cúi gầm mặt mỗi khi ra đường
như người lớn… Vuốt nhẹ mái tóc dài mượt mà của vợ đang tựa trên vai,
giọng nói của Hùng dịu xuống trìu mến: “Nói thật với anh, hồi đó chỉ có Hoài
Giang chịu kết bạn với em, cũng may nhờ có cô ấy giáo dục em mới vượt qua
được mọi mặc cảm rồi hoàn lương để có ngày hôm nay...”
Nhưng chưa hẳn mọi việc được kết thúc ngang đó. Khi Hùng chịu nghe lời
khuyên nhủ của Hoài Giang, cải sửa tính tình để làm lại cuộc đời, thì cái rối
rắm nhất, khó khăn nhất lại ập xuống, đó là chuyện tình cảm. Lúc Hoài Giang
nhận ra trong nhiều năm giúp đỡ, động viên những thanh niên chậm tiến,
trong tim cô bí thư chi đoàn thôn bỗng nảy nở một thứ tình cảm đặc biệt với
gã con trai lỳ lợm ngang bướng và có cái lý lịch đen nhất.
Hoài Giang rất khổ tâm khi biết mình đã yêu Hùng, vì cô biết bố mình chẳng
bao giờ nguôi quên được cái chết của mẹ trong một trận đánh do bố Hùng chỉ
huy đơn vị địch. Ông vẫn thường quy kết bố Hùng là thủ phạm đã bắn băng
đạn tiểu liên xé nát vùng ngực người vợ thân yêu của mình, nên luôn trút hết
nỗi căm thù ấy lên đứa con của “thằng sát nhân, bán nước...” Đó là những lời
gầm gừ mắng nhiếc mỗi lần ông thấy Hùng, và cũng rất nhiều lần ông la mắ
ng
Hoài Giang khi cô ra sức bảo vệ gia đình Hùng bởi những đối đãi thiếu công
bằng của chính quyền thôn, như chính sách vay vốn, trợ cấp gia đình nghèo...
Nhưng rồi thời gian cùng những lời nói dịu dàng uyển chuyển như dòng sông
của đứa con gái ngày càng bào mòn thái độ thù ghét, hằn học của ông bố. Ông
không còn chửi mắng hay nhìn Hùng bằng ánh mắt toé lửa.
Oái oăm thay lúc bố Hoài Giang bắt đầu thay đổi quan niệm hận thù thì bố
Hùng lại trở về làng sau hơn mười năm gánh trả nợ nần đã gieo. Bố Hùng tuy
không nói ra, nhưng sự khép kín, lạnh lùng với cuộc sống là hệ quả tất yếu củ
a
mười năm dài bị cầm cố, lao khổ bằng thứ tội danh bán nước nên luôn bị chà

