
Hoàn thiện việc trình bày một số khoản mục tài
sản trên bản cân đối kế toán của doanh nghiệp
Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp vẫn còn lúng túng
trong việc phân loại và trình bày một số khoản mục tài sản thành
ngắn hạn và dài hạn trên bảng cân đối kế toán do một số noịo
dung quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành chưa
hợp lý.
1/ Các khoản chi phí trả trước:
Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính quy định
chi phí trả trước được hạch toán và theo dõi trên tài khoản 142 –
“Chi phí trả trước ngắn hạn”, tài khoản 242 – “Chi phí trả trước
dài hạn” với các quy định cụ thể như sau:
Tài khoản 142 chỉ phản ánh những khoản chi phí trả trước ngắn
hạn phát sinh có giá trị lớn liên quan đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán trong một năm tài chính hoặc
một chu kỳ kinh doanh không thể tính hết cho kỳ phát sinh chi
phí. Số dư cuối kỳ của tài khoản này được điền vào chỉ tiêu “Chi
phí trả trước ngắn hạn” trên bảng cân đối kế toán.
Tài khoản 242 chỉ phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD trên một số
năm tài chính. Số dư cuối kỳ của tài khoản này được điền vào
chỉ tiêu “Chi phí trả trước dài hạn” trên bảng cân đối kế toán.
Do đó, nếu căn cứ theo quy định của chế độ kế toán hiện hành
thì tài khoản 142- “Chi phí trả trước ngắn hạn” cuối năm số dư

sẽ bằng không nghĩa là trên bảng cân đối kế toán năm của doanh
nghiệp chỉ tiêu “chi phí trả trước ngắn hạn” sẽ không có số liệu.
Trong khi đó, đoạn 40 VÁ 21 quy định một tài sản được xếp vào
loại tài sản ngắn hạn khi tài sản này:
- Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ
kinh doanh bình thường của doanh nghiệp;
- Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho
mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong
vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ;
- Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không
gặp một hạn chế nào
Như vậy, đã có sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán bởi lẽ nếu xét theo đoạn 49 của VAS 21 thì trên thực tế
vào điểm cuối năm tài chính doanh nghiệp vẫn có thể có các
khoản chi phí trả trước ngắn hạn. Chẳng hạn, ngày 1/7/08 doanh
nghiệp trả trước 90 triệu tiền thuê nhà trong 9 tháng. Nếu căn cứ
chế độ kế toán thì khoản chi phí trả trước này liên quan đến hai
niên độ kế toán nên sẽ được hạch toán vào tài khoản 242. Vào
ngày 31/12/08, sau khi phẩn bổ vào chi phí của năm 2008 thì tài
khoản 242 có số dư là 30 triệu sẽ được trình bày trên bảng cân
đối kế toán ở chỉ tiêu “Chi phí trả trước dài hạn”. Trong khi đó,
nếu theo đoạn 40 của VAS 21 thì số tiền 30 triệu chưa phân bổ
trên đây được phân loại là tài sản ngắn hạn vì doanh nghiệp sẽ
dự kiến thu hồi trong vòng 3 tháng kể từ ngày 31/12/08
Trên thực tế có thể thấy việc phân loại các khoản chi phí trả
trước thành ngắn hạn và dài hạn chỉ cần thiết khi lập báo cáo tài
chính tức là ở thời điểm cuối kỳ kế toán, còn khi nghiệp vụ kinh

tế phát sinh thì không cần thiết phải phân chia các tài sản này
thành ngắn hạn và dài bạn bởi vì ở những thời điểm khác nhau
các khoản chi phí trả trước dài hạn có thể chuyển thành ngắn
hạn. Do đó, để đơn giản công tác kế toán và đảm bảo tuân thủ
chuẩn mực kế toán khi lập và trình bày báo cáo tài chính, chế độ
kế toán không cần thiết phải mở riêng hai toàn khoản 142 và 242
mà chỉ cần sử dụng một tài khoản 142 để theo dõi tất cả các
khoản chi phí trả trước của doanh nghiệp với tên gọi là chi phí
trả trước. Vào thời điểm lập báo cáo tài chính, căn cứ sổ chi tiết
tài khoản 142 và quy định của đoạn 49 VAS 21, doanh nghiệp sẽ
phân loại các khoản chi phí trả trước thành ngắn hạn và dài hạn
để trình bày trên bảng cân đối kế toán. Khi đó sẽ đảm bảo tính
thống nhất của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán

