
51
KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG THÔNG MINH - TỔNG HỢP TỪ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM
TRÊN THẾ GIỚI, KIẾN NGHỊ BỔ SUNG VÀO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Thái Cường*
Trần Vân Anh**
Huỳnh Thị Ngọc Nhi***
Tóm tắt
Bài viết đặt ra những vấn đề xoay quanh khái niệm hợp đồng thông minh (Smart contract)
trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Nội
dung được trình bày chủ yếu tập trung phân tích khái niệm hợp đồng thông minh trong pháp
luật dân sự Việt Nam, đặt lên cán cân pháp lý so sánh với pháp luật một số nước Châu Âu và
một số tiểu bang Hoa Kỳ để thấy các điểm tương đồng và khác biệt trong mỗi hệ thống pháp
luật trước một vấn đề mới. Bên cạnh đó, bài viết còn đặt ra một khía cạnh khác trong quá trình
nghiên cứu về khái niệm hợp đồng thông minh là liệu chúng có các đặc điểm nổi bật gì để phân
biệt với các hợp đồng truyền thống và hợp đồng điện tử đã được hợp thức hóa trong pháp luật
Việt Nam. Tổng kết là phần đánh giá tổng quan về các nội dung đã phân tích và đưa ra một số
kiến nghị từ kinh nghiệm nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn.
Từ khóa: Blockchain, smart contract, hợp đồng thông minh, giao dịch điện tử, công nghệ
chuỗi khối.
* TS.GV Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. GV thỉnh giảng Đh Toulouse CH
Pháp, RA. Đại học Oxford. SH. Viện Max Planck LB Đức. Email: ntcuong@hcmulaw.edu.vn.
** Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
*** Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

52
Đặt vấn đề
Trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay, công nghệ chuỗi khối (Blockchain) được xem là
một trong những sự đột phá cho nền tảng công nghệ số, là một thành tựu lớn của cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0. Dưới sự tác động của mô hình công nghệ chuỗi khối này, hợp đồng
thông minh (Smart contract) - một loại hợp đồng hoàn toàn mới được tạo lập dựa trên nền tảng
công nghệ Blockchain hoặc các sổ cái phân tán tương tự đã ra đời. “Hợp đồng thông minh”
không còn là thuật ngữ xa lạ khi hiện nay chúng đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác
nhau từ việc mô phỏng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho đến các lĩnh vực quản trị, giáo dục,
y tế,... Dạng hợp đồng này được xem như một sự cải tiến về công nghệ đồng thời có tầm ảnh
hưởng sâu rộng đến các vấn đề trong giao dịch điện tử và nhiều lĩnh vực khác trong xã hội hiện
đại. Tuy nhiên khi tiếp cận dưới thực tiễn Việt Nam, vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc xoay
quanh các vấn đề pháp lý để luật hóa hợp đồng thông minh thành một dạng hợp đồng chính
thức được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự. Bài tham luận hướng đến đề xuất một khái niệm mới
về hợp đồng thông minh trong hệ thống pháp luật Dân sự Việt Nam nhằm từng bước định hướng
giá trị pháp lý của loại hợp đồng đặc biệt này và các vấn đề liên quan.
1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG THÔNG MINH
Trên thực tế, tuy đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực cụ thể và được ghi nhận những
thành tựu đáng kể mà hợp đồng thông minh mang lại nhưng vẫn chưa tồn tại một khái niệm
chung cụ thể mang tính pháp lý về loại hợp đồng này. Hợp đồng thông minh qua từng giai đoạn
phát triển và từng khu vực quốc gia đã có những định nghĩa riêng được đưa ra. Về bản chất,
chúng đều có những đặc điểm và cơ chế tương đồng với nhau nhưng chưa thực sự thống nhất
về mặt từ ngữ pháp lý. Trong phần này, nhóm tác giả sẽ trình bày tổng quan về khái niệm và
các đặc điểm cơ bản của hợp đồng thông minh xét trên nhiều phương diện.
1.1. Khái niệm về hợp đồng thông minh
Sự phát triển về khoa học kỹ thuật cùng những thành tựu vượt bậc mà cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 mang lại đã hình thành nên nhiều vấn đề đáng quan tâm trong mọi lĩnh vực từ
kinh tế đến xã hội. Làn sóng phát triển mạnh mẽ của công nghệ chuỗi khối blockchain đã đặt
nền tảng vững chắc cho sự thiết lập và ứng dụng hợp đồng thông minh (smart contract). Và
chính bởi những đặc điểm nổi bật do loại hình công nghệ này mang lại mà hợp đồng thông
minh hiện là một trong những vấn đề được chú ý hàng đầu trên thị trường.
Ý tưởng về công nghệ chuỗi khối được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 11 năm 2008 trong
sách trắng (white book) được xuất bản bởi (nhóm) tác giả dưới bút danh Satoshi Nakamoto, với
mục đích thiết kế ra một hệ thống thanh toán tiền điện tử mà không cần bất kỳ bên trung gian
gian tài chính nào. Ngày nay, công nghệ chuỗi khối đã phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng rộng
rãi trong lĩnh vực kỹ thuật số và đã sớm vượt ra ngoài chức năng một hệ thống thanh toán. Công
nghệ blockchain có thể được hiểu là “một tập hợp kỹ thuật số các giao dịch được theo dõi và
ghi lại trong một mạng lưới phi tập trung. Các giao dịch sau khi được gửi lên trên mạng lưới
blockchain sẽ được nhóm vào các khối và các giao dịch trong cùng 1 khối (block) được coi là
đã xảy ra cùng thời điểm. Các giao dịch chưa được thực hiện trong 1 khối được coi là chưa
được xác nhận. Blockchain bao gồm các khối dữ liệu riêng lẻ, mỗi khối chứa một bản ghi thông
tin, được liên kết với nhau theo thứ tự thời gian, tạo thành các chuỗi. Sự nhất quán theo trình
tự thời gian làm cho các dữ liệu đã lưu trữ theo chuỗi không thể xóa hoặc sửa đổi nếu không có
sự đồng thuận từ người dùng, giao dịch và nút toán tử. Những liên kết này không thể thay đổi,
đó là điều tạo nên sự minh bạch và tin tưởng cho mạng lưới thông tin dựa trên công nghệ
blockchain.”1. Ưu thế đặc biệt của blockchain là tính bảo mật cao và minh bạch, bởi được vận
1 Lưu Ánh Nguyệt, các cộng sự, “Xu hướng ứng dụng công nghệ chuỗi khối trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và
những vấn đề đặt ra”, xem tại: https://nif.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-
tin?dDocName=MOFUCM236172 (truy cập ngày 29/10/2022).

53
hành cơ chế đồng thuận của cả cộng đồng tham gia và không cần bất kỳ cơ quan nào đứng ra
làm trung gian, chính bởi điểm này mà trong thời đại số hiện nay, nhiều công ty trên toàn thế
giới đã áp dụng một loại hợp đồng được thiết lập trên nền tảng blockchain nhằm tăng tính bảo
mật và giảm thiểu chi phí, đó là hợp đồng thông minh.
1.1.1. Khái niệm được đưa ra bởi các học giả
Hợp đồng thông minh (smart contract) có thể hiểu theo cách tiếp cận thông thường là “sự
phát triển mới từ việc ứng dụng công nghệ phức tạp”2. Và cho đến hiện tại vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất và được thừa nhận về tính pháp lý trên phạm vi toàn cầu của hợp đồng
thông minh. Tuy nhiên ngược lại với thực tiễn đó, các quan điểm mang tính cá nhân về hợp
đồng thông minh lại được ra đời khá sớm, nhất là các quan điểm được đưa ra bởi các học giả
thuộc nhiều lĩnh vực.
Khái niệm Hợp đồng thông minh lần đầu tiên được đưa ra bởi Nick Szabo3, theo ông (vào
năm 1994), hợp đồng thông minh “là một tập hợp các thỏa thuận được thể hiện dưới dạng kỹ
thuật số, bao gồm các cách thức mà trong đó các bên tham gia sẽ thực hiện các thỏa thuận này”4.
Trong một tài liệu khác của Nick Szabo được đưa ra vào năm 1995, ông định nghĩa Smart
contract là “tập hợp những cam kết, bao gồm những giao thức mà các bên thực hiện những lời
hứa khác. Những giao thức này thường được thực hiện với các chương trình trên mạng máy
tính, hoặc những hình thức điện tử kỹ thuật số khác, do đó những hợp đồng này “thông minh”
hơn các hợp đồng bằng giấy truyền thống”5.
Đến thời thế kỷ 21, hệ thống quan điểm định nghĩa về Hợp đồng thông minh ngày càng
phong phú hơn. Jerry I-H Hsiao cho rằng hợp đồng thông minh là những chương trình máy tính
có thể tự động thực hiện các điều khoản của hợp đồng. Những chương trình này giải quyết vấn
đề thực thi và trách nhiệm giải trình trong một hệ thống không có bên trung gian, hoạt động
ngoài tầm kiểm soát của nhà nước6. Daniel T. Stabile 7và các cộng sự đã mô tả hợp đồng thông
minh có thể được coi là “những giao dịch tự động thực thi”, và hợp đồng thông minh được xây
dựng trên nền tảng chuỗi khối có thể được hình dung như là tạo ra “tiền được lập trình”. Theo
Larry A. DiMatteo và các cộng sự8 thì “Hợp đồng thông minh theo nghĩa đen là mã máy tính
được đặt trên một chuỗi khối, một sổ cái phân tán, mở chạy trên máy tính của hàng nghìn người
dùng và không có cơ quan trung ương. “Thông minh” đề cập đến chất lượng tự thực hiện, tự
thực thi của các hợp đồng thông minh. Những cái gọi là hợp đồng này là bất biến, có nghĩa là
mã theo mặc định không thể thay đổi, do đó đảm bảo hiệu suất”. Người đồng sáng tạo Ethereum
- Vitalik Buterin9 đưa ra một định nghĩa gần với thực tế cuộc sống và ít tập trung vào mặt công
nghệ hơn, theo ông: “Hợp đồng thông minh là hình thức tự động hóa phi tập trung đơn giản
nhất và được định nghĩa một cách đơn giản và chính xác nhất như sau: hợp đồng thông minh là
một cơ chế liên quan đến tài sản kỹ thuật số do hai hoặc nhiều bên tham gia, trong đó một hoặc
các bên đưa tài sản vào và tài sản này được tự động phân phối lại giữa các bên đó theo một
2 Vũ Thị Thu Trang, Vũ Anh Thư, Nguyễn Thị Quỳnh Yến, “Sự phát triển của hợp đồng thông minh ở Việt Nam
và một số vấn đề pháp lý đặt ra”, FTU Working Paper Series, 2022.
3 Nick Szabo, “Formalizing and Securing Relationship on Public Networks”, First Monday, 1997.
4 Smart contracts: Fraud & manipulation in smart contracts, Westlaw.
5 Nick Szabo, “Smart contract glossary”, Phonetic Sciences, Amsterdam, 1995.
6 J I-Hsiao, “Smart contract on the blockchain-paradigm shift for contract law”, US-China Law Review, 2017.
7 Daniel T. Stabile, Kimberly A. Prior, and Andrew M. Hinkes, Digital Assets and Blockchian and contract law”,
The Cambridge handbook of smart contracts, blockchain technology and digital platforms. Cambridge
University Press, Cambridge, 2019.
8 Larry A. DiMatteo, Michel Cannarsa, and Cristina Poncibò, “Smart contracts and contract law”, The
Cambridge handbook of smart contracts, blockchain technology and digital platforms. Cambridge University
Press, Cambridge, 2019
9 Vitalik Buterin, “DAOs, DACs, DAs and More: An Incomplete Terminology Guide,” ngày 06/5/2014, xem tại:
https://blog.ethereum.org/2014/05/06/daos-dacs-das-and-more-an-incomplete-terminology-guide (truy cập ngày
29/10/2022).

54
công thức dựa trên một số dữ liệu nhất định mà các bên không được biết vào thời điểm hợp
đồng được bắt đầu”.
1.1.2. Khái niệm được đưa ra bởi các tổ chức trên thế giới
Nhiều tổ chức trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về hợp đồng thông minh của riêng
mình, điển hình như Phòng Thương mại Kỹ thuật số Hoa Kỳ định nghĩa hợp đồng thông minh
như “mã máy tính, mà khi xảy ra một điều kiện cụ thể hoặc những điều kiện, có thể vận hành
tự động theo các chức năng được chỉ định trước. Mã nguồn có thể được lưu trữ và xử lý trên
một sổ cái phân tán và sẽ ghi bất kỳ kết quả thay đổi nào vào sổ cái phân tán”10. Hay Ủy ban
Thương mại Hàng hóa Tương lai mô tả hợp đồng thông minh về cơ bản là “một tập hợp các
chức năng máy tính được mã hóa, có thể kết hợp các yếu tố của một hợp đồng đã được ràng
buộc (như đề nghị, chấp thuận và nghĩa vụ đối ứng), hoặc có thể cho phép mã máy tính tự thực
thi các tác vụ cụ thể tham chiếu đến sự có hoặc không của một sự kiện”11.
Từ những quan điểm được đưa ra bởi các học giả, tổ chức, có thể thấy được dù hiện nay
chưa có một định nghĩa thống nhất nào về hợp đồng thông minh, nhưng những định nghĩa được
đưa ra đều có điểm chung thống nhất rằng: hợp đồng thông minh là một chương trình máy tính.
Trong đó, các điều khoản của hợp đồng được mã hóa và thiết kế sao cho các điều khoản tự động
thực thi trên nền tảng phi tập trung mà không cần qua sự giám sát hay quản lý của bất kỳ tổ
chức tập trung nào.
1.1.3. Khái niệm được đưa ra bởi các hệ thống pháp luật trên thế giới
Hợp đồng thông minh như đã đề cập, là một khái niệm không mới nhưng chỉ khi bước
vào thời kỳ công nghiệp 4.0 cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thì khái niệm
này mới ngày càng trở nên phổ biến. Do tính mới và hình thức hoạt động khác biệt hoàn toàn
với hợp đồng truyền thống nhưng lại được ứng dụng rộng rãi nên giá trị pháp lý của hợp đồng
thông minh là một vấn đề đang được quan tâm. Đa số các quan điểm đều cho rằng cần thiết có
một sự ghi nhận về mặt pháp lý cho khái niệm này. Dưới đây là sự ghi nhận những khía cạnh
liên quan đến khái niệm hợp đồng thông minh trong các hệ thống pháp luật trên thế giới. Tại
phần này, nhóm tác giả đề cập xoay quanh hệ thống pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật
Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Âu.
a. Hệ thống pháp luật Việt Nam
Một hợp đồng muốn có đầy đủ hiệu lực và giá trị pháp lý phải thỏa mãn những điều kiện
được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: (i) Thứ nhất, về chủ thể, các chủ thể
ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật
dân sự; (ii) Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã
hội; (iii) Thứ ba, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định
phù hợp với quy định của pháp luật.
Hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện trên sẽ dẫn đến vô hiệu.
Bởi khái niệm hợp đồng thông minh chưa được luật hóa một cách cụ thể, thế nên việc xác
định thế nào là một hợp đồng thông minh về mặt thực tiễn trong pháp luật Việt Nam vẫn còn
gặp nhiều trở ngại và không có khung pháp lý rõ ràng để đảm bảo quyền và nghĩa vụ các bên.
b. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và Châu Âu
10 Smart Contracts Alliance, “Smart Contracts: Is the Law Ready?” Chamber of Digital Commerce, 2018.
11 LabCFTC, “A Primer on Smart Contracts”, Commodity Futures Trading Commission, ngày 27/11/2018, p. 4,
xem tại: https://www.cftc.gov/sites/default/files/2018-11/LabCFTC_PrimerSmartContracts112718.pdf (truy cập
ngày 29/10/2022).

55
Trong thực tiễn pháp luật thế giới, Hoa Kỳ là quốc gia đang có rất nhiều đạo luật cấp tiểu
bang quy định về tính pháp lý của công nghệ blockchain12. Tuy nhiên, các đạo luật này chưa
thực sự cụ thể và chưa có một quy định chung cấp quốc gia nào về blockchain. Kéo theo đó là
ngay cả quốc gia liên bang như Hoa Kỳ vẫn chưa thực sự hiện diện một khái niệm cụ thể về
hợp đồng thông minh trong Luật Liên bang Hoa Kỳ hoặc hướng dẫn nào xác định rõ tình trạng
của hợp đồng thông minh.
Tuy nhiên, Luật thương mại Quốc gia và Quốc tế về Chữ ký điện tử (“E-Sign Act”)13 của
Hoa Kỳ có thể cung cấp đủ trọng lượng pháp lý cho các hợp đồng thông minh được thực thi
theo luật hiện hành. Đạo luật về Chữ ký điện tử này cung cấp thông tin rằng chữ ký điện tử,
hợp đồng và hồ sơ sẽ có hiệu lực pháp lý tương tự như chữ ký trên giấy, qua đó nêu rõ rằng
“chữ ký, hợp đồng hoặc hồ sơ khác liên quan đến giao dịch đó có thể không bị từ chối hiệu lực
pháp lý, giá trị pháp lý hoặc khả năng thực thi chỉ vì nó ở dạng điện tử” và rằng “hợp đồng liên
quan đến giao dịch đó có thể không bị từ chối hiệu lực pháp lý, hiệu lực hoặc khả năng thực thi
chỉ vì chữ ký điện tử hoặc hồ sơ điện tử đã được sử dụng trong quá trình hình thành xác lập”.
Việc thực thi các hợp đồng thông minh trên nền tảng blockchain có thể thuộc thẩm quyền của
Đạo luật điện tử như bất kỳ “hợp đồng điện tử” nào khác. Và đồng thời vẫn chưa có hướng dẫn
rõ ràng nào về vấn đề này ở cấp liên bang làm rõ tình trạng pháp lý của hợp đồng thông minh14.
Một ví dụ về việc xem xét vai trò của công nghệ thông tin trong việc hình thành hợp đồng
là Đạo luật thống nhất về giao dịch điện tử (Uniform Electronic Transactions Act - UETA)
được thông qua tại Hội nghị quốc gia của các viên chức về đạo luật thống nhất (NCCUSL) diễn
ra năm 1999 nhằm tạo lập một khung pháp lý thống nhất cho giao dịch điện tử ở Hoa Kỳ15. Đây
được xem như cơ sở cho luật tiểu bang ở 47 tiểu bang Hoa Kỳ, với quy định rằng, với một số
ngoại lệ hạn chế, các bản ghi điện tử bao gồm những bản ghi được tạo bởi chương trình máy
tính và chữ ký điện tử (ví dụ như chữ ký điện tử sử dụng công nghệ mã hóa công khai) có hiệu
lực pháp lý tương tự như các loại hợp đồng thông thường dưới dạng văn bản16. UETA thậm chí
còn công nhận giá trị pháp lý của “các tác nhân điện tử”, được định nghĩa là “một chương trình
máy tính hoặc một phương tiện điện tử hay một phương tiện tự động được sử dụng độc lập để
bắt đầu thực thi một hành động hoặc phản hồi toàn bộ hoặc một phần về các bản ghi điện tử mà
không cần xem xét hoặc thực hiện bởi bất kỳ cá nhân nào”. Theo UETA, tác nhân điện tử “có
khả năng trong phạm vi các thông số lập trình của nó, khởi tạo, phản hồi hoặc tương tác với các
bên khác hoặc các tác nhân điện tử của nó khi đã được một bên kích hoạt mà không cần chú ý
gì thêm”, được cho là một sự thừa nhận về hợp đồng thông minh17.
Ở cấp tiểu bang, Arizona là tiểu bang duy nhất đã thông qua phê duyệt luật về hợp đồng
thông minh một cách rõ ràng. Các nhà lập pháp Arizona đang biến tiểu bang này thành một
12 Một số quy định pháp luật của Mỹ liên quan đến công nghệ chuỗi khối Blockchain và tham khảo cho Việt
Nam, Tạp chí điện tử pháp lý, https://phaply.net.vn/mot-so-quy-dinh-phap-luat-cua-my-lien-quan-den-cong-
nghe-chuoi-khoi-blockchain-va-tham-khao-cho-viet-nam-a255351.html, truy cập ngày 29/10/2022.
13 Public Law 106-229, June 30, 2000.
14 USA: Smart Contracts Definition and Legality, xem tại: https://neo-project.github.io/global-blockchain-
compliance-hub//united-states-of-america/USA-smart-contracts.html (truy cập ngày 29/10/2022)
15 Pháp luật về Hợp đồng điện tử tại một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, xem tại:
https://phapluatquanly.vietnamhoinhap.vn/phap-luat-ve-hop-dong-dien-tu-tai-mot-so-nuoc-va-kinh-nghiem-cho-
viet-nam-4311.htm (truy cập ngày 29/10/2022)
16 Uniform Electronic Transactions Act (Unif. Law Comm’n 1999) - New York, Illinois and Washington have
state-specific laws relating to the validity of electronic transactions.
17 An Introduction to Smart Contracts and Their Potential and Inherent Limitations, xem tại:
https://corpgov.law.harvard.edu/2018/05/26/an-introduction-to-smart-contracts-and-their-potential-and-inherent-
limitations/#10b (truy cập ngày 29/10/2022)

