
31
HỢP ĐỒNG PHÁP LÝ THÔNG MINH: PHƯƠNG THỨC GIAO KẾT VÀ CÁC VẤN
ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngô Đình Thiện*
Nguyễn Lê Hoài**
Tóm tắt
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, cung cấp, phân tích tính khả thi của các phương
thức thức giao kết hợp đồng pháp lý thông minh (Smart Legal Contract) trên nền tảng công
nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology - DLT) như công nghệ chuỗi khối
(Blockchain Technology) trong thực tiễn hiện nay. Từ đó gợi mở các vấn đề pháp lý xoay quanh
hình thức giao kết hợp đồng pháp lý thông minh theo quy định pháp luật hiện hành về hợp của
Việt Nam và các học thuyết về hợp đồng trên thế giới.
Từ khoá: hợp đồng pháp lý thông minh, công nghệ sổ cái phân tán, công nghệ chuỗi khối
* Thạc sĩ Luật học, Giảng viên, Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
** Thạc sĩ Luật học, Phó trưởng Bộ môn Tư pháp quốc tế và luật so sanh, Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học
Luật TP. Hồ Chí Minh.

32
1. Hợp đồng pháp lý thông minh (Smart Legal Contract) và các hợp đồng thông minh
khác
1.1. Tổng quan Hợp đồng thông minh (Smart Contract - SC)
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển vượt trội xoay quanh ứng dụng của DLT, Hợp
đồng thông minh ngày càng trở nên phổ biến không chỉ trên thế giới mà ngay cả tại Việt Nam.
Ngày càng có nhiều chuyên gia, học giả trong lĩnh vực công nghệ và pháp lý đưa ra hàng loạt
các khái niệm, định nghĩa hoặc cách hiểu khác nhau về SC. Nhà sáng lập của Ethereum và
Bitcoin Magazine – Vitalik Buterin (Vitalik) cho rằng SC là các hệ thống tự động di chuyển tài
sản kỹ thuật số theo các quy tắc được xác định từ trước một cách tuỳ ý.1 Ngược lại, một số
chuyên gia xác định SC là một hợp đồng pháp lý có khả năng tự động thực hiện bằng các giao
thức máy tính như hỗ trợ, xác minh, và thực thi các điều khoản của một hợp đồng thương mại2
hoặc bằng cách đưa các thoả thuận pháp lý vào các phần cứng, phần mềm để ngăn chặn các vi
phạm và để kiểm soát tài sản bằng các công cụ kỹ thuật số.3 Tuy nhiên, giả định trường hợp
ngôn ngữ của SC sau khi chuyển đổi thành các ngôn ngữ thông thường có thể hiểu được và
những SC này không có đầy đủ yếu tố để cấu thành một hợp đồng pháp lý, thì liệu SC có thực
sự là hợp đồng pháp lý hay không và có phải SC nào cũng có thể được xem là hợp đồng có tính
pháp lý không? Từ các quan điểm trên, SC có thể có nhiều cách giải thích khác nhau hiện nay
như: i) chương trình máy tính tự vận hành trên DLT; ii) hợp đồng pháp lý tự vận hành trên
DLT. Nếu phân tích những khái niệm trên thì sự khác nhau giữa các cách giải thích về SC hiện
nay chính sự khách nhau về cách diễn giải thuật ngữ, không dựa trên bản chất và ứng dụng của
SC.
Tuy nhiên, nghiên cứu về SC của một số chuyên gia đã đi đến kết luận rằng khó có thể tồn
tại một khái niệm thống nhất để giải thích về thuật ngữ SC. Bởi lẽ các tranh cãi xoay quanh
cách giải thích SC xuất phát từ việc cùng một thuật ngữ nhưng lại giải thích cho hai vấn đề khác
nhau. 4 Việc sử dụng cùng một thuật ngữ SC chỉ hai khái niệm khác nhau khiến cho cho việc
trả lời ngay cả những vấn đề đơn giản là không thể.5 Chẳng hạn như ứng dụng của SC là gì?
Nếu giải thích SC dưới khía cạnh là một công nghệ chứa đựng các ngôn ngữ lập trình được
lưu trữ, xác nhận và tự động thực hiện trên DLT, thì tính ứng dụng của SC sẽ phụ thuộc vào
ngôn ngữ lập trình được sử dụng để xây dựng SC và các tính năng của công nghệ của DLT mà
SC hoạt động. Ngược lại, nếu giải thích SC dưới khía cạnh là ứng dụng cụ thể của một công
nghệ được sử dụng như một phần bổ sung, thay thế cho các hợp đồng pháp lý thông thường, thì
cách hiểu của SC này sẽ vượt xa ra khỏi khái niệm của một công nghệ. Với trường hợp này,
cách hiểu về SC sẽ phụ thuộc vào các học thuyết pháp lý về hợp đồng cũng như quan điểm các
cơ quan, tổ chức Tư pháp của các quốc gia có thừa nhận hay không tính pháp lý của SC. Nếu
như các cá nhân/ pháp nhân không tin tưởng sử dụng, các cơ quan lập pháp không thừa nhận
1 Vitalik Buterin (2015), A Next Generation Smart Contract & Decentralized application, Ethereum White
Paper. Truy cập tại: https://blockchainlab.com/pdf/Ethereum_white_paper-
a_next_generation_smart_contract_and_decentralized_application_platform-vitalik-buterin.pdf, truy cập lần
cuối: 16/11/2022.
2 Tim Swanson (2014), Great chain of numbers: A guide to smart contract, smart property and trustless asset
management, Truy cập tại: https://s3-us-west-
2.amazonaws.com/chainbook/Great+Chain+of+Numbers+A+Guide+to+Smart+Contracts%2C+Smart+Property
+and+Trustless+Asset+Management+-+Tim+Swanson.pdf, truy cập lần cuối: 15/11/2022.
3 Nick Szabo (1997), Smart Contract: Formalizing and Securing Relationships on Public Networks, First
Monday, 2(9).
4 Josh Stark (2016), Opinion: Making Sense of Blockchain Smart Contracts, Coindesk, truy cập tại:
https://www.coindesk.com/markets/2016/06/04/making-sense-of-blockchain-smart-contracts/, truy cập lần cuối:
15/11/2022.
5 Như trên.

33
hoặc giải thích loại hợp đồng này, thì SC khó có thể được xem là một hợp đồng pháp lý trên
thực tế.
Từ những phân tích trên, có thể thấy việc cần thiết đối với những chuyên gia, nhà nghiên
cứu hay bất kể ai quan tâm tìm hiểu về SC đều cần phải phân biệt được trường hợp nào SC
được đề cập tới là công nghệ chứa đựng các ngôn ngữ lập trình trên DLT hay SC được xem
như một ứng dụng của công nghệ để thay thế hoặc bổ sung cho các hợp đồng pháp lý thông
thường. Trong giới hạn bài viết này, tác giả sẽ chỉ khai thác các khi cạnh liên quan đến trường
hợp SC được xem như một hợp đồng pháp lý thông minh.
1.2. Hợp đồng pháp lý thông minh
Hợp đồng pháp lý thông minh (SLC) có thể được xem là một hợp đồng có giá trị ràng buộc
về mặt pháp lý. Trong đó, một số hoặc toàn bộ nghĩa vụ của các bên sẽ được xác định và/ hoặc
được thực hiện tự động thông qua một đoạn mã máy tính hoạt động trên DLT. Tương tự như
những SC khác, hình thức của SLC là các chương trình máy tính, xây dựng trên nền tảng DLT,
sử dụng các đoạn mã “nếu-thì” (if then) hoặc “nếu-khác nếu” (if-else if) và một số đoạn mã
khác có chức năng lưu trữ thông tin khác. Các đoạn mã này trở nên thông minh khi có khả năng
tự thực hiện nghĩa vụ (self-execute) sau khi các điều kiện đưa ra được đáp ứng. SLC có thể làm
tăng sự hiệu quả và chắc chắn trong kinh doanh, đồng thời giảm nhu cầu tin tưởng lẫn nhau
giữa các bên do các nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ có khả năng tự thực hiện thông qua các đoạn
mã.
1.3. Đặc điểm của hợp đồng pháp lý thông minh
Một SLC để được xem là một hợp đồng có giá trị pháp lý thì bên cạnh nhưng đặc tính cơ
bản của một hợp đồng pháp lý thông thường6, SLC yêu cầu thêm ba yếu tố cơ bản khác như
sau:7 i)Một số hoặc toàn bộ các nghĩa vụ trong hợp đồng được thực hiện tự động thông qua
chương trình máy tính (“tính tự động”); ii) Hợp đồng đó phải có hiệu lực pháp lý; Chương trình
máy tính của SLC được thực hiện trên DLT.
1.3.1. Tính tự động của hợp đồng thông minh
Một trong những tính năng đặc biệt nhất của SLC là tính tự động hoá việc thực hiện nghĩa
vụ trong hợp đồng. Trong đó, một số hoặc toàn bộ các nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ được thực
hiện một cách tự động mà không cần bất cứ sự can thiệp của con người. Khác với bản chất hành
vi của một cá nhân hoặc thâm chí pháp nhân có trường hợp cô ý hoặc vô ý vi phạm nghĩa vụ
trong hợp đồng, một chương trình máy tính được mã hoá đúng cách sẽ không thể từ chối thực
hiện nghĩa vụ mà chúng được giao cho. Khi các điều kiện để thực hiện nghĩa vụ đã được đáp
ứng, chương trình máy tính đó sẽ tự thực hiện nghĩa vụ theo nội dung của hợp đồng đã được
mã hoá.
Xét về tính mới thì việc tự động hoá các nghĩa vụ được các bên thoả thuận trong hợp đồng
bằng chương trình máy tính được mã hoá vốn đã được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Các hoạt
động thương mại như thanh toán ngân hàng tự động hoặc mua hàng trực tuyến đều liên quan
đến yếu tố tự động hoá. Khi một cá nhân có nhu cầu mua một mặt hàng trên sàn thương mại
điện tử, chỉ cần sở hữu một tài khoản đã cung cấp đầy đủ thông tin thanh toán của cá nhân đó,
việc thanh toán và đơn hàng sẽ được tự động khi có xác nhận mua của cá nhân đó.
Tuy nhiên, khi so sánh sự khác nhau về tính tự động của SLC và các loại hợp đồng có tính
tự động khác thì khó có thể chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về tính tự động trong trường hợp này. Một
mặt có thể thấy có rất nhiều loại nghĩa vụ tiêu chuẩn trong hợp đồng có thể được tự động hoá
bằng các chương trình máy tính như việc tự động thanh toán khi đến hạn đối với khách hàng
6 Ví dụ: Điều 385, 386, 393 BLDS 2015
7 Uỷ ban pháp luật Anh và Xứ Wales (Law Commission) (2021), Smart Legal Contract Advice to Government.

34
sử dụng thẻ ghi nợ ngân hàng. Các SLC có chứa đựng các điều khoản về nghĩa vụ được tự động
hoá tiêu chuẩn như trên hầu như không làm phát sinh bất cứ vấn đề pháp lý nào mới và tính tự
động hoá trong trường hợp này chỉ được xem xét như một công cụ để thực hiện hợp đồng.
Mặc khác, việc các nghĩa vụ hợp đồng không mang tính tiêu chuẩn trong SLC chỉ được
soạn thảo bằng ngôn ngữ lập trình, được phát triển trên DLT thì việc sử dụng ngôn ngữ của hợp
đồng duy nhất chỉ là ngôn ngữ lập trình, các đoạn mã được xây dựng trên DLT không thể thay
đổi được nội dung và những vấn đề khác liên quan đến đặc tính của SLC được xây dựng trên
DLT sẽ có thể làm phát sinh các vấn đề pháp lý mới liên quan.
Để thực hiện tính tự động hoá các nghĩa vụ trong hợp đồng của SLC, thì ngôn ngữ của các
điều khoản trong SLC phải là các điều khoản có điều kiện. Các loại nghĩa vụ hợp đồng nếu tuân
theo tính logic có điều kiện như nếu X, thì Y thì những điều khoản này có thể phù hợp để được
mã hoá (operational clauses)8. Ví dụ: Tất cả các mặt hàng thực phẩm tươi sạch sẽ được giảm
giá 50% nếu như chưa được tiêu thụ trong một khoảng thời gian được xác định kể từ thời điểm
các mặt hàng đó được sản xuất. Ngược lại, đối với các loại nghĩa vụ trong hợp đồng mang tính
chất phụ thuộc vào quyết định cá nhân, tính hợp lý, nỗ lực tốt của các bên như các điều khoản
về nghĩa vụ trong hợp đồng lao động, hợp đồng tư vấn,… (non-operation clauses) sẽ không khả
thi để tự động hoá các điều khoản này trong SLC.
1.3.2. Hiệu lực pháp lý của hợp đồng pháp lý thông minh
Hiệu lực pháp lý của hợp đồng pháp lý thông minh có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau từ các yếu tố cấu tạo hợp đồng, pháp luật áp dụng đối với hình thức và nội dung
hợp đồng, ngôn ngữ và điều khoản của hợp đồng, thoả thuận giữa các bên,… Nhìn chung, để
một SLC có thể đảm bảo hiệu lực pháp lý ở các hệ thông pháp luật khác nhau vào thời điểm
hiện tại trong bối cảnh không phải quốc gia nào cũng thừa nhận SLC thì SLC có thể có hiệu
lực trong một số trường hợp:
a) Kết hợp với các hợp đồng truyền thống: SLC có thể là một phần của một hợp đồng
pháp lý bằng văn bản truyền thống. Cụ thể, các bên có thể xây dựng các điều tự động
hoá các nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng hoặc tự động chuyển giao quyền sở hữu
tài sản. Việc xây dựng SLC phái sinh từ một trong các điều khoản của hợp đồng gốc
có thể nâng cao sự thừa nhận về mặt pháp lý của SLC;
b) SLC tự thực thi (self-enforcement): Trong một số trường hợp hiện nay, một SLC được
xây dựng hoàn toàn bằng ngôn ngữ lập trình vẫn có thể có hiệu lực pháp lý tuỳ thuộc
vào khu vực tài phán cũng như pháp luật áp dụng và quy định hiện hành về SLC tại
quốc gia sở tại. Nếu SLC được thiết kế để tự thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng và
ngôn ngữ lập trình các điều khoản này được xây dựng một cách rõ ràng, không gây
nhầm lẫn thì cơ quan tư pháp hoặc trọng tài có thể công nhận hiệu lực pháp lý của các
điều khoản tự thực thi nghĩa vụ mà không cần có sự can thiệp của bất cứ cá nhân nào.
c) Thừa nhận bởi các cơ quan tài phán: Quyết định của thẩm phán hay phán quyết của
trọng tài cũng có thể là cơ sở để thừa nhận giá trị pháp lý của SLC. Trường hợp SLC
có ghi nhận điều khoản thoả thuận trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp giữa
các bên, trong điều khoản đó có ghi nhận đầy đủ các quy tắc trọng tài được áp dụng,
thủ tục tố tụng, pháp luật áp dụng đối với tranh chấp thì các bên có thể dựa vào phán
quyết của trong trọng tài để thừa nhận hiệu lực pháp lý của SLC.
8 Uỷ ban pháp luật Anh và Xứ Wales (Law Commission) (2021), Smart Legal Contract Advice to Government.

35
d) Sự công nhận về mặt pháp lý: Hiện nay, một số quốc gia như Hoa Kỳ9, Vương quốc
Anh10, Thuỵ Sỹ11, Singapore12, Estonia13,… đã các quốc gia đang đi đầu trong việc
thừa nhận về mặt pháp lý đối với các SLC. Về cơ bản, các quốc gia nêu trên thừa nhận
SLC là thoả thuận có hiệu lực pháp lý nếu chúng đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
Chẳng hạn như SLC được thực hiện bằng và tuân thủ theo một hình thức được quy
định cụ thể. Một khi SLC đã được công nhận tính pháp lý thì các điều khoản về nghĩa
vụ của SLC cũng có sẽ có hiệu lực tương tự như một hợp đồng pháp lý truyền thống.
Tuy nhiên, việc công nhận tính pháp lý không đương nhiên đảm bảo khả năng thực
hiện của SLC. SLC vẫn sẽ phải tuân thủ một số quy định pháp lý liên quan như các
yếu tố cấu thành của hợp đồng, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước sở tại,…
1.3.3. SLC được thực hiện trên DLT
Một SLC không bắt buộc phải được triển khai trên DLT bởi lẽ SLC đơn giản là các
chương trình tự động thực thi các nghĩa vụ của hợp đồng. Do vậy, tuy SLC hiện nay thường
được triển khai trên các DLT, đặc biệt là công nghệ Blockchain, SLC vẫn có thể được triển
khai trên các nền tảng công nghệ khác như các cơ sở dữ liệu truyền thống hoặc nền tảng phi
tập trung khác mà không ảnh hưởng đến tính năng chính của SLC là tự thực hiện và tự động
thực thi các điều khoản của hợp đồng dựa trên các quy tắc và điều kiện được xác định trước.
Tuy nhiên, việc xây dựng SLC trên DLT hiện nay đang là xu thế chung bởi các đặc điểm
đặc thù của DLT như tính minh bạch, tính bất biết, tính bảo mật. Khi một SLC được phát triển
trên một DLT như Blockchain, chúng sẽ trở thành một phần của mạng lưới phi tập trung được
duy trì và xác minh thông tin bởi nhiều nút (nodes), mang lại mức độ đảm bảo bảo mật cao
hơn so với các nền tảng mang tính tập trung. Ngoài ra, việc ứng dụng DLT khi triển khai SLC
có thể làm giảm rủi ro gian lận và giả mạo vì bất cứ thay đổi nào trong hệ thống sẽ được công
khai đối với tất cả thành viên trong hệ thống.
2. Các hình thức giao kết hợp đồng pháp lý thông minh
Quy định về hình thức của hợp đồng tại Việt Nam hiện nay có điểm tương đồng với phần
lớn các quy định về hình thức của hợp đồng tại các quốc gia khác trên thế giới. Theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), hình thức của một hợp đồng có thể được thể hiện bằng
lời nói, văn bản hoặc bằng các hành vi cụ thể14. Đối với SLC, bản chất hình thức thể hiện các
điều khoản tự động hoá nghĩa vụ các bên bằng các đoạn mã chương trình máy tính trên DLT
có thể ngầm xác định khả năng xem xét hình thức xác lập của SLC hiện nay được thể hiện bằng
văn bản15. Tuy nhiên, việc áp dụng ngôn ngữ lập trình là ngôn ngữ không được phổ biến trong
xã hội chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực pháp lý của SLC. Quy định của BLDS
2015 không có bất cứ quy định cụ thể nào về điều kiện đối với ngôn ngữ của hợp đồng. Do vậy,
có thể ngầm xác định quyết định đối với ngôn ngữ của hợp đồng trong trường hợp này có thể
phụ thuộc vào thoả thuận của các bên tham gia xác lập hợp đồng. Ngôn ngữ lập trình của SLC
trong trường hợp này vẫn có thể được cân nhắn tương tự như ngôn ngữ của quốc gia khác và
9 Điều 5, Arizona Electronic Transactions Act.
10 Uỷ ban pháp luật của Anh và xứ Wales (Law Commision) đã đưa ra một số báo cáo khuyến nghị công nhận hợp
pháp SLC.
11 Hội đồng Liêng bang Thuỵ Sỹ (2020), đề xuất sửa hổi một số luật về nghĩa vụ.
12 Vào tháng 11 năm 2018, chính phủ Singapore đã khởi động "Chương trình Phát triển Pháp lý Hợp đồng Thông
minh" của Quốc gia thông minh và Văn phòng Chính phủ số (Smart Nation and Digital Government Office) để
phát triển khung pháp lý cho các hợp đồng thông minh.
13 Chương trình cư trú điện tử (E-residency) của Estonia đã cho phép phát triển các ứng dụng sáng tạo, bao gồm
nền tảng dựa trên blockchain cho các giao dịch bất động sản và nền tảng quản lý chuỗi cung ứng sử dụng hợp
đồng thông minh để theo dõi hàng hóa và dịch vụ. Chính phủ Estonia cũng đã đưa ra các sáng kiến nhằm thúc đẩy
việc sử dụng công nghệ chuỗi khối trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như hệ thống bỏ phiếu và quản lý dữ liệu.
14 Điều 119, BLDS 2015
15 Điều 119.1 BLDS 2015

