
191
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG THÔNG MINH THEO PHÁP LUẬT
LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ TRUNG QUỐC - KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Nguyễn Thị Kim Duyên*
Tóm tắt
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự bùng nổ của Internet trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
tác động đáng kể đến con người và đời sống xã hội. Vận dụng nền tảng công nghệ, hợp đồng
thông minh ngày được phát triển và sử dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam
chưa có khung pháp lý cụ thể về hợp đồng thông minh và pháp luật áp dụng đối với hợp đồng
thông minh xuyên biên giới. Bài viết sẽ trình bày về pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thông
minh theo pháp luật Liên minh Châu Âu và pháp luật Trung Quốc, trên cơ sở đó, học hỏi kinh
nghiệm và xây dựng khung pháp lý cho sự phát triển của hợp đồng thông minh tại Việt Nam.
Từ khóa: hợp đồng thông minh, pháp luật áp dụng, Liên minh Châu Âu, Trung Quốc
* Thạc sĩ Luật học, GV. Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.

192
1. Khái niệm hợp đồng thông minh
Nick Szabo, một nhà khoa học máy tính và một học giả pháp lý, người đã đưa ra khái
niệm hợp đồng thông minh vào năm 1994, “hợp đồng thông minh là một giao thức giao dịch
được máy tính hóa để thực hiện các điều khoản của hợp đồng”1. Theo đó, ý tưởng cơ bản của
hợp đồng thông minh là nhiều loại điều khoản hợp đồng (chẳng hạn như quyền sở hữu, phân
định quyền tài sản, v.v.) có thể được đưa vào phần cứng và phần mềm để xử lý2. Hợp đồng
thông minh cho phép mọi người triển khai giao dịch mà không cần thông qua một bên thứ ba.
Khi có lệnh triển khai, hợp đồng sẽ tự động thực thi đúng như các điều khoản đã lập trình. Điểm
đặc biệt là hợp đồng thông minh sẽ luôn kiểm tra xuyên suốt quá trình thực hiện, đảm bảo trùng
khớp với những điều khoản trong hợp đồng.3
Sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã mang lại nhiều khái niệm mới và
được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Công nghệ blockchain đã loại
bỏ đơn vị trung gian, cho phép mọi người giao dịch trực tiếp với nhau, có thể tự kiểm soát giao
dịch. Hợp đồng thông minh trên nền tảng công nghệ blockchain ngày nay được hiểu khác với
các dạng thức hợp đồng thông minh trước đây. Khái niệm hợp đồng thông minh trên nền tảng
blockchain là khái niệm nằm giữa “hợp đồng” và “chương trình máy tính”,4 là một đoạn mã
được lưu trữ trong chuỗi blockchain, được kích hoạt bởi giao dịch trong blockchain, được đọc
và ghi lại trên nền tảng blockchain đó”5
Như vậy, hợp đồng thông minh có thể được hiểu là một bộ giao thức đặc biệt dựa trên
công nghệ blockchain nhằm thực hiện các điều khoản hay thoả thuận giữa các bên trong hợp
đồng.
Ví dụ: Ông M.K.T ký kết một hợp đồng thông minh để thuê một căn hộ và đặt cọc 10%
phí. Việc trả tiền được ghi nhận vào hợp đồng thông minh. Hợp đồng ghi nhận sau một tuần
ông M.K.T sẽ nhận mật mã căn hộ và hoàn tất phí. Khi đó, số tiền đặt cọc được hệ thống giữ
lại. Nếu bên cho thuê có bất kỳ thiếu sót nào, chẳng hạn như chậm giao mật khẩu căn hộ, hệ
thống sẽ trả lại phí cọc cho ông M.K.T mà ông M.K.T không cần phải liên lạc bên cho thuê để
lấy lại tiền đặt cọc. Ngược lại, nếu hai bên thực hiện đầy đủ nội dung đã cam kết, giao dịch
hoàn tất.
2. Xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng thông minh theo pháp luật Liên
minh Châu Âu và pháp luật Trung Quốc
2.1. Xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng thông minh theo pháp luật Liên
minh Châu Âu
Có thể thấy, hợp đồng thông minh mang nhiều đặc tính của một hợp đồng truyền thống
và cần sự điều chỉnh của khung pháp lý. Vấn đề đặt ra là pháp luật nào sẽ được áp dụng nếu
như hợp đồng thông minh được ký kết có yếu tố nước ngoài? Đây cũng là một trong những vấn
đề mà các quốc gia Liên minh Châu Âu rất quan tâm. Có nhiều văn bản giải quyết vấn đề xung
đột pháp luật trong các quan hệ dân sự khác nhau về xác định pháp luật áp dụng. Trong số đó
đáng phải nhắc đến Quy tắc số 593/2008 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 17/7/2008
1 Nick Szabo (1994), Smart Contracts: “A smart contract is a computerized transaction protocol that executes
the terms of a contract”.
2 Nick Szabo (1996), “Smart Contracts: Building Blocks for Digital Markets”.
3 Joshua S. Gans (2019), The Fine Print in Smart Contracts, Nber Working Paper Series, National Bureau of
Economic Research, p.5.
4 Đồng Thị Huyền Nga, Hoàng Thảo Anh (2019), Blockchain và Hợp đồng Thông minh - Xu thế tất yếu của cuộc
cách mạng Công nghiệp 4.0 và những thách thức pháp lý đặt ra, Conference: Responsabilité Et Contrats:
Expériences Du Vietnam Et De L’union Européenne, tr.317.
5 Gideon Greenspan (2016), Beware the impossible smart contract,
https://www.multichain.com/blog/2016/04/beware-impossible-smart-contract/

193
về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng (Quy tắc Rome I)6. Tiền thân của Quy tắc này là
Công ước châu Âu năm 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng (Công ước Rome).
Vấn đề nghĩa vụ hợp đồng và pháp luật áp dụng được quy định tại Điều 1.1 Quy chế Rome I.
Học thuyết nghĩa vụ chính của hợp đồng là kết quả của sự phát triển tư pháp tại Thuỵ Sỹ trong
các vấn đề liên quan đến luật áp dụng cho hợp đồng7.
Theo Quy tắc Rome I, pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác
định trong hai trường hợp cụ thể: Thứ nhất là khi các bên trong quan hệ thỏa thuận lựa chọn
pháp luật để áp dụng; Thứ hai là khi các bên trong quan hệ không lựa chọn pháp luật áp dụng.8
Thứ nhất, khi các bên trong quan hệ thỏa thuận lựa chọn pháp luật để áp dụng đối với
hợp đồng thông minh có yếu tố nước ngoài
Điều 3 Quy tắc Rome I khẳng định: “Một hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật do
các bên lựa chọn”. Các bên có thể thể hiện sự thỏa thuận của mình bằng một điều khoản rõ ràng
trong hợp đồng hoặc các bên cũng có thể thỏa thuận ngầm với nhau theo từng trường hợp cụ
thể. Quy định này phù hợp với thực tiễn các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đề cao tự
do ý chí của các bên trong hợp đồng. Theo đó, việc chọn luật có thể được thể hiện một cách
minh thị một cách rõ ràng hoặc thoả thuận chọn luật ngầm định (tức là có dấu hiệu nào về ngụ
ý của các bên căn cứ theo điều khoản liên quan đến hợp đồng cũng như căn cứ trên bằng chứng
thực tế). Nhưng đối với hợp đồng thông minh thì để xác định liệu việc chọn luật có được thể
hiện minh thị hay ngụ ý hay không là rất khó, vì hợp đồng thông minh mang đặc điểm ẩn danh
và xuyên biên giới. Hơn nữa, các thuật toán cũng không thể xác định được việc ngụ ý này phải
thể hiện cụ thể như thế nào.
Khoản 1 Điều 3 Quy tắc Rome I cũng quy định các bên trong hợp đồng còn có thể thoả
thuận lựa chọn luật để điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ hợp đồng, nghĩa là một hợp đồng có
thể được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau nếu các bên có thỏa thuận lựa
chọn pháp luật áp dụng cho từng phần của hợp đồng. Cần lưu ý, khi thỏa thuận chọn luật cần
phải đáp ứng được những điều kiện sau: (i) việc thoả thuận chọn luật của các bên không được
ảnh hưởng đến việc áp dụng các “quy phạm bắt buộc”; (ii) việc thỏa thuận chọn luật của các
bên không được trái với trật tự công cộng của quốc gia có Toà án xét xử vụ việc9.
Quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng đều có chung bản chất là sự tự
do ý chí nên hợp đồng thông minh cũng như vậy. Nghĩa là, các bên trong hợp đồng thông minh
có quyền tự do thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng thông minh có yếu
tố nước ngoài. Khi các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng và thỏa mãn điều kiện chọn luật, pháp
luật do các bên thỏa thuận lựa chọn sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp có liên quan.
Tuy nhiên, đối với hợp đồng thông minh, việc xác định được có hay không sự thỏa thuận chọn
pháp luật áp dụng là khó khăn. Vấn đề là cách thức để các bên thỏa thuận chọn luật sẽ như thế
nào vì sự thỏa thuận chọn luật của các bên rất khó được thể hiện dưới dạng thuật toán.
Do đó, việc thỏa thuận chọn luật có thể được quy định riêng, độc lập hoặc có thể thông
qua việc sử dụng hợp đồng Ricardian10. Hợp đồng Ricardian là một hợp đồng kỹ thuật số hoạt
6 Regulation (EC) no 593/2008 of the European Parliament and of the Council of 17 June 2008 on the law
applicable to contractual obligations (Rome I).
7 Kurt Lipstein (1981), Characteristic Performance - A New Concept in the Conflict of Laws in Maters of
Contract for the EEC, Northwestern Journal of International Law & Business, USA, vol.3 (2), p.405.
8 Heiss Helmut (2009), Party Autonomy // Rome I Regulation, The Law Applicable to Contractual Obligations
in Europe, p.3.
9 Phùng Hồng Thanh (2019), Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của
Liên minh châu Âu - So sánh với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công thương, nguồn:
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/cach-xac-dinh-luat-ap-dung-cho-hop-dong-co-yeu-to-nuoc-ngoai-theo-quy-
dinh-cua-lien-minh-chau-au-so-sanh-voi-phap-luat-viet-nam-64022.htm, truy cập ngày 23/1/2023.
10 Ian Grigg, The Ricardian Contract, https://iang.org/papers/ricardian_contract.html, truy cập ngày 23/1/2023.

194
động như một thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý giữa hai bên dựa trên các điều khoản và
điều kiện. Hợp đồng được ký và xác minh bằng mật mã bằng cách sử dụng chuỗi blockchain,
nhưng cả người lẫn máy đều có thể đọc được. Chẳng hạn, giả sử các điều khoản của trái phiếu
được viết bằng cách dùng hợp đồng Ricardian. Hợp đồng này về cơ bản biến trái phiếu thành
cơ sở dữ liệu của riêng nó với các dữ liệu khác bao gồm tên của trái phiếu, nhà phát hành, chủ
sở hữu, mệnh giá, v.v. Cơ sở dữ liệu chứa tất cả các chi tiết của thỏa thuận ban đầu, nhưng ở
dạng kỹ thuật số với các mẫu có thể đọc được bằng máy. Hợp đồng sau đó được ký điện tử với
các khóa riêng để dễ dàng nhận dạng. Bất cứ chủ thể hoặc hệ thống nào muốn truy cập các chi
tiết của trái phiếu chỉ cần tìm kiếm các từ khóa này.11 Hợp đồng này nhằm mục đích thống nhất
giữa ngôn ngữ và mã kỹ thuật, chúng được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên nhưng có thể được xử
lý bằng phần mềm để thực thi những điều khoản của hợp đồng.12
Thứ hai, khi các bên trong quan hệ không lựa chọn pháp luật để áp dụng đối với hợp
đồng thông minh có yếu tố nước ngoài.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận lựa chọn luật rõ ràng hoặc thoả thuận chọn
luật ngầm định (tức là không có dấu hiệu nào về ngụ ý của các bên căn cứ theo điều khoản liên
quan đến hợp đồng cũng như căn cứ trên bằng chứng thực tế), toà án sẽ phải đánh giá một cách
khách quan dựa trên toàn bộ hoàn cảnh trong vụ việc để xác định pháp luật có mối liên hệ gắn
bó nhất. Trong những trường hợp như thế, pháp luật của phần lớn các nước Châu Âu đều có
một quy định ngoại lệ: “Nếu một sự kiện pháp lý có các yếu tố thể hiện sự gắn bó nhất với một
quốc gia khác, không phải quốc gia được chỉ ra bởi quy định xung đột, thì pháp luật của quốc
gia có mối quan hệ gắn bó nhất sẽ được áp dụng”13.
Khoản 1 Điều 4 Quy tắc Rome I xây dựng tám loại hợp đồng cụ thể (hợp đồng mua bán
hàng hoá, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng mua bán tài sản
qua đấu giá, hợp đồng thuê nhà gắn với bất động sản trong thời gian ngắn, hợp đồng phân phối,
hợp đồng liên quan đến bất động sản và hợp đồng được ký kết theo hình thức đa phương), tương
ứng cho mỗi loại hợp đồng là mối liên hệ gắn bó riêng trong trường hợp xác định luật cho hợp
đồng đó. Việc xác định luật có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng là việc xác định bên thực
hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng, hơn nữa còn đưa ra mục đích bảo vệ bên yếu thế của hợp
đồng, bảo đảm trật tự công cộng để xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng.
Hợp đồng thông minh có thể được sử dụng để hỗ trợ hoặc thực hiện các hợp đồng trên,
hoặc để giám sát thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Việc áp dụng trực tiếp Quy tắc Rome I cho hợp
đồng thông minh sẽ có thể thực hiện được nếu bản thân hợp đồng thông minh có tính ràng buộc
về mặt pháp lý. Ngược lại, điều này có thể xảy ra nếu phần mềm và mã được sử dụng để ký kết
hợp đồng và nếu hợp đồng được thể hiện toàn diện và độc quyền trong mã phần mềm.14
2.2. Xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng thông minh theo pháp luật Trung
Quốc
Hợp đồng thông minh được sử dụng rộng rãi trong cài đặt blockchain và phi tập trung, là
hợp đồng tự thực hiện có thể theo dõi, cho phép thanh toán có điều kiện, thanh toán được bảo
đảm và các trường hợp sử dụng phức tạp khác. Trung Quốc đã kích hoạt chức năng hợp đồng
thông minh cho đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương - đồng nhân dân tệ kỹ thuật số,
11 https://learn.bybit.com/vi/defi/how-are-ricardian-contracts-different-from-smart-contracts, truy cập ngày
23/1/2023.
12 Lê Thanh Huyền (2022), Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thông minh có yếu tố nước ngoài theo tư pháp
quốc tế một số quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, tr.24.
13 Paul Lagarde (1993), L’européanisation du droit international privé – Conflits de lois, RDCAI, tr. 8.
14 Giesela Rühl (2019), The Law Applicable to Smart Contracts, or Much Ado About Nothing, University of
Oxford, https://blogs.law.ox.ac.uk/business-law-blog/blog/2019/01/law-applicable-smart-contracts-or-much-ado-
about-nothing, truy cập ngày 25/1/2023.

195
thông qua ứng dụng thương mại điện tử Meituan, một trong những ứng dụng phong cách sống
và giao đồ ăn lớn nhất của Trung Quốc.15
Trung Quốc là một trong những quốc gia dẫn đầu trong việc phát triển tiền kỹ thuật số,
khi nước này bắt đầu thử nghiệm loại tiền kỹ thuật số này vào đầu năm 2020. Loại tiền này đã
được sử dụng trong các giao dịch bán lẻ và để mua chứng khoán, nhưng chức năng hợp đồng
thông minh trên quy mô bán lẻ đại chúng đã bị thay đổi. Khi người dùng đặt hàng với ứng dụng
và thanh toán bằng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số, hợp đồng thông minh sẽ được kích hoạt và
tìm kiếm các từ khóa nhất định trong danh sách hàng hóa đã mua và tên người bán. Nếu người
dùng tình cờ có một số từ khóa thay đổi hàng ngày, hợp đồng thông minh sẽ phân bổ một phần
trong số vào ví nhân dân tệ kỹ thuật số của họ. Vào cuối năm 2022, đồng nhân dân tệ kỹ thuật
số chiếm 0,13% tổng lưu thông đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, Ngân hàng Nhân dân Trung
Quốc cho biết hồi đầu tháng 1.16 Viện tiền tệ kỹ thuật số của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
cho biết vào tháng 9 năm 2022 rằng họ đang nỗ lực tăng cường chức năng hợp đồng thông minh
và sau đó đã triển khai chức năng dựa trên hợp đồng thông minh để ngăn người được trả tiền
lấy nhầm tiền trả trước.17
Theo pháp luật Trung Quốc, một lời đề nghị là biểu hiện của một bên về ý định ký kết
hợp đồng với bên kia đồng thời các điều khoản phải cụ thể và xác định một cách rõ ràng18. Theo
Điều 30 của Luật Hợp đồng Trung Quốc quy định rằng điều khoản của chấp nhận giao kết phải
giống với các điều khoản của đề nghị giao kết. Tuy nhiên, không chắc rằng đối với hợp đồng
thông minh thì người được đề nghị có hoàn toàn rõ ràng về nội dung của đề nghị hay không.
Tốc độ truyền dữ liệu và dữ liệu được mã hóa không thể hủy ngang trên blockchain dẫn đến
việc không thể rút lại đề nghị hoặc chấp nhận. Và điều này có thể làm ảnh hưởng đến quyền tự
do thỏa thuận của hợp đồng. Hợp đồng thông minh trên blockchain vẫn là hợp đồng về bản
chất, là sự đề cập đến một hợp đồng bằng văn bản có cấu trúc được thiết lập trước với một
chương trình hoặc phần mềm được hiển thị dưới dạng mã trên mạng hoặc máy tính. Có thể thấy
rằng, hợp đồng thông minh có một số đặc điểm của một hợp đồng pháp lý.
Theo Luật chữ ký điện tử năm 2005 của Trung Quốc, “hợp đồng điện tử” được coi là hệ
thống giao kết hợp đồng sử dụng hệ thống máy tính19. Thông điệp dữ liệu được tạo, gửi, nhận
hoặc lưu trữ bằng các phương tiện điện tử, quang học, từ tính hoặc các phương tiện tương tự20.
Các hoạt động của hợp đồng thông minh đáp ứng các yêu cầu của thông điệp dữ liệu về tạo,
truyền, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Vì vậy hợp đồng thông minh có thể là một
dạng của hợp đồng điện tử.
Tương tự như pháp luật Liên minh Châu Âu, pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố
nước ngoài theo pháp luật Trung Quốc cũng được xác định trong hai trường hợp cụ thể: (i) khi
các bên trong quan hệ thỏa thuận lựa chọn pháp luật để áp dụng và (ii) khi các bên trong quan
hệ không thỏa thuận lựa chọn pháp luật để áp dụng. Pháp luật Trung Quốc cũng quy định các
bên có thể lựa chọn pháp luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng. Do đó, các bên có thể thỏa
thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thông minh và pháp luật được lựa chọn đó
15 The People’s Bank of China (2022), China to speed up, expand digital yuan smart contracts,
https://forkast.news/china-to-speed-up-expand-digital-yuan-smart-contracts-pboc-official-says/, truy cập ngày
25/1/2023.
16 The People’s Bank of China (2022), China to speed up, expand digital yuan smart contracts,
https://forkast.news/china-to-speed-up-expand-digital-yuan-smart-contracts-pboc-official-says/, truy cập ngày
25/1/2023.
17 Eliza Gkritsi (2023), China Launches Smart-Contract Functionality on Digital Yuan Through E-Commerce
App Meituan, https://www.coindesk.com/policy/2023/01/19/china-launches-smart-contract-functionality-on-
cbdc-through-e-commerce-app-meituan/, truy cập ngày 5/2/2023.
18 Điều 14 Luật Hợp đồng Trung Quốc.
19 Điều 2 Luật chữ ký điện tử Trung Quốc.
20 Điều 2 Luật chữ ký điện tử Trung Quốc.

