
143
“SMART CONTRACT” THEO PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM
Nguyễn Thị Hoa*
Nguyễn Hoàng Thái Hy**
1. Dẫn nhập
Smart contract hay hợp đồng thông minh là ứng dụng quan trọng trong số nhiều ứng dụng
và tiện ích mà công nghệ chuỗi khối (blockchain technology) đem lại. Smart contract giúp
người dùng tự động lựa chọn, giao kết cũng như thực hiện các giao dịch phổ biến trong các nền
tảng tiền mã hóa. Không dừng lại ở đó, hợp đồng thông minh được xem như một công cụ an
toàn, hiệu quả nhằm thực hiện hợp đồng đã ký kết. Với sự đa dạng trong ứng dụng, nhiều quan
điểm cho rằng “smart contrat” nên chỉ được xem là một cách thức mà các bên có thể sử dụng
nhằm thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng. Ngược lại, nhiều quan điểm lại cho rằng hợp đồng
thông minh hoàn toàn thỏa mãn những điều kiện của hợp đồng pháp lý. Nhằm giải quyết những
tranh cãi này, những phân tích về thời điểm có hiệu lực, điều kiện có hiệu lực về nội dung hợp
đồng theo pháp luật áp dụng cũng như việc phân loại cho từng ứng dụng hợp đồng thông minh
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hệ quả pháp lý đối với sử dụng công cụ này. Do thực
tiễn pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận những tranh chấp về hợp đồng thông minh, đồng tác giả
bài viết sẽ tham khảo các nghiên cứu và thực tiễn giải quyết tranh chấp (nếu có) của một số
quốc gia nhằm thực hiện nghiên cứu này.
2. Định nghĩa và phân loại hợp đồng thông minh
2.1 Định nghĩa hợp đồng thông minh
Ở thời điểm hiện tại, một định nghĩa thống nhất, mang tính phổ quát về hợp đồng thông
minh (smart contract) vẫn chưa được ghi nhận.1 Tuy nhiên, nếu nhận định thuật ngữ “hợp đồng
thông minh” mới được sử dụng gần đây để chỉ một trong nhiều ứng dụng của công nghệ chuỗi
* Tiến sĩ Luật học, Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM, Email:
nthoa@hcmulaw.edu.vn
** Thạc sĩ Luật học, Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM, Email:
nnthy@hcmulaw.edu.vn
1 M. L. Perugini & P. Dal Checco, “Smart Contracts: A Preliminary Evaluation,” December 2015 Available at:
https://ssrn.com/abstract=2729548; M. Raskin, “The Law and Legality of Smart Contracts,” (2017) 1 Geo. L.
Tech. Rev., 304; A. Savelyev, “Contract Law 2.0: ‘Smart’ Contracts As the Beginning of the End of Classic
Contract Law,” Higher School of Economics Research Paper No. WP BRP 71/LAW/2016, 2016 and (2017) 26: 2
Information & Communications Technology Law, 116–134; L. H. Scholz, “Algorithmic Contracts,” (2017) Stan.
Tech. L. Rev. 128; J. Szczerbowski, “Place of Smart Contracts in Civil Law. A Few Comments on Form and
Interpretation,” Proceedings of the 12th Annual International Scientific Conference New Trends, 2017. Truy cập
tạiSSRN: https:// ssrn.com/abstract=3095933; G. Jaccard, “Smart Contracts and the Role of Law” (10 January
2018). Truy cập tạiSSRN: https://ssrn.com/abstract=3099885 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3099885; E. Tjong
Tjin Tai, “Formalizing Contract Law for Smart Contracts” Tilburg Private Law Working Paper Series No. 6/2017
(18 September 2017). Truy cập tạiSSRN: https://ssrn.com/abstract=3038800 or
http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3038800; P. Catchlove, “Smart Contracts: A New Era of Contract Use” (1
December 2017). Truy cập tạiSSRN: https://ssrn.com/abstract=3090226 or
http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3090226; R. O’Shields, “Smart Contracts: Legal Agreements for the Blockchain,”
(2017) 21 N.C. Banking Inst. 177; L. Cong & Z. He, “Blockchain Disruption and Smart Contracts” (10 January
2018). Truy cập tạiSSRN: https://ssrn.com/abstract=2985764 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.2985764; T.
Hingley, “A Smart New World: Blockchain and Smart Contracts,” truy cập tạiwww.freshfields.com/en-gb/our
thinking/campaigns/digital/fintech/blockchain-and-smart-contracts/; R. Koulu, “Blockchains and Online Dispute
Resolution: Smart Contracts as an Alternative to Enforcement,” (2016) 13 SCRIPTed 40; K. Lauslahti, J. Mattila,
& T. Seppälä, “Smart Contracts – How Will Blockchain Technology Affect Contractual Practices?”, ETLA
Reports No. 68 (9 January 2017). Available at: https://pub.etla.fi/ETLA-Raportit-Reports-68.pdf

144
khối (blockchain) là không chính xác.2 Thuật ngữ này đã được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà mật
mã học kiêm luật gia Nick Szabo. Năm 1994, Nick Szabo đã phát kiến ý tưởng ghi lại các hợp
đồng dưới dạng code máy tính. Hợp đồng này sẽ được kích hoạt tự động khi đáp ứng một số
điều kiện.3
Theo định nghĩa của Nick Szabo, hợp đồng thông minh là "một tập hợp các cam kết, bao
gồm các giao thức trong đó ghi nhận điều kiện theo đó các bên [trong hợp đồng] thực hiện
chúng. Các giao thức thường được thực hiện với các chương trình trên mạng máy tính hoặc
trong các dạng điện tử kỹ thuật số, do đó các hợp đồng này 'thông minh hơn' so với tiền thân
của chúng [các hợp đồng giấy]. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo đôi khi không cần thiết đối với
hợp đồng thông minh”.4
Các học giả và chuyên gia pháp lý đã bổ sung định nghĩa theo đó hợp đồng thông minh
là công cụ “tự thực thi các lệnh điện tử được soạn thảo bằng mã máy tính”5 hoặc là “các
chương trình thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, và có thể chứa và thực hiện các điều kiện
hợp đồng, cũng như thực hiện các biện pháp khác phục khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng”6
cũng có thể là “hợp đồng được thể hiện bằng mã và được thực thi bởi máy tính”.7 Ủy ban Kinh
tế Hỗn hợp của Quốc hội Hoa Kỳ nhận xét rằng “Hợp đồng thông minh nghe có vẻ mới, [nhưng]
khái niệm này bắt nguồn từ luật hợp đồng cơ bản … hợp đồng thông minh là một chương trình
thực thi hợp đồng [sẵn có] được tích hợp trong mã.”.8
Nhìn chung, có hai quan điểm được ghi nhận về định nghĩa hợp đồng thông minh: (1)
quan điểm cho rằng hợp đồng thông minh là một công cụ để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã
có từ trước và (2) hợp đồng thông minh có hình thức văn bản được mã hóa và sẽ tự thực hiện
các nghĩa Một số tác giả cho rằng “tính tự động” nên được thêm vào trong định nghĩa của hợp
đồng thông minh. Về mặt kỹ thuật, trên thực tế, cần lưu ý rằng các hợp đồng thông minh dựa
cơ chế “If this. . . then that…" trong đó “this" và “that” được xác định như điều kiện tiên quyết
cho sự vận hành tự động bởi tác giả của hợp đồng thông minh.9
2 N. Szabo, “Smart Contracts,” 1994, unpublished, truy cập
tạiwww.fon.hum.uva.nl/rob/Courses/InformationInSpeech/CDROM/Literature/LOTwinterschool2006/szabo.bes
t.vwh.net/smart.contracts.html ; N. Szabo, “Formalizing and Securing Relationships on Public Networks,” First
Monday, 1997, truy cập tạihttp://ojphi.org/ojs/index.php/fm/article/view/548/469 ; N. Szabo, “The Idea of Smart
Contracts,” 1997, truy cập tạihttp://szabo.best.vwh.net/idea.html ; N. Szabo, “Secure Property Titles with Owner
Authority,” 1998; see also M. S. Miller, “Computer Security as the Future of Law,” 1997, truy cập
tạiwww.caplet.com/security/futurelaw/, truy cập lần cuối ngày 14/02/2023.
3 Nick Szabo, “Smart Contracts: Building Blocks for Digital Markets”, 1996, truy cập tại:
https://www.semanticscholar.org/paper/Smart-Contracts-%3A-Building-Blocks-for-Digital-
Szabo/9b6cd3fe0bf5455dd44ea31422d015b003b5568f , truy cập lần cuối ngày 14/02/2023.
4 N. Szabo, “Smart Contract Glossary,” 1995, truy cập tại:
www.fon.hum.uva.nl/rob/Courses/InformationInSpeech/CDROM/Literature/LOTwinterschool2006/szabo.best.v
wh.net/smart_contracts_glossary.htm , truy cập lần cuối ngày 14/02/2023.
5 O’Shields, “Smart Contracts: Legal Agreements for the Blockchain,” note 13, 179.
6 E. Mik, “Smart Contracts: Terminology, Technical Limitations and Real World Complexity” , 2017, 1. Truy cập
tại: https://ssrn.com/abstract=3038406, truy cập lần cuối ngày 14/02/2023.
7 E. Tjong Tjin Tai, “Force Majeure and Excuses in Smart Contracts”, Tilburg Private Law Working Paper Series
No. 10/2018, truy cập tại: https://ssrn.com/abstract=3183637 , truy cập lần cuối ngày 14/02/2023.
8 “The 2018 Joint Economic Report,” Report of the Joint Economic Committee Congress of the United States on
the 2018 Economic Report of the President, Chapter 9: “Building a Secure Future, One Blockchain at a Time” (13
March 2018), at 210. Truy cập tại: www.congress.gov/115/crpt/hrpt596/CRPT-115hrpt596.pdf., truy cập lần cuối
ngày 14/02/2023.
9 Caria, R, “Definitions of Smart Contracts: Between Law and Code”. in L. DiMatteo, M. Cannarsa, & C. Poncibò
(Eds.), The Cambridge Handbook of Smart Contracts, Blockchain Technology and Digital Platforms, University
Cambridge Press, pp. 19-36.

145
Hợp đồng thông chỉ thực sự được sử dụng rộng rãi theo sự phát triển của công nghệ
blockchain.10 Công nghệ này đã phần nào loại bỏ những rủi ro khi sử dụng hợp đồng thông
minh. Cụ thể, về nguyên tắc, công nghệ này cho phép một phương tiện phi tập trung, nhanh
chóng, linh hoạt và khá an toàn để ghi lại bất kỳ loại giao dịch nào cùng với lịch sử của các
giao dịch trước đó. Do đó, khi công nghệ blockchain được áp dụng cho các hợp đồng thông
minh, những “hợp đồng” này không chỉ có thể tự thực thi mà không cần bất kỳ trung gian nào,
mà ngoài ra, mọi giao dịch sẽ được tự động ghi lại trong cơ sở dữ liệu phân tán. Do đó, các hợp
đồng thông minh dựa trên blockchain có thể được gọi là “hợp đồng thông minh phi tập trung”,
do không có cơ sở dữ liệu/sổ đăng ký trung tâm.11
Do ngày nay, hợp đồng thông minh thường được xem là một ứng dụng của blockchain,
một số tác giả đã đề xuất định nghĩa hợp đồng thông minh như sau: “bất kỳ thỏa thuận kỹ thuật
số nào (a) được viết bằng mã máy tính, chạy trên blockchain hoặc các DLT tương tự và được
thực thi tự động mà không cần sự can thiệp của con người (do đó, thông minh).”12 Một số tác
giả lại không đánh giá cao việc phải xây dựng một định nghĩa cụ thể cho hợp đồng thông minh
có ứng dụng công nghệ blockchain, điển hình nhất là Mustapha Mekki.13 Ông cho rằng công
nghệ phải phù hợp với các quy định của pháp luật, trong trường hợp của hợp đồng thông minh
thì cần phù hợp với pháp luật về hợp đồng. Do đó, các giao dịch sử dụng hợp đồng thông minh
về cơ bản phải thỏa mãn các điều kiện về hiệu lực của hợp đồng, nếu không, giao dịch liên quan
sẽ bị tuyên bố vô hiệu.14
2.2 Phân loại hợp đồng thông minh dựa trên chức năng và mức độ công nghệ
Theo Mateja Durovic và André Janssen, cách thức và phương pháp hợp đồng thông minh
đang và sẽ được tạo ra trong tương lai có thể khác nhau một cách đáng kể, tùy thuộc vào ba
khía cạnh khác nhau.15 Những khía cạnh này là:
• mức độ tự động hóa việc thực hiện hợp đồng thông minh;
• mức độ tách biệt giữa các điều khoản đã thỏa thuận thực tế và mã được thực thi; và
• quyền giám sát và / hoặc quyết định của các bên trong việc thực hiện hợp đồng thông
minh.
Xem xét yếu tố được đề cập, hợp đồng thông minh có thể phân loại làm hai loại. Thứ
nhất, Loại hợp đồng thông minh đầu tiên được ký kết 'không thông minh' (theo cách thức thông
thường trong giao kết hợp đồng truyền thống) và chỉ có việc thực hiện chúng là 'thông minh' -
vì vậy chúng là các hợp đồng thông minh tự thực thi 'thuần túy'. Các hợp đồng thông minh này
có thể được giao kết ngoài chuỗi hoặc trên chuỗi (blockchain), nhưng ngay cả trong trường hợp
giao kết trên chuỗi, các thuật toán chỉ được sử dụng như một công cụ đơn thuần trong việc hình
thành hợp đồng.16 Nhằm mô tả quá trình hình thành hợp đồng thông minh trên chuỗi thực tế,
chúng tôi sẽ giải thích cụ thể hơn thông qua quy trình của Ethereum. Cụ thể, quá trình này như
10 Một Công nghệ lưu trữ phân tán. Cụ thể, thông tin trong hệ thống blockchain sẽ được lưu trữ trên nhiều máy
tính chưa không chỉ ở một máy tính riêng lẻ nào. Nếu có bất kỳ thông tin nào được bổ sung thì tất cả máy tính
trong hệ thống sẽ cùng tạo ra một phiên bản mới của dữ liệu và lưu lại ở tất cả các máy tính. Do dữ liệu được lưu
trữ ở nhiều máy tính khác nhau, có thể được đặt ở nhiều nơi trên thế giới, việc tin tặc (hackers) tấn công riêng lẻ
vào một máy tính sẽ khó làm ảnh hưởng đến tình trạng lưu trữ của toàn hệ thống. Do đó, công nghệ blockchain
được đánh giá là an toàn trong lưu trữ dữ liệu; Xem thêm Caria, tlđd.
11 Như trên.
12 Caria, tlđd.
13 M.Mekki, ‘Les mystères de la blockchain’, Recueil Dalloz 2017, p.2160.
14 Như trên.
15 Durovic, M., & Janssen, A., “Formation of Smart Contracts under Contract Law”. in L. DiMatteo, M. Cannarsa,
& C. Poncibò (Eds.), The Cambridge Handbook of Smart Contracts, Blockchain Technology and Digital
Platforms, Cambridge Law Handbooks, Cambridge University Press, pp. 61-79.
16 Lauren Henry Scholz, “Algorithmic Contracts”, Stanford Technology Law Review, pp. 128-169.

146
sau: Trước tiên, người dùng nhập hợp đồng bằng ngôn ngữ mã hóa, sau khi tải xuống phần
mềm Ethereum và đăng nhập. Người dùng 'đề xuất' một hợp đồng cụ thể bằng cách cung cấp
và tải lên hệ thống điều kiện giao dich của mình. Hợp đồng có số nhận dạng riêng và 'hoạt động
một cách tự động trong hệ thống, hơi giống với cách một trang web có thể hoạt động trên
Internet'. Sau đó, một người dùng khác có thể 'chấp nhận hợp đồng được đề xuất' bằng cách
chấp nhận hợp đồng được đề xuất, ví dụ: bằng cách thanh toán [dựa trên điều kiện giao dịch đã
được người dùng ‘đề xuất’].17
Thứ hai, ngoài ra để ‘chấp nhận’ một hợp đồng thông minh được tải lên hệ thông, người
dùng và/hoặc một Oracle18 có thể gửi thông tin rằng gói hàng (đối tượng của hợp đồng) đã được
giao và sau đó hợp đồng sẽ tự động thực hiện thanh toán.19 Trong trường hợp này, hợp đồng
thông minh sẽ cần thông tin từ thế giới bên ngoài để cho phép nó thực hiện giao dịch (ví dụ:
nếu hợp đồng thông minh là một quyền chọn cổ phiếu, nó sẽ cần biết giá cổ phiếu). Blockchains
không được kết nối với Internet và vì vậy hợp đồng không thể tự kiểm tra giá cả mà cần phải
các bên thứ ba tin cập cung cấp các thông tin là điều kiện để thực hiện hợp đồng thông minh.20
Nếu không tính đến tường hợp hợp đồng thông minh chỉ được xem như công cụ thực hiện
hợp đồng giấy đã giao kết giữa các bên, việc sử dụng hợp đồng thông minh, dù là loại này, cũng
đặt ra những câu hỏi pháp lý quan trọng cần giải đáp. Điển hình, hợp đồng thông minh được tải
lên hệ thống blockchain có thỏa mãn các điều kiện phát sinh hiệu lực của pháp luật hợp đồng
hay không? Hay, trong trường hợp hợp đồng thông minh không tự động thực hiện do lỗi kỹ
thuật thì các biện pháp nào có thể được áp dụng? Bên cạnh đó, nếu thông tin của Oracle truyền
tải lên hệ thống dẫn đến việc hợp đồng không thực hiện được thì trách nhiệm sẽ thuộc về ai?
Phần 2 và Phần 3 dưới đây sẽ tuần tự giải đáp cho những câu hỏi này.
2. Kkả năng hợp đồng thông minh thoả mãn tính pháp lý của một hợp đồng
Nội dung phần này sẽ tập trung phân tích vấn đề áp dụng pháp luật hợp đồng của Việt
Nam đối với smart contract (Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Giao dịch điện
tử 2015 và các văn bản dưới luật có liên quan). Ngoài ra, như đã phân tích ở trên, smart contract
dựa vào blockchain dần đóng một vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, đặc biệt là mua
bán hàng hóa, do đó, phân tích của chúng tôi sẽ bao gồm các quy định của CISG như một phần
của pháp luật Việt Nam điều chỉnh cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua
smart contract.
2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng
Về đề nghị giao kết hợp đồng khi sử dụng hợp đồng thông minh, theo Điều 386 Bộ luật
Dân sự Việt Nam thì có thể có lời đề nghị với công chúng. Do đó, thuật ngữ "cung cấp cho
công chúng" có thể hiểu rằng đó là một đề nghị mà không có người nhận cụ thể không? Nói
chung, câu trả lời cho câu hỏi này là có.21 Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại điện tử, câu trả
lời cho câu hỏi này phải là không thể vì Điều 12 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về Thương mại
điện tử quy định: “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không
có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng. Thông báo đó chưa
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách
nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận.” Quy định này giống với quy
17 E. Tjong Tjin Tai, ‘Force Majeure and Excuses in Smart Contracts’,10 Tilburg Private Law Working Paper No.
4, 2018, truy cập tại: ssrn.com/abstract=3183637, p. 4.
18 Oracle là một thiết bị thường là máy tính chịu trách nhiệm cung cấp thông tin từ bên ngoài vào hệ thống
blockchain và thông thường là một máy tính của hệ thống. Oracle có thể thuộc cùng lúc hai hay nhiều hơn hệ
thống máy tính của các blockchain khác nhau.
19 Như trên,
20 Như trên.
21 Đỗ Văn Đại, Bình Luận Khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Hồng Đức-Hội luật gia Việt
Nam, 2016, tr. 371.

147
định của điều 14 (2) Công ước viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Do
đó, một đề nghị bằng ngôn ngữ máy tính cũng phải đáp ứng các điều kiện của đề nghị của pháp
luật. Về khía cạnh kỹ thuật thì việc xác định rõ chủ thể nhận đề nghị giao kết hợp đồng của
smart contract không phải là vấn đề khó khăn.
2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Liên quan đến việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, như chúng ta đã biết, sẽ có ba
tình huống chấp nhận đề nghị: chấp nhận mà không sửa đổi đề nghị, chấp nhận với sửa đổi
không cơ bản của đề nghị và cuối cùng là chấp nhận với sửa đổi cơ bản của đề nghị. Như đã đề
cập, hợp đồng thông minh sẽ được lập trình với các lệnh « if..then »22, do đó, sẽ rất khó để có
trường hợp có sự chấp nhận với việc sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng. Vì vậy, người ta tự hỏi
liệu “cử chỉ đơn giản là nhấp vào nút “Tôi chấp nhận” có đủ để cụ thể hóa sự thể hiện ý chí của
người nhận được đề nghị giao kết” đặc biệt là trong trường hợp hợp đồng thông minh được thể
hiện duy nhất bằng ngôn ngữ máy tính hay không? Từ đó, làm thế nào để một người có thể
chấp nhận đề nghị giao kết vốn được viết bằng ngôn ngữ mà người đó không thể hiểu rõ?23
Như đã phân tích về ứng dụng của hợp đồng thông minh trong thực tiễn, người ta chỉ sử
dụng công cụ này đối với các tác vụ đơn giản như thanh toán tiền nhà thuê, cho dịch vụ hay
hàng hòa được tiêu thụ.24 Trong những trường hợp này, người nhấn lệnh « tôi chấp nhận » hoàn
toàn có thể hiểu được hành vi cũng như hệ quả của hành vi mà người đó đang thực hiện. Theo
quan điểm của chúng tôi, điều này cũng phù hợp với pháp luật Việt Nam vì khoản 2 Điều 36
Luật Giao dịch điện tử quy định rằng “khi giao kết hợp đồng, trừ khi các bên có thỏa thuận
khác, giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu.”. Tại đây, nhấp
vào nút "tôi chấp nhận" có thể tạo ra một thông điệp dữ liệu được gửi đến bên chào hàng, do
đó có thể chấp nhận được như một biểu hiện của sự sẵn sàng cam kết với hợp đồng thông minh
với điều kiện là thông tin trong thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng để tham khảo nếu
cần thiết theo Điều 12 Luật GDĐT 2005.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể kết luận rằng hợp đồng được giao kết thông
qua hợp đồng thông minh hoàn toàn có thể đáp ứng được các điều kiện về giao kết hợp đồng
theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các hợp đồng này vẫn cần phải thỏa mãn các điều kiện về
hình thức lẫn nội dung và điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng để có thể có thể được duy trì
hiệu lực. Trên thực tế, nhiều tác giả đã cảnh báo rằng tính ẩn danh, sự tồn tại trên môi trường
số cũng như vấn đề về các chủ thể không đủ điều kiện thực hiện giao dịch, có thể dẫn đến rủi
ro hợp đồng vô hiệu. Nội dung dưới đây sẽ phân tích những quy định liên quan điều chỉnh cho
những vấn đề này trong bối cảnh hợp đồng thông minh.
2.3. Điều kiện về hình thức hợp đồng
Như đã đề cập, hợp đồng thông minh thường được sử dụng và tồn tại trong môi trường
số hóa. Khoản 7 Điều 683 BLDS 2015 quy định: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo
pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp
với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình
thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình
thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.” Trong một số trường hợp, hợp đồng bắt buộc
phải có hình thức văn bản, điển hình với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, khoản 2 Điều 27
LTM 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” Các hình thức có giá trị
22 Mustapha Mekki, tlđd, p.2160.
23 Như trên.
24 L.Jossier, “Le smart contract à l’épreuve des standards juridiques”, truy cập tại : https://www.actu-
juridique.fr/civil/obligations-contrats/le-smart-contract-a-lepreuve-des-standards-juridiques/ , truy cập lần cuối
ngày 14/02/2023.

