
103
THÁCH THỨC PHÁP LÝ TRONG ỨNG DỤNG HỢP ĐỒNG THÔNG MINH TẠI
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ LIÊN HỆ PHÁP LUẬT HOA KỲ
ThS. Trần Linh Huân
Nguyễn Phạm Thanh Hoa*
Tóm tắt
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0 diễn ra toàn cầu, công nghệ, kỹ thuật ngày càng phát
triển và hàng loạt các ứng dụng thông minh đã ra đời. Những ứng dụng này có tác động quan
trọng đến nền kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao mức sống của con người, đặc biệt là các
quốc gia đang phát triển. Trong đó, một ứng dụng phi truyền thống đã được áp dụng rộng rãi
tại nhiều quốc gia trên thế giới với tên gọi là hợp đồng thông minh. Tuy nhiên, tại Việt Nam,
ứng dụng này chỉ mới phát triển gần đây và nhiều thách thức đã được đặt ra đối với hệ thống
pháp luật nói chung và lĩnh vực pháp luật về hợp đồng nói riêng. Do vậy, bài viết này sẽ tập
trung phân tích pháp luật, các quy định có liên quan về hợp đồng thông minh tại Hoa Kỳ; kết
hợp đánh giá thực tiễn áp dụng hợp đồng thông minh ở nước ta, chỉ ra một số thách thức pháp
lý, từ đó, rút ra các kinh nghiệm trong việc xây dựng khung pháp lý về hợp đồng thông minh
tại Việt Nam.
Từ khóa: Hợp đồng thông minh, thách thức pháp lý, pháp luật Hoa Kỳ.
* Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

104
Đặt vấn đề
Hiện nay, có rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội đã vận dụng các nền tảng khoa
học, công nghệ để cải thiện, nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc, trong đó có lĩnh vực
hợp đồng. Hợp đồng là một trong những lĩnh vực pháp luật quan trọng để điều chỉnh các mối
quan hệ trong xã hội liên quan đến tài sản, dịch vụ, vận chuyển, các công việc có thể thực hiện
được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội. Ngày nay, với sự hỗ trợ của công
nghệ thì hình thức hợp đồng truyền thống đã dần được thay thế bằng hợp đồng thông minh.
Đây được xem là một xu thế tất yếu trong thời đại công nghệ, nhưng thực tế, hệ thống pháp luật
Việt Nam nói chung và lĩnh vực pháp luật hợp đồng nói riêng, hợp đồng thông minh vẫn còn
là một vấn đề mới và phải đối diện với nhiều thách thức khi áp dụng vào thực tiễn. Do vậy, việc
nghiên cứu học hỏi pháp luật nước ngoài, mà cụ thể là pháp luật Hoa Kỳ về hợp đồng thông
minh để từ đó, đưa ra một số đánh giá, kiến nghị phù hợp cho pháp luật Việt Nam khi điều
chỉnh các vấn đề về hợp đồng thông minh trong thời gian sắp tới là điều quan trọng, cần thiết
trong bối cảnh hiện nay.
1. Khái quát về hợp đồng thông minh
Hiện nay, chưa có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ hợp đồng thông minh. Theo một
hoặc một nhóm nhà khoa học máy tính, nhà mật mã Nick Szabo, hợp đồng thông minh được
hiểu là các giao thức, giao dịch được máy tính hóa để thực thi các điều khoản của hợp đồng.
Nói cách khác, hợp đồng thông minh là một tập hợp các thỏa thuận, được định dạng ở hình thức
kỹ thuật số, bao gồm các giao thức mà các bên sẽ thực hiện theo những thỏa thuận ở dạng đơn
giản nhất và là một chương trình có thể đọc được bằng máy.1 Đây là định nghĩa đầu tiên khi
nhắc đến hợp đồng thông minh mặc dù vậy, nó vẫn được đánh giá là tương đối toàn diện so với
các định nghĩa sau này. Cũng theo một quan điểm khác, hợp đồng thông minh được định nghĩa
là một hợp đồng được tự động thực hiện với các điều khoản thỏa thuận giữa người mua và
người bán, được viết trực tiếp bằng các dòng mã. Mã và các thỏa thuận đó tồn tại trên mạng
Blockchain2 phân tán, phi tập trung. Mã này kiểm soát việc thực hiện và các giao dịch sẽ được
theo dõi, không thể bị đảo ngược. Hợp đồng thông minh cho phép các giao dịch và thỏa thuận
được thực hiện giữa các bên khác nhau, có thể ẩn danh mà không cần cơ quan trung gian, hệ
thống pháp luật hoặc cơ chế thực thi bên ngoài.3 Có thể thấy rằng, cho đến thời điểm hiện tại,
chưa có một định nghĩa chung nhất khi nhắc đến hợp đồng thông minh, thêm vào đó, các khái
niệm về công nghệ Blockchain cũng như cách thức vận hành của hợp đồng thông minh trên nền
tảng công nghệ Blockchain đã gây ra sự khó hiểu cho người tiếp nhận thông tin cũng như cách
thức thực hiện hợp đồng thông minh trên thực tế, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như
Việt Nam.
Việc ứng dụng hợp đồng thông minh vào thực tế hiện nay mang lại nhiều hiệu quả và
có ý nghĩa nâng cao chất lượng thực hiện và cam kết của các bên khi tham gia vào hợp đồng,
cụ thể:4
(i) Tính chính xác. Trong quá trình thiết lập hợp đồng thông minh, tất cả các thông tin
liên quan sẽ được định dạng có điều kiện, tức là sử dụng lệnh cố định, các điều khoản và điều
kiện trong hợp đồng được thể hiện rõ ràng, chính xác. Vì vậy mà các vấn đề về lỗi kỹ thuật
1 Kristian Lauslahti, Juri Mattila (2017), “Smart Contracts – How will Blockchain Technology Affect Contractual
Practices”, Timo Seppala, tr. 3.
2 Blockchain là một nền tảng công nghệ mà hợp đồng thông minh được vận hành trên nền tảng này.
3 Jake Frankenfield (2021), “Smart Contracts”, https://www.investopedia.com/terms/s/smart-contracts.asp, truy
cập ngày 24/02/2023.
4 Trần Linh Huân (2022), “Hợp đồng thông minh và một số thách thức pháp lý đặt ra”, Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật
về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay, Khoa luật, Trường Đại học Công nghệ
TP. Hồ Chí Minh, tr. 162 - 162.

105
trong hình thức hợp đồng này sẽ rất khó xảy ra với điều kiện là nền tảng đã được đảm bảo an
toàn.
(ii) Tính minh bạch. Một trong những đặc trưng của hợp đồng thông minh là một khi
được thiết lập thì việc sửa đổi các điều khoản sẽ rất khó và hầu như là không thể. Đây cũng là
biểu hiện về đặc trưng bất biến của hợp đồng thông minh. Điều này đảm bảo tính đúng đắn của
nội dung hợp đồng cũng như tránh được các trường hợp gian lận.
(iii) Tính bảo mật. Vì các hợp đồng thông minh được thực hiện trên nền tảng công nghệ
Blockchain, mà công nghệ này có đặc trưng là hoạt động thông qua hệ thống kỹ thuật mật mã,
do vậy, nội dung của hợp đồng sẽ được mã hóa. Từ đó, bất kỳ hoạt động nào với mục đích xâm
nhập để đánh cắp dữ liệu thì sẽ nhanh chóng được ngăn chặn kịp thời. Chính vì những đặc trưng
nổi bật này đã khiến cho hình thức hợp đồng này dần trở nên phổ biến và có xu hướng áp dụng
ngày càng rộng rãi hơn.
2. Pháp luật Hoa Kỳ về hợp đồng thông minh
So với các quốc gia khác trên thế giới thì Hoa Kỳ là một trong số ít những quốc gia đi
đầu trong việc ghi nhận sự hiện diện về mặt pháp lý của hình thức hợp đồng thông minh trên
thực tế, mà sự ghi nhận này chủ yếu tập trung nhiều ở pháp luật một số tiểu bang. Nói cách
khác, ở cấp độ liên bang, các quy định pháp luật về hợp đồng thông minh chưa có sự ghi nhận
minh thị mà chỉ có những quy tắc chung.
Ở cấp độ liên bang, khái niệm hợp đồng thông minh chưa được quy định cụ thể. Theo
hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, hợp đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, đưa ra các
nghĩa vụ có thể thi hành hoặc được pháp luật công nhận. Để một thỏa thuận có hiệu lực thi hành
hoặc được pháp luật công nhận thì thỏa thuận này phải đáp ứng 03 yếu tố sau: (i) đưa ra một
lời đề nghị, lời đề nghị này được hiểu là việc một bên đã sẵn sàng tham gia vào một thỏa thuận
ràng buộc với điều kiện là người được đề nghị chấp nhận các điều khoản mà bên đề nghị đã đề
xuất; (ii) sự chấp nhận các điều khoản đó của các bên; khi lời đề nghị được đưa ra, bên được đề
nghị sẽ xem xét các nội dung và có sự thảo luận với bên đề nghị để đi đến một thỏa thuận với
các nội dung phù hợp với cả hai bên; (iii) một sự trao đổi giá trị lẫn nhau, được gọi là sự cân
nhắc. Theo đó, pháp luật đưa ra các biện pháp khắc phục cho việc vi phạm thỏa thuận ràng buộc
về mặt pháp lý như yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoặc trong một số trường hợp, quyết định của
Tòa án bắt buộc chấp hành hình phạt theo pháp luật.5 Cũng theo Bộ luật thương mại thống nhất
Hoa Kỳ, hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ thỏa thuận của các bên, thỏa thuận
này được tìm thấy trong ngôn ngữ hoặc suy ra từ các trường hợp khác bao gồm quá trình thực
hiện, quá trình giao dịch hoặc sử dụng thương mại (Điều 1-201).6 Nhìn chung, luật liên bang
chưa đưa ra khái niệm chính thức về hợp đồng thông minh, hiện tại, nó chỉ mới dừng lại với
các định nghĩa liên quan đến hợp đồng nói chung. Do vậy, việc nhận diện và hiểu các vấn đề
pháp lý về hợp đồng thông minh được dựa nhiều vào quan điểm của các chuyên gia. Theo Dvid
M.Adlerstein, cố vấn tại công ty luật thành phố New York Wachtell, Lipton Rosen & Katz, hợp
đồng thông minh có thể, nhưng không nhất thiết phải là hợp đồng bị ràng buộc về mặt pháp lý.7
Quan điểm này có nghĩa là, hợp đồng thông minh có thể chỉ đại diện cho một thành phần hoặc
phương tiện để thực hiện một phần của hợp đồng, chỉ phần này có sự ràng buộc về mặt pháp lý
chứ không phải là toàn bộ hợp đồng. Nói cách khác, hợp đồng thông minh không bắt buộc phải
có giá trị pháp lý toàn bộ mà chỉ cần có giá trị một phần, phần này có liên quan đến vấn đề đang
xem xét.
5 USA: Smart Contracts Definition and Legality, https://neo-project.github.io/global-blockchain-compliance-
hub//united-states-of-america/USA-smart-contracts.html, truy cập ngày 24/01/2023.
6 Điều 1 – 201 Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, Uniform Commerical Code,
https://www.law.cornell.edu/ucc/1, truy cập ngày 24/1/2023.
7 USA: Smart Contracts Definition and Legality, https://neo-project.github.io/global-blockchain-compliance-
hub//united-states-of-america/USA-smart-contracts.html, truy cập ngày 24/01/2023.

106
Mặc dù không có luật liên bang Hoa Kỳ hoặc hướng dẫn nào xác định rõ trạng thái của
hợp đồng thông minh nhưng Đạo luật chữ ký điện tử liên bang năm 2000 trong Đạo luật thương
mại toàn cầu và quốc gia, gọi tắt là Đạo luật chữ ký điện tử Hoa Kỳ có thể đã cung cấp đủ giá
trị pháp lý để các hợp đồng thông minh được thi hành theo luật hiện hành. Theo Đạo luật chữ
ký điện tử, thì chữ ký điện tử, hợp đồng và hồ sơ sẽ có hiệu lực pháp lý giống như chữ ký trên
giấy. Luật này nêu rõ rằng, chữ ký, hợp đồng hoặc hồ sơ khác liên quan đến giao dịch đó có thể
không bị từ chối hiệu lực pháp lý, hiệu lực hoặc khả năng thực thi chỉ vì nó ở dạng điện tử hay
trong trường hợp một hợp đồng có liên quan đến giao dịch đó cũng có thể sẽ không bị từ chối
hiệu lực pháp lý, hiệu lực và khả năng thực thi chỉ vì chữ ký điện tử hoặc hồ sơ điện tử được sử
dụng trong quá trình hình thành hợp đồng.8 Và việc thực thi các hợp đồng thông minh trên nền
tảng công nghệ chuỗi khối có thể thuộc thẩm quyền của Đạo luật chữ ký điện tử giống như bất
kỳ hợp đồng điện tử nào khác. Tuy nhiên, vẫn chưa có hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này ở cấp
liên bang.9 Pháp luật Hoa Kỳ mặc dù chưa có quy định chính thức nào về giá trị của hợp đồng
thông minh, nhưng thông qua các điều khoản của Đạo luật chữ ký điện tử và Đạo luật Thương
mại thống nhất Hoa Kỳ năm 2001 thì không thể phủ nhận sự tồn tại của hợp đồng thông minh,
nói cách khác, thông qua điều khoản về chữ ký điện tử, hợp đồng thông minh vẫn được ngầm
thừa nhận.
Ở cấp tiểu bang, Ủy ban Luật Thống nhất – một Hiệp hội pháp lý ở Hoa Kỳ chuyên
nghiên cứu và soạn thảo luật mẫu mà các tiểu bang có thể chọn sửa đổi hoặc tự mình áp dụng,
thúc đẩy tính thống nhất của luật. Từ đó, các tiểu bang đã ban hành Đạo luật Giao dịch điện tử
thống nhất (Uniform Electronic Transaction Act), viết tắt là UETA năm 1999 đã được thông
qua bởi 47 tiểu bang. Lưu ý rằng, đối với những tiểu bang mà không phê duyệt UETA thì vẫn
duy trì giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử.
Đạo luật UETA quy định rằng, một bản ghi hoặc chữ ký không thể bị từ chối hiệu lực
pháp lý hoặc khả năng thực thi chỉ vì nó ở dạng điện tử và rằng một hợp đồng có thể không bị
từ chối hiệu lực pháp lý hoặc khả năng thực thi chỉ vì một hồ sơ điện tử đã được sử dụng để
hình thành nó. Cũng giống như Đạo luật chữ ký điện tử, tại 47 tiểu bang đã thông qua Đạo luật
Giao dịch điện tử thống nhất, luật tiểu bang đã cho phép thực thi các hợp đồng thông minh.
Arizona là tiểu bang duy nhất đã thông qua luật phê duyệt hợp đồng thông minh một cách rõ
ràng. Tiểu bang khác là Nevada cũng đã ban hành luật công nhận hợp pháp dữ liệu được lưu
trữ trên nền tảng công nghệ chuỗi khối và điều này cũng có thể áp dụng cho hợp đồng thông
minh. Mặc dù hướng điều chỉnh của Nevada là không trực tiếp thừa nhận sự hiện diện về mặt
pháp lý của hợp đồng thông minh nhưng cũng đã có sự ghi nhận về việc tồn tại của hình thức
hợp đồng này.
Arizona đã trở thành một trong những tiểu bang đầu tiên giải quyết các vấn đề xung
quanh khả năng thực thi của các giao dịch điện tử được tạo, thực hiện hoặc được xác thực bằng
công nghệ chuỗi khối, nói cách khác, tiểu bang này đã hợp pháp hóa việc áp dụng các quy định
về hợp đồng thông minh. Vào tháng 3/2017, Arizona đã thông qua House Bill 2417 – Một luật
sửa đổi mục 44-7003, Điều lệ sửa đổi của Arizona; sửa đổi tiêu đề 44, Chương 26, Đạo luật sửa
đổi của Arizona, bằng cách thêm Điều 5 liên quan đến giao dịch điện tử. Trong sửa đổi này,
hàng loạt các nội dung mới đã được ban hành, trong đó, nổi bật là việc công nhận giá trị pháp
lý của hợp đồng thông minh.10 Theo đó, hợp đồng thông minh được hiểu là một chương trình
8 Điều 101 Đạo luật chữ ký điện tử liên bang năm 2000 trong Đạo luật thương mại toàn cầu và quốc gia (Sec 101
The Electronic Signatures in Global and National Commerce Act). Link:
https://www.govinfo.gov/content/pkg/PLAW-106publ229/pdf/PLAW-106publ229.pdf., truy cập ngày 24/1/2023.
9 USA: Smart Contracts Definition and Legality, https://neo-project.github.io/global-blockchain-compliance-
hub//united-states-of-america/USA-smart-contracts.html, truy cập ngày 24/01/2023.
10 Margaret Mentz Thompson (2018), “Blockchain and State Law: Five Legisslative Developments”,
https://www.bakerdonelson.com/blockchain-and-state-law-five-legislative-developments, truy cập ngày
24/01/2023.

107
hướng sự kiện, có trạng thái, chạy trên một sổ cái phân tán, phi tập trung, chia sẻ, nhân rộng;
có thể quản lý và hướng dẫn chuyển giao tài sản trên sổ cái đó. Hợp đồng thông minh có thể
tồn tại trong hoạt động thương mại, một hợp đồng liên quan đến một giao dịch có thể không bị
từ chối hiệu lực pháp lý, hiệu lực hoặc khả năng thực thi chỉ vì hợp đồng đó có điều khoản về
hợp đồng thông minh.11 Ngoài ra, một số khái niệm đặc thù liên quan đến hợp đồng thông minh
đã được định nghĩa, gồm công nghệ chuỗi khối. Công nghệ chuỗi khối là yếu tố không thể thiếu
của hợp đồng thông minh, đây là công nghệ sử dụng sổ cái phân tán phi tập trung, chia sẻ và
nhân rộng, có thể là công khai hoặc riêng tư, được phép hoặc không được phép, hoặc được thúc
đẩy bởi nền kinh tế tiền điện tử được mã hóa hoặc không có mã thông báo, dữ liệu trên sổ cái
được bảo vệ bằng mật mã, không thay đổi và có thể kiểm tra được, đồng thời cung cấp sự thật
không bị kiểm duyệt.12 House Bill 2417 đã sửa đổi Đạo luật Giao dịch điện tử tiểu bang này để
cung cấp các khái niệm về bản ghi điện tử, chữ ký điện tử trên hợp đồng và hợp đồng thông
minh được đảm bảo thông qua công nghệ chuỗi khối. Những sửa đổi này làm cho các hợp đồng
thông minh và ký tự chuỗi khối có hiệu lực pháp lý, hiệu lực và khả năng thực thi giống như
hợp đồng giấy. Nói cách khác, luật tiểu bang Arizona đã cụ thể hóa tư duy pháp lý của liên
bang Hoa Kỳ, đưa ra những giải thích nhằm nhận diện thuật ngữ hợp đồng thông minh và công
nhận giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng này trên thực tế.
Đối với tiểu bang Nevada13, vào ngày 5/6/2017, thống đốc bang Nevada đã ký Dự luật
Thượng viện 398 (Senate Bill 398). Dự luật này cung cấp một khuôn khổ cho việc sử dụng và
khả năng thực thi của công nghệ chuỗi khối trong các hợp đồng và làm chữ ký điện tử trong hồ
sơ điện tử đó. Theo đó, Dự luật này đã công nhận hợp pháp các hồ sơ, chữ ký và hợp đồng điện
tử phải tuân thủ các yêu cầu nhất định và cho phép hồ sơ hoặc chữ ký điện tử đáp ứng các yêu
cầu đối với hồ sơ hoặc chữ ký bằng văn bản trong một số trường hợp nhất định. Hàng loạt các
nội dung mới đã được quy định trong dự luật này.14 Cụ thể:
Thứ nhất, về khái niệm Blockchain. Tại Điều 1 của Dự luật thì Blockchain được định
nghĩa là một bản ghi điện tử các giao dịch hoặc dữ liệu khác: được sắp xếp thống nhất, được
duy trì hoặc xử lý dự phòng bởi một hoặc nhiều máy tính hoặc thiết bị để đảm bảo tính nhất
quán hoặc không thể chối bỏ các giao dịch hoặc dữ liệu khác được ghi lại; xác thực bằng cách
sử dụng mật mã.15 Từ khái niệm này, Blockchain hiểu đơn giản là nơi chứa các dữ liệu được
ghi lại dưới dạng điện tử, được sắp xếp và kết nối thống nhất với nhau. Các dữ liệu này sẽ được
đảm bảo tính thống nhất và không bị sửa đổi bởi các dữ liệu khác nhờ vào cơ chế bảo đảm của
công nghệ này và các khối có chứa dữ liệu sẽ được liên kết bằng cách sử dụng mật mã.
Thứ hai, về khái niệm hồ sơ điện tử. Hồ sơ điện tử có nghĩa là hồ sơ được tạo ra, gửi đi,
truyền, nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Thuật ngữ này bao gồm nhưng không giới
hạn chuỗi khối.16 Dựa vào cách định nghĩa này thì thuật ngữ Blockchain và hồ sơ điện tử mặc
dù không thống nhất nhưng có thể bao gồm lẫn nhau một số nội dung về công nghệ, tức tính
điện tử của dữ liệu.
11 Arizona House Bill 2417, https://legiscan.com/AZ/text/HB2417/id/1497439, truy cập ngày 24/01/2023.
12 Arizona House Bill 2417, https://legiscan.com/AZ/text/HB2417/id/1497439, truy cập ngày 24/01/2023.
13 Margaret Mentz Thompson (2018), “Blockchain and State Law: Five Legisslative Developments”,
https://www.bakerdonelson.com/blockchain-and-state-law-five-legislative-developments, truy cập ngày
24/01/2023.
14 Dự luật Thượng viện 398 (Senate Bill 398),
https://www.leg.state.nv.us/Session/79th2017/Bills/SB/SB398_EN.pdf, truy cập ngày 25/01/2023.
15 Section 1. “Blockchain” means an electronic record of transactions or other data which is:
1. Uniformly ordered;
2. Redundantly maintained or processed by one or more computers or machines to guarantee the consistency or
nonrepudiation of the recorded transactions or other data; and
3. Validated by the use of cryptography.
16 Section 3. “Electronic record” means a record created, generated, sent, communicated, received or stored by
electronic means. The term includes, without limitation, a blockchain.

