
179
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VỀ GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THÔNG MINH
(SMART CONTRACT) TẠI TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
– VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ VÀ NGÔN NGỮ MÃ HÓA
Nguyễn Ngọc Hồng Anh*
Nguyễn Hoàng Thái Hy**
Tóm tắt
Ngày nay, hợp đồng thông minh (“Smart Contract”) được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong
rất nhiều lĩnh vực nhờ vào tính tự động, an toàn, tiện lợi, hiệu quả do công nghệ chuỗi khối
(“Blockchain”) mang lại. Đặc biệt, có quan điểm cho rằng hợp đồng thông minh có thể loại bỏ
sự can thiệp của các bên thứ ba (tòa án, các ngân hàng,... vào các giao dịch ứng dụng công cụ
này, bao gồm có ngân hàng, các tổ chức tín dụng và thậm chí các cơ quan tài phán. Nhiều loại
Smart Contract thậm chí được xem là có giá trị pháp lý tương tự như một hợp đồng thông
thường. Tuy nhiên, dù hoàn thiện tới đâu, công nghệ cũng không thể loại bỏ hoàn toàn các rủi
ro tiềm ẩn trong việc tự động giao kết và thực hiện hợp đồng, từ đó ảnh hưởng đến các bên
trong quan hệ hợp đồng. Do đó, vai trò của tòa án đối với các tranh chấp có thể phát sinh từ
Smart Contract vẫn vô cùng quan trọng trong bối cảnh đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ về công
nghệ trong các hoạt động dân sự, kinh doanh thương mại trong xã hội. Dù vậy, đặc tính công
nghệ gắn liền với Blockchain và hình thức tồn tại dưới dạng mã lập trình thay vì ngôn ngữ
thông thường có thể gây ra những khó khăn lớn cho các thủ tục và nguyên tắc hiện hành dùng
để giải thích hợp đồng. Trong phạm vi của bài viết này, mục đích chủ đạo đồng tác giả là đưa
ra những đề xuất cho pháp luật Việt Nam về việc nên áp dụng và xây dựng các quy định về giải
thích hợp đồng như thế nào để phù hợp với Smart Contract. Bài viết trước hết nghiên cứu những
đặc tính về công nghệ của Smart Contract ảnh hưởng đến quá trình giải thích hợp đồng, nhận
diện những đặc trưng trong các hướng tiếp cận của pháp luật về giải thích hợp đồng của một số
quốc gia trên thế giới và Việt Nam, từ đó tìm kiếm những đề xuất có tính phù hợp với pháp luật
Việt Nam từ trong những quan điểm của các học giả nước ngoài đến từ các quốc gia có hướng
tiếp cận khác nhau về giải thích hợp đồng.
Từ khóa: smart contract, hợp đồng thông minh, giải thích hợp đồng, giải quyết tranh chấp.
* Sinh viên lớp TMQT43, Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
** Thạc sĩ Luật học, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

180
GIỚI THIỆU
Smart Contract, hay lược dịch là Hợp đồng Thông minh, với những ưu điểm gắn liền với
công nghệ sổ cái phân tán phi tập trung Blockchain, hiện nay đã trở thành một công cụ có nhiều
triển vọng về mặt ứng dụng đối với nhiều lĩnh vực. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến, việc
thực hiện các giao dịch trao đổi tài sản mã hóa gắn liền với Blockchain thông qua Smart
Contract, đã và đang trở thành một xu hướng vô cùng phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam.
Về những ưu điểm khiến công cụ này được nhiều người tin tưởng lựa chọn, bên cạnh tính tự
động thực thi nhanh chóng và tự động các thỏa thuận của các bên khi máy tính kiểm tra việc
đáp ứng các điều kiện định sẵn trong thiết lập1, dữ liệu của Smart Contract còn trở nên không
thể bị sửa đổi, cung cấp những thông tin trung thực tuyệt đối với mô hình lưu trữ cơ sở dữ liệu
trên chuỗi khối Blockchain, phương thức mã hóa bằng hàm băm để bảo vệ dữ liệu, nhờ đó các
giao dịch diễn ra không phụ thuộc vào sự chi phối và quản lý của bất kỳ một máy chủ riêng biệt
hay một bên trung gian nào2. Thậm chí một số quan điểm cho rằng Smart Contract do đó có thể
loại bỏ sự can thiệp của các bên thứ ba vào giao dịch3, bao gồm có ngân hàng, các tổ chức tín
dụng và cả các cơ quan tài phán. Mặc dù không thể phủ nhận các ưu điểm của Smart Contract,
công cụ này vẫn luôn tiềm tàng những rủi ro trước mối nguy bị xâm nhập hoặc tấn công mạng,
hoặc bị lợi dụng để thực hiện các hành vi trái pháp luật. Xét đến quan hệ hợp đồng, giao dịch
dân sự giữa các chủ thể, mặc dù Smart Contract được đề cao vì tính chất tự ràng buộc, tự thực
thi của nó, khả năng tranh chấp hợp đồng xảy ra là vẫn tồn tại, khi mà Smart Contract có thể
hoạt động không như mong muốn khi bị tấn công bởi hacker4, hoặc do bởi những giới hạn về
thực thi khi xây dựng một giao dịch Smart Contract có liên quan đến các yếu tố bên ngoài chuỗi
khối Blockchain5.
Trước bối cảnh phức tạp đó, quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới hiện nay
liên quan đến giải thích các điều khoản của Smart Contract ngược lại chỉ mới tồn tại ở mức độ
sơ khai. Rủi ro dành cho các chủ thể thực hiện giao dịch bằng Smart Contract luôn có thể phát
sinh, khi mà pháp luật vẫn chưa thể bảo vệ quyền lợi của những bên này một cách đầy đủ khi
có tranh chấp xảy ra. Xét về tính chất pháp lý, một số loại hình Smart Contract đáp ứng các
điều kiện luật định cho việc hình thành một hợp đồng theo các nước Thông luật và Dân luật,
bao gồm: sự đồng thuận thông qua đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng; mục đích
giao kết hợp đồng nhất định mà các bên hướng tới, hay đối với Thông luật là tiêu chí về nghĩa
vụ đối ứng (consideration); và ý định tạo lập quan hệ pháp lý của chủ thể giao kết hợp đồng6.
Do đó, các loại Smart Contract trên có tính ràng buộc pháp lý tương tự như một hợp đồng truyền
thống7, vẫn phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng, và cần có sự can thiệp của
Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp và đảm bảo thực thi. Trong đó, hoạt động giải thích hợp
đồng là một thành phần cơ bản trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu như có thể đạt được
một thủ tục và đưa ra các nguyên tắc giải thích hợp đồng thích hợp, thì có thể phần nào làm rõ
1 Alexander Savelyev, “Contract Law 2.0: «Smart» Contracts As the Beginning of the End of Classic Contract
Law”, Higher School of Economics Research, 2016, Paper No. WP BRP 71/LAW/2016, tr. 11.
2 Konstantinos Christidis, Michael Devetsikiotis, “Blockchains and Smart Contracts for the Internet of Things”,
IEEE Access, 2016, 4, tr. 2293.
3 Larry A. Dimatteo, Cristina Poncibó, “Quandary of Smart Contracts and Remedies: The Role of Contract Law
and Self-Help Remedies”, European Review of Private Law, 2018, Volume 26, Issue 6, tr. 817.
4 Samuel Falkon, “The Story of the DAO — Its History and Consequences”, ngày 24/12/2017, xem tại:
[https://medium.com/swlh/the-story-of-the-dao-its-history-and-consequences-71e6a8a551ee] (truy cập ngày
09/02/2023).
5 Mateja Durovic, André Janssen, “Formation of Smart Contracts under Contract Law”, The Cambridge
Handbook of Smart Contracts, 2019, tr. 62; Alexander Savelyev, tlđd (1), tr.63.
6 Marina Kasatkina, “The Interpretation of Smart Contracts in the EU and the USA”, International Comparative
Jurisprudence, 2021, Vol. 7 No. 2, tr. 208-210; Nguyễn Ngọc Khánh, “Chế định hợp đồng: những quy định
chung và một số vấn đề cần hoàn thiện”, Nghiên cứu Lập pháp, ngày 01/12/2003, xem
tại:[http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210127] (truy cập ngày 09/02/2023).
7 Alexander Savelyev, tlđd (1), tr.8.

181
và củng cố được khả năng can thiệp vào các giao dịch Smart Contract của cơ quan giải quyết
tranh chấp. Bài viết này mong muốn đóng góp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện khung
pháp lý về giải thích hợp đồng đối với Smart Contract, thông qua việc nghiên cứu cách thức
thực hiện điều này từ các đề xuất, khuyến nghị của các học giả đến từ các quốc gia có những
hướng tiếp cận khác nhau về giải thích hợp đồng, cũng như tìm kiếm những đề xuất phù hợp,
có tính khả thi cho Việt Nam. Để làm được điều đó, trước hết cũng cần làm rõ định nghĩa và
một số đặc tính công nghệ của Smart Contract khiến cho loại hình này cần phải được áp dụng
những cách giải thích hợp đồng khác biệt với hợp đồng thông thường.
1. TỔNG QUAN VỀ SMART CONTRACT VÀ QUÁ TRÌNH GIẢI THÍCH SMART
CONTRACT
1.1. Tổng quan về Smart Contract
Cho đến hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau cho Smart Contract, và cũng
không có một cách định nghĩa nào nhận được sự đồng tình chung tuyệt đối8. Một trong những
cách định nghĩa đơn giản nhất về Smart Contract nhấn mạnh tính tự động thực thi, theo đó
Smart Contract là một đoạn mã lập trình được tạo ra để tự động thực thi các nghĩa vụ hợp đồng
khi xảy ra các điều kiện định sẵn, hoặc là một thỏa thuận được thực hiện một cách tự động,
thường là bởi chương trình máy tính”9. Cách định nghĩa này chịu ảnh hưởng từ thuật ngữ “smart
contract” được sử dụng lần đầu tiên bởi Nick Szabo vào năm 1994, trước cả sự ra đời của
Blockchain năm 2008, vốn dĩ là thuật ngữ để chỉ mô hình hợp đồng được tích hợp những điều
khoản vào phần cứng hoặc phần mềm nhằm ngăn chặn sự vi phạm nghĩa vụ10. Cách định nghĩa
trên do đó không phân định rõ tính mới của hợp đồng thông minh so với các mô hình hợp đồng
tự thực thi khác, ví dụ như máy bán hàng tự động. Một cách định nghĩa khác được cho là chắc
chắn hơn, được đưa ra bởi Gideon Greenspan: “Hợp đồng thông minh là một đoạn mã lập trình,
được lưu trữ trên Blockchain, được kích hoạt bởi các giao dịch Blockchain, đọc và ghi lại dữ
liệu lên Blockchain đó”. Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào mối liên hệ mật thiết giữa
Blockchain và Smart Contract, cho thấy Smart Contract vận hành trên Blockchain, một cơ chế
lưu trữ cơ sở dữ liệu phân tán trên nhiều máy tính khác nhau, phi trung gian, không thể thay
đổi, và do đó Smart Contract cũng mang những đặc điểm công nghệ cốt lõi trên của
Blockchain11. Từ những điểm chung trong các quan điểm khác nhau, có thể hiểu khái quát
Smart Contract là một thỏa thuận điện tử, mà: dưới dạng ngôn ngữ lập trình máy tính, do đó, là
một chương trình máy tính, hoặc phần mềm; khởi chạy trên công nghệ sổ cái phân tán, phi trung
gian Blockchain, do đó, mang tính phi trung gian và không thể thay đổi; có tính tự thực thi, tự
ràng buộc mà không cần có sự can thiệp của con người, do đó, được gọi là “thông minh”12.
Các đặc điểm công nghệ phức tạp và mới mẻ của Smart Contract mang lại nhiều ưu điểm
cho người dùng so với hợp đồng truyền thống, nhưng cũng chính những đặc điểm này sẽ gây
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giải thích các điều khoản của hợp đồng do các cơ quan tài
phán tiến hành một khi có tranh chấp phát sinh. Thứ nhất, về hình thức hợp đồng, Smart
Contract tồn tại dưới dạng thông điệp dữ liệu, và ngôn ngữ của hợp đồng phải là ngôn ngữ mã
hóa (code) để có thể được khởi chạy như một chương trình máy tính. Điều này gây ra những
khó khăn cho những chủ thể có thẩm quyền giải thích hợp đồng khi phải tiếp cận với loại ngôn
ngữ mã hóa mà chỉ có những người có chuyên môn về lập trình mới có khả năng đọc hiểu được.
8 Alexander Savelyev, tlđd (1), tr.5.
9 Mateja Durovic, André Janssen, tlđd (5), tr. 62.
10 Nick Szabo, “Smart Contracts: Formalizing and Securing Relationships on Public Networks”, First Monday,
1997, Volume 2, Number 9 - 1, xem tại: [https://firstmonday.org/ojs/index.php/fm/article/download/548/469]
(truy cập lần cuối 09/02/2023).
11 Alexander Savelyev, tlđd (1),tr. 6.
12 Riccardo De Caria, “The Legal Meaning of Smart Contracts”, European Review of Private Law, 2018, Volume
26, Issue 6, tr. 737; Michel Cannarsa, “Contract Interpretation”, The Cambridge Handbook of Smart Contracts,
Blockchain Technology and Digital Platforms, 2019, tr. 105.

182
Thứ hai, ngôn ngữ lập trình mã hóa được sử dụng trong Smart Contract là loại ngôn ngữ có tính
chính xác cao, với các cấu trúc ngữ nghĩa và cú pháp rất chặt chẽ. Cách mà một máy tính sẽ
hiểu khi được chỉ dẫn bởi một đoạn mã lập trình chỉ có một nghĩa duy nhất, hoàn toàn không
cho phép sự tùy ý trong cách hiểu và thực thi13. Ngôn ngữ mã hóa do đó được ví von là “dry-
language”, trong khi ngôn ngữ con người ngược lại là “wet-language”14, do bộ não con người
có thể có những cách hiểu rất khác nhau với cùng một nội dung, dựa trên những cách thức phán
đoán và tư duy khác nhau. Tuy nhiên, cần phải làm rõ điều đó không có nghĩa là Smart Contract
sẽ hoàn toàn không bị chi phối bởi tính đa nghĩa của ngôn ngữ con người. Quá trình làm ra một
Smart Contract trên thực tế đòi hỏi sự giao tiếp nhiều tầng lớp giữa các bên trong hợp đồng với
bên chịu trách nhiệm lập trình cho hợp đồng đó, nghĩa là giữa con người với con người, và bên
lập trình sẽ đưa các ý định này chuyển thành ngôn ngữ mã hóa để máy tính có thể hiểu được,
nghĩa là giữa con người với máy tính15. Do đó, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro vận hành sai
do hiểu lầm ý định, có thể phát sinh ở bất cứ khâu nào trong suốt quá trình này. Thứ ba, Smart
Contract có tính chất tự ràng buộc, tự thực thi theo các thiết lập ban đầu dưới dạng câu điều
kiện “nếu-thì” bằng các đoạn mã, mà không thể thay đổi được do đặc tính công nghệ gắn liền
với Blockchain16, không cần có sự tác động để thực thi của con người một khi điều kiện được
kích hoạt. Rủi ro hợp đồng thực thi không đúng ý định có thể xảy ra do lỗi kỹ thuật, do sự mất
kiểm soát ngay từ trong thiết lập các điều kiện của Smart Contract. Từ các lý do trên, để giải
thích điều khoản của một Smart Contract, có thể phải cần đến một thủ tục và cách thức giải
thích hợp đồng khác biệt so với giải thích một hợp đồng thông thường.
Cũng cần phải lưu ý rằng, có nhiều loại Smart Contract khác nhau dựa trên hình thức
ngôn ngữ, và việc giải thích đối với mỗi loại đó có thể được tiến hành khác nhau. Quan điểm
phân loại dựa trên hình thức ngôn ngữ được đưa ra bởi Ủy ban Pháp luật nước Anh và xứ Wales
đã phân chia Smart Contract thành ba dạng. Thứ nhất là “hợp đồng truyền thống được mã hóa
để thực thi tự động” (natural language contract with automated performance), trong đó Smart
Contract không gắn liền với việc thể hiện các nghĩa vụ hợp đồng, mà chỉ đơn thuần là công cụ
dùng để thực thi một hợp đồng thông thường nên hoàn toàn có thể giải thích như một hợp đồng
thông thường. Dạng thứ hai là “Smart Contract hỗn hợp” (hybrid smart contract), quá trình
soạn thảo có thể tạo ra cả phiên bản ngôn ngữ con người và phiên bản ngôn ngữ mã hóa của
Smart Contract. Có khả năng một Smart Contract hỗn hợp sẽ được lập chủ yếu bằng mã hóa,
chỉ với một vài điều khoản như điều khoản giải quyết tranh chấp được lập bằng ngôn ngữ con
người, hoặc được soạn thảo đa phần bằng ngôn ngữ con người, với chỉ một vài điều khoản mã
hóa. Một điều khoản nào đó có thể nằm trong một hoặc cả hai phiên bản ngôn ngữ. Cuối cùng,
là dạng “Smart Contract mã hóa toàn phần” (solely code contract), là dạng Smart Contract mà
không tồn tại một phiên bản ngôn ngữ con người nào của hợp đồng17.
1.2. Quá trình giải thích Smart Contract
“Giải thích hợp đồng” là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự, là Tòa án hoặc Trọng tài, nhằm làm rõ những nội dung, điều khoản
không rõ ràng của hợp đồng, dựa trên những nguyên tắc, căn cứ được luật định, khi các bên
trong hợp đồng không thống nhất cách hiểu về một nội dung, điều khoản của hợp đồng, dẫn
13 Alexander Savelyev, tlđd (1), tr.10.
14 Thuật ngữ “wet” và “dry” (ướt và khô) trong ngữ cảnh này được đưa ra bởi Nick Szabo, khi “wet” mô tả
những gì sẽ được diễn giải bởi bộ não con người, còn “dry” là những gì được hiểu bởi máy tính.
15 Green Sarah, "Smart Contracts, Interpretation and Rectification", Lloyd’s Maritime and Commercial Law
Quarterly, 2018, 234 (2018), tr. 239.
16 Law Commission, “Smart legal contracts: advice to Government”, 2021, tr. 14-15, xem tại:
[https://www.lawcom.gov.uk/project/smart-contracts/] (truy cập ngày 09/02/2023).
17 Law Commission, tlđd (16), tr. 22.

183
đến phát sinh tranh chấp18, không phải để chỉ việc các bên tự mình giải thích các điều khoản
một cách tự phát mà không bị ràng buộc bởi quy trình, thủ tục hay quy định nào. Có nhiều quan
điểm và cách tiếp cận khác nhau về giải thích hợp đồng, bao gồm hướng tiếp cận chủ quan -
giải thích hợp đồng chú trọng vào ý chí đích thực của các bên khi giao kết hợp đồng, hướng
tiếp cận khách quan - chú trọng sự thể hiện ý chí bằng ngôn từ trên hợp đồng hơn khi giải thích,
và quan điểm kết hợp cả hướng tiếp cận trên - cũng là xu hướng phổ biến nhất19. Trên thực tế
rất khó tìm thấy dạng thuần khiết của hai hướng tiếp cận khách quan và chủ quan trong pháp
luật của các quốc gia. Hầu hết các nước hiện nay đều vận dụng kết hợp cả hai hướng tiếp cận
này nhưng ở mức độ khác nhau20.
Giải thích một hợp đồng thông thường cần cân nhắc đến hai yếu tố chính, đó là ý chí thực
sự của các bên và ngôn từ hợp đồng. Trong khi đó, việc giải thích Smart Contract cần phải cân
nhắc đến ba yếu tố là ý chí thực sự, ngôn từ và ngôn ngữ mã hóa. Mỗi một phân loại của Smart
Contract đều có thể chứa bất kỳ tổ hợp yếu tố nào trong số ba yếu tố này21. Ví dụ, Smart Contract
hỗn hợp có cả phiên bản ngôn ngữ con người và phiên bản ngôn ngữ mã hóa có thể có cả ba
yếu tố trên. Còn Smart Contract mã hóa toàn phần tồn tại yếu tố ý chí thực sự và yếu tố ngôn
ngữ mã hóa, và trong một số trường hợp, vẫn có thể tìm thấy yếu tố ngôn ngữ con người trong
các tài liệu quy trình phục vụ cho lập trình, lưu ý rằng các tài liệu này không có tính ràng buộc
pháp lý như một hợp đồng22. Khi giải thích điều khoản của một Smart Contract cần cân nhắc
các yếu tố trên và làm rõ các ý sau. Thứ nhất, xác định ý chí thực sự của các bên có được phản
ánh chính xác trên hợp đồng hoặc tài liệu bằng ngôn ngữ con người không. Thứ hai, xác định
ngôn ngữ mã hóa của Smart Contract có mã hóa chính xác ngôn ngữ và ý chí từ bước trên
không. Thứ ba, xác định xem Smart Contract có thực thi trên máy tính đúng những gì nó được
thiết lập không23.
2. GIẢI THÍCH SMART CONTRACT THEO QUY ĐỊNH GIẢI THÍCH HỢP
ĐỒNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Giải thích Smart Contract áp dụng phương pháp giải thích khách quan ở các
quốc gia Thông luật
Hướng tiếp cận khách quan là hướng tiếp cận chú trọng đến sự thể hiện ý chí, là ý chí đã
được các bên tuyên bố trong hợp đồng, bất luận ý chí thực sự của các bên khi giao kết hợp đồng
là như thế nào24. Khi giải thích hợp đồng theo hướng tiếp cận này, phải dựa vào sự thể hiện ý
chí, thường là ngôn từ của hợp đồng, sẽ xem xét nghĩa tự nhiên hoặc nghĩa được làm nên từ
ngữ cảnh của từ và sự diễn đạt được sử dụng, theo một cách hiểu khách quan mà một người có
lý trí bình thường sẽ hiểu. Một kỹ thuật giải thích thường gặp trong hướng tiếp cận này là
phương pháp kiểm tra giả định quan điểm của một bên thứ ba khách quan25, Tòa án sẽ giải thích
các từ ngữ theo hướng mà một người có lý trí bình thường (reasonable person), trong hoàn cảnh
18 Hà Thị Thúy, “Các học thuyết giải thích hợp đồng trên thế giới và việc vận dụng vào chế định giải thích hợp
đồng ở Việt Nam”, Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, 2017, Số 6 (303), tr. 11.
19 Tiếng Anh: subjective approach hoặc subjective theory (hướng tiếp cận chủ quan); objective approach hoặc
objective theory (hướng tiếp cận khách quan). Trong một số nghiên cứu về xu hướng giải thích hợp đồng tại Việt
Nam, có tác giả dùng từ là “học thuyết ý chí” tương đương với hướng tiếp cận chủ quan, “học thuyết thể hiện ý
chí” tương đương với hướng tiếp cận khách quan, và “học thuyết trung dung” để gọi tên cho quan điểm kết hợp
hai học thuyết này.
20 Hà Thị Thúy, tlđd (18), tr. 12-16.
21 Daniele Magazzeni, Peter McBurney, William Nash, “Validation and Verification of Smart Contracts: A
Research Agenda”, Computer, 2017, vol. 50, no. 9, tr. 53.
22 Green Sarah, tlđd (15), tr. 246.
23 Daniele Magazzeni, Peter McBurney, William Nash, tlđd (21), tr. 53.
24 Hà Thị Thúy, tlđd (18), tr. 12
25 Rachmi Dzikrina, “Subjective and Objective Approaches to Contractual Interpretation in Civil Law and
Common Law Countries: Indonesia and Canada”, Juris Gentium Law Review, 2017, Vol 5, No 2, tr. 56.

