
129
NGUYÊN TẮC HÌNH THÀNH HỢP ĐỒNG THÔNG MINH – ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG VÀ KINH
NGHIỆM TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Ngô Kim Hoàng Nguyên*
Phan Phương Ngân**
Tóm tắt
Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật tạo ra các phương tiện công nghệ hiện đại thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Trong đó, không thể không kể đến một trong các ứng dụng công nghệ đột phá của
Blockchain chính là Hợp đồng thông minh (Smart Contract). Hợp đồng thông minh hứa hẹn có
khả năng cắt giảm chi phí, thời gian, nhân sự, và hơn hết là tính an toàn, bảo mật tối đa. Tuy
nhiên, vì vẫn là công nghệ mới nên việc sử dụng Hợp đồng thông minh còn xa lạ so với dạng
hợp đồng truyền thống. Ngoài ra, hoạt động này cũng kéo theo việc phát sinh nhiều vấn đề về
mặt pháp lý mới chưa đưa quy định. Trong khi hiệu lực pháp luật của Hợp đồng thông minh
vẫn còn gây tranh cãi tại Việt Nam, việc đánh giá các nguyên tắc hình thành loại hợp đồng này
so với quy định của pháp luật Việt Nam là rất cần thiết. Bài viết này đề cập đến các khía cạnh
đã và chưa tương thích giữa sự hình thành của Hợp đồng thông minh và nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Hợp đồng, cùng với đó các kiến nghị hoàn thiện pháp lý của tác giả, từ đó có cơ sở
để phục vụ cho công tác công nhận hiệu lực pháp luật của Hợp đồng thông minh tại Việt Nam.
Từ khóa: Hợp đồng thông minh, nguyên tắc hình thành hợp đồng cơ bản, pháp luật hợp đồng
Việt Nam.
* Thạc sĩ Luật học, Giám đốc trung tâm Thông tin Thư viện, trường Đại học Luật TP. HCM, Email:
nkhnguyen@hcmulaw.edu.vn
** Sinh viên lớp TMQT44, Trường Đại học Luật TP. HCM, Email:
phanphuongngan1204@gmail.com

130
1. Khái quát về nguyên tắc cơ bản hình thành hợp đồng theo pháp luật Việt nam và sự
hình thành của hợp đồng thông minh
1.1 Nguyên tắc cơ bản hình thành hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Nếu như trong Bộ luật Dân sự 2005 một quan hệ hợp đồng khi được xác lập và thực hiện
chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản quy định tại nhiều điều khoản1 thì đến Bộ luật
Dân sự năm 2015 (“BLDS 2015”) các nhà làm luật đã có sự thay đổi đáng kể. Theo đó trong
BLDS 2015, chỉ một điều khoản về nguyên tắc cơ bản được áp dụng cho mọi nội dung thuộc
phạm vi điều chỉnh của bộ luật là Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Việc
thống nhất chỉ còn một điều khoản nguyên tắc chung không có nghĩa là việc giao kết hay thực
hiện hợp đồng không tuân thủ bất kỳ nguyên tắc nào mà cần hiểu là nó phải tuân thủ các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam2. Do đó, đối chiếu với nội dung tại Điều 3 BLDS
2015 và những đặc điểm của hợp đồng, có thể chỉ ra những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
hợp đồng Việt Nam gồm: (i) Nguyên tắc tự do ý chí nhưng không vi phạm điều cấm, trái đạo
đức xã hội; (ii) Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng;
và (iii) Nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng.
(i) Nguyên tắc tự do ý chí nhưng không vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội
Các chủ thể được quyền tự do lựa chọn có giao kết hợp đồng hay không, giao kết với chủ
thể nào, lựa chọn loại hợp đồng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu của chủ thể mà
không bị ràng buộc vào những loại hợp đồng nhất định. Quyền tự do còn thể hiện trong việc
soạn thảo và quyết định các nội dung trong hợp đồng, đặt ra các quyền và nghĩa vụ phù hợp.
Tùy thuộc vào công việc và hoàn cảnh cụ thể mà các bên còn lựa chọn hình thức của hợp đồng.
Đặc biệt đối với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài pháp luật dân sự cho phép quyền tự do lựa
chọn hệ luật áp dụng hay cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp phát sinh.3
Mặt khác, nguyên tắc tự do không tuyệt đối, các bên khi tham gia vào hợp đồng cũng bị
giới hạn ở nhiều mức độ để bảo đảm và duy trì sự tự do chung cho toàn xã hội.4Theo đó, tiêu
biểu có thể chia thành hai nhóm hạn chế là sự hạn chế về nội dung giao kết và về chủ thể giao
kết. Các hợp đồng có nội dung và mục đích giao kết vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội bị
vô hiệu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 và Điều 122 BLDS 2015. Đồng thời, nhiều
trường hợp một bên trong hợp đồng là chủ thể yếu thế hơn so với bên còn lại, pháp luật cũng
đặt ra các hạn chế nhất định khi các bên ký kết và thực hiện hợp đồng.
(ii) Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc tự nguyện đặt ra nhằm chống lại sự ép buộc, cưỡng bức, sự khiếm khuyết ý chí
của chủ thể khi quyết định giao kết hợp đồng, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ. Các bên
tham gia vào hợp đồng đều phải hướng đến những mục đích tốt, thật sự có ý định thống nhất
để giao kết hợp đồng với nhau. Nguyên tắc thiện chí bao trùm xuyên suốt các giai đoạn của hợp
đồng, kể cả trước và sau khi hợp đồng đã được thực hiện. Biểu hiện tiêu biểu của nguyên tắc
thiện chí là khả năng nhượng bộ, thông cảm đối với những khó khăn, hạn chế của đối tác để
hướng tới mục đích giao kết cuối cùng, có lợi cho cả hai bên. Đặc biệt, không có một khái niệm
chung đối với tính thiện chí mà trong từng lĩnh vực, ngành nghề thì nguyên tắc này cần phải
1 Nội dung các nguyên tắc cơ bản gồm: những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật (Chương II Phần thứ nhất); nguyên
tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 283); nguyên tắc giao kết hợp đồng (Điều 389) và nguyên tắc thực hiện hợp
đồng (Điều 412).
2 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hà Nội: Nxb. Hồng
Đức, tr. 367–368, tr. 386.
3 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về Hợp đồng và Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Hà Nội: Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.152-153.
4 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Sđd(3), tr.153.

131
được giải thích, vận dụng khác nhau.5 Đối với các nguyên tắc còn lại gồm tính bình đẳng, hợp
tác, trung thực và ngay thẳng, pháp luật dân sự đặt ra nhằm đảm bảo mỗi bên một khi đã tham
gia vào một quan hệ hợp đồng đều được hưởng các quyền lợi như nhau, có nghĩa vụ tương ứng
và phải chịu chế tài nếu vi phạm các nguyên tắc đó.6
(iii) Nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng
Pháp luật quy định “cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”7. Các bên khi thống nhất tham gia giao kết hợp
đồng cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận chịu sự ràng buộc bởi các quy định của hợp đồng.8
Khi hợp đồng đã được giao kết, quyền và lợi ích của các bên đã có sự liên kết chặt chẽ với
nhau, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia. Các chủ thể đã bị ràng buộc bởi nghĩa vụ
của bản thân trong hợp đồng, việc thực hiện hoặc không thực hiện sẽ tác động trực tiếp đến
quyền và lợi ích của bên còn lại. Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể,
pháp luật quy định các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng đã giao kết, ngược
lại phải tự chịu trách nhiệm trước việc không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đó.
1.2 Đánh giá các nguyên tắc hình thành hợp đồng thông minh với quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng
1.2.1. Khái quát về cơ chế hình thành hợp đồng thông minh
Hợp đồng thông minh (“HĐTM”) có thể được xem là phiên bản số hóa của một hợp
đồng truyền thống.9 Về bản chất, hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên ký
kết về các quyền và nghĩa vụ (thường được thể hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên dưới nhiều hình
thức). Khi công nghệ máy tính phát triển, hợp đồng trở nên “thông minh” nhờ sự tích hợp hiệu
quả của các mã máy tính để tạo điều kiện cho các hợp đồng này được thực hiện một cách tự
động. Cụ thể, hợp đồng sẽ được tiến hành trong một hệ thống phần mềm được gọi là “Công
nghệ sổ cái phân tán” (DLT). Theo đó, HĐTM sẽ được tạo ra hoàn toàn bằng mã máy tính, có
khả năng tự xác lập các điều khoản thỏa thuận của các bên và tự thực thi những thỏa thuận đó
một cách tự động mà không cần bất kỳ sự can thiệp của bên thứ ba trung gian hay con người.
Ngay từ khi hình thành, HĐTM đã vận hành theo cơ chế tự động ở mọi khâu từ xác thực, xử lý
cho đến ép buộc thực hiện các điều khoản đã được viết trước trong mã. Đây cũng là một trong
những đặc tính ưu việt nhất của loại hợp đồng này. Ngoài ra, HĐTM còn đảm bảo khả năng
bảo mật thông tin hiệu quả, giao dịch phải được xác nhận bằng các cặp mã kỹ thuật số gồm
khóa cá nhân và khóa công khai. Các chủ thể tham gia vào HĐTM xác nhận giao dịch bằng chữ
ký điện tử là mã khóa cá nhân và giao dịch không thể bị sửa đổi bởi bất kỳ ai sau khi nó đã
được ký.10
Về cơ chế hoạt động, đầu tiên giữa các bên cần thống nhất để đi đến mã hóa vào chương
trình máy tính một bộ “Quy tắc hệ thống quản lý”, mục đích nhằm đặt ra những điều kiện cơ
bản để giao dịch xảy ra, thông thường bao gồ nội dung hợp đồng và thời điểm thực hiện hợp
5 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Sđd(3), tr.156.
6 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Sđd(3), tr.153-154.
7 Khoản 5 Điều 3 BLDS năm 2015.
8 Theo quy định tại khoản 1 Điều 401 BLDS 2015, hợp đồng được giao kết hợp pháp thì có hiệu lực đối với các
bên.
9 Đồng Thị Huyền Nga, Hoàng Thảo Anh, “Blockchain và Hợp đồng thông minh – Xu thế tất yếu của cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 và các thách thức pháp lý đặt ra”, tr.317,
[https://www.researchgate.net/publication/340224430_Blockchain_va_Hop_dong_Thong_minh_-
_Xu_the_tat_yeu_cua_cuoc_cach_mang_Cong_nghiep_40_va_nhung_thach_thuc_phap_ly_dat_ra], (truy cập
lần cuối ngày 06/10/2022).
10 Bisade Asolo (2019), “Blockchain Public Key & Private Key: A Detailed Guide”, Mycryptopedia
[https://www.mycryptopedia.com/public-key-private-key-explained/] (truy cập lần cuối ngày 06/10/2022).

132
đồng.11 Các nội dung đã mã hóa thành công sẽ được lưu trữ trên hệ thống mạng lưới blockchain,
sau đó phân phối và sao chép lại giữa những người được phép tham gia vào chuỗi blockchain
trên. Đến thời điểm xác định, sau khi nhận được lệnh kích hoạt hợp đồng sẽ tự động được triển
khai, đồng thời trong suốt quá trình đó hệ thống cũng tự kiểm tra các điều kiện cũng như khả
năng thực hiện cam kết của các bên trong hợp đồng.12
Như vậy, đối chiếu so sánh với hợp đồng truyền thống, HĐTM tồn tại một số các điểm
khác biệt sau:13
Toàn bộ “vòng đời” của HĐTM bắt đầu từ khi được hình thành cho đến khi kết
thúc HĐTM đều diễn ra trên nền tảng trực tuyến. Quá trình đó được ghi lại và
lập trình cố định trên DLT và không thể thay đổi. Nếu cần phải thay đổi bất kỳ
nội dung nào, chỉ có thể xây dựng một bản hợp đồng để đảo ngược hoặc sửa đổi
hiệu lực của hợp đồng trước đó. Như vậy, HĐTM hoàn toàn tối ưu dưới góc độ
lưu trữ dữ liệu, loại trừ nguy cơ đặt sai chỗ, lạc mất hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện HĐTM không cần đến vai trò của bên thứ ba (ví dụ
đối với hoạt động thanh toán, việc chuyển tiền được thực hiện trực tiếp từ ví
điện tử sang ví điện tử mà không cần các bước xác nhận trung gian);
HĐTM được thực hiện một cách tự động bởi máy móc, theo thuật toán máy tính
lập sẵn;
HĐTM chỉ có thể thực hiện được trong trường hợp đã có “giải pháp có thể xác
định bằng thuật toán” (algorithmically determinable solution). HĐTM theo đó
hoạt động trên cơ chế thỏa mãn điều kiện đặt ra trước đó: “If-Then” mà không
phải phụ thuộc hành vi của một trong các bên.
Sự khác biệt của HĐTM so với hợp đồng truyền thống có thể các bước tiến tối ưu của
khoa học kỹ thuật nhưng mặt khác có thể tạo ra nhiều các thách thức, bất cập lớn khi đặt dưới
thước đánh giá của khoa học pháp lý. Theo đó, trong mục tiếp theo tác giả sẽ tiến hành đối
chiếu sự hình thành của HĐTM với ba nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng Việt Nam
nêu trên, làm rõ thêm các vấn đề về sự hình thành của HĐTM với tiền đề HĐTM được xem là
một hợp đồng pháp lý.
1.2.2. Đánh giá các nguyên tắc hình thành hợp đồng thông minh so với quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng
Trước hết, có thể thấy đối với nguyên tắc thứ ba về hiệu lực ràng buộc của hợp đồng,
chính nhờ tính năng tự động kích hoạt sau khi đáp ứng điều kiện, sự hình thành của HĐTM nói
riêng và cơ chế hoạt động chung của nó có thể đảm bảo tuân thủ rất hiệu quả nguyên tắc này.14
Mặt khác, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa phù hợp giữa sự hình thành của HĐTM và các
nguyên tắc còn lại. Sự chưa phù hợp thể hiện ở hai khía cạnh, HĐTM không đảm bảo (i) Nguyên
tắc tự do ý chí của các bên và (ii) Nguyên tắc tự nguyện, trung thực, bình đẳng, thiện chí và
hợp tác khi thực hiện hợp đồng.
(i) Thứ nhất, rất khó khăn trong việc xác định sự đồng thuận của các bên khi tiến hành
giao kết hợp đồng. Điều này xuất phát từ cơ chế tất cả thông tin đều được mã hóa trên blockchain
11 Louis Lou, Josh Lee (2019), “A brief analysis of the legal validity of smart contracts in Singapore”,
[https://lawtech.asia/a-brief-analysis-of-the-legal-validity-of-smart-contracts-in-singapore/], (truy cập lần cuối
ngày 06/10/2022).
12 Đồng Thị Huyền Nga, Hoàng Thảo Anh (2019), tlđd(9), tr.318.
13 “Smart Contracts”, Norton Rose Fulbright (November 2019), [https://www.nortonrosefulbright.com/en-
cn/knowledge/publications/1bcdc200/smart-contracts], (truy cập lần cuối ngày 10/02/2023)
14 Đồng Thị Huyền Nga, Hoàng Thảo Anh (2019), tlđd(9), tr.318.

133
và các chủ thể tham gia vào giao dịch là những tài khoản tham gia không xác định. 15 Giữa các
bên gần như không có sự trao đổi trực tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên, thay vào đó các hợp đồng
hiện đang sử dụng ngôn ngữ máy tính, nên liệu bên được đề nghị đã hiểu đúng, hiểu đủ lời đề
nghị hay chưa sẽ là một vấn đề lớn trong khi các thuật toán và dòng lệnh khá phức tạp đòi hỏi
phải có kiến thức chuyên sâu để có thể giải mã. Ngoài ra, nếu tại thời điểm các bên xác lập điều
kiện giao kết hợp đồng đã thống nhất ý chí nhưng trong khoảng thời gian trước khi hợp đồng
chính thức được ký kết có một bên đã thay đổi ý định từ bỏ giao kết thì hợp đồng vẫn sẽ tiếp
tục tự động hình thành. Ở đây đã có sự vi phạm vì không đáp ứng được điều kiện của nguyên
tắc tự do ý chí. Do đó, có thể thấy quyền chủ động trong quyết định lựa chọn giao kết hợp đồng
của các bên đã bị “tước đoạt”, hay nói cách khác HĐTM đã loại bỏ yếu tố thỏa thuận, đàm phán
lại của các bên.
(ii) Thứ hai, sự hình thành của HĐTM có thể không đảm bảo tính trung thực, bình đẳng
giữa các chủ thể. HĐTM hoạt động trên nền tảng trực tuyến, các thao tác chỉ được thể hiện qua
máy tính và thuật toán, sẽ rất khó để xác định các bên tham gia vào HĐTM đã đáp ứng đủ điều
kiện về chủ thể như về độ tuổi, năng lực hành vi dân sự đầy đủ…Hậu quả chính là giao dịch có
thể bị vô hiệu theo quy định tại Điều 125, Điều 126, Điều 127 BLDS 2015, ảnh hưởng rất lớn
đến quyền lợi của bên còn lại. Như thế, ở đây lại có sự vi phạm điều kiện của nguyên tắc trung
thực, bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng.
(iii) Thứ ba, về vấn đề vi phạm nguyên tắc thiện chí và hợp tác, xuất phát từ đặc tính
bất biến (immnutability) của công nghệ blockchain khi được áp dụng vào HĐTM. Như đã phân
tích, nguyên tắc này đặt ra trách nhiệm của các bên về việc cố gắng hướng đến mục đích cùng
có lợi của các bên từ đó cùng hỗ trợ, nhượng bộ và tìm ra giải pháp khắc phục. Trong khi đó,
HĐTM mặc định rằng thỏa thuận ban đầu của các bên sau khi mã hóa cũng chính là thỏa thuận
cuối cùng và quá trình thực hiện không có vấn đề ngoại cảnh phát sinh.16 Nhưng trên thực tế,
trường hợp bất khả kháng vẫn luôn diễn ra, trên cơ sở thiện chí, các bên vốn dĩ có thể đàm phán
và thỏa thuận lại. Tuy nhiên, dưới cơ chế hoạt động của HĐTM điều này không thể thực hiện
được. Do đó, có thể thấy sự hình thành của HĐTM cũng có thể ảnh hưởng đến tính linh hoạt
trong việc điều chỉnh hợp đồng và thay đổi tiến trình giao kết giữa các bên.
Tóm lại, HĐTM dưới góc độ là một dạng mới của hợp đồng truyền thống tất yếu sẽ tồn
tại một số các vấn đề chưa tương thích với nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng Việt Nam.
Trong đó, các bất cập có khái quát là việc không đảm bảo (i) Nguyên tắc tự do ý chí của các
bên và (ii) Nguyên tắc tự nguyện, trung thực, bình đẳng, thiện chí và hợp tác khi thực hiện hợp
đồng Tuy nhiên, quan điểm tác giả cho rằng phần lớn các vấn đề xảy ra không đương nhiên dẫn
đến hành vi vi phạm nguyên tắc cơ bản mà chúng hiện chỉ ở mức độ có khả năng vi phạm. Nói
cách khác, HĐTM được xem là vi phạm nguyên tắc cơ bản chỉ khi phát sinh một số sự kiện
nhất định, ví dụ như một trong các bên muốn thay đổi thỏa thuận ban đầu hoặc xảy ra sự kiện
làm thay đổi hoàn cảnh cơ bản, cũng như trường hợp một trong các bên không thỏa điều kiện
về năng lực chủ thể để tham giao giao kết HĐTM. Song, pháp luật trong thời gian tới vẫn có
thể đặt ra một hành lang pháp lý phù hợp hơn để kiểm soát các khả năng vi phạm nguyên tắc
này trong quá trình hình thành HĐTM.
2. Quan điểm một số quốc gia đối với việc đánh giá nguyên tắc hình thành của hợp
đồng thông minh
2.1. Liên Minh Châu Âu (EU)
15 Đồng Thị Huyền Nga, Hoàng Thảo Anh (2019), tlđd(9), tr.321-322.
16 Vũ Thị Diệu Thảo, “Đàm phán với những mã lệnh: Hợp đồng thông minh và vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ”, Tạp
chí Tia Sáng Điện Tử, [http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Dam-phan-voi-nhung-ma-lenh- Hop-dong-thong-
minh-va-van-de-phap-ly-con-bo-ngo-11327/], (truy cập lần cuối ngày 05/10/2022).

