
130
1. Khái quát về nguyên tắc cơ bản hình thành hợp đồng theo pháp luật Việt nam và sự
hình thành của hợp đồng thông minh
1.1 Nguyên tắc cơ bản hình thành hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Nếu như trong Bộ luật Dân sự 2005 một quan hệ hợp đồng khi được xác lập và thực hiện
chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản quy định tại nhiều điều khoản1 thì đến Bộ luật
Dân sự năm 2015 (“BLDS 2015”) các nhà làm luật đã có sự thay đổi đáng kể. Theo đó trong
BLDS 2015, chỉ một điều khoản về nguyên tắc cơ bản được áp dụng cho mọi nội dung thuộc
phạm vi điều chỉnh của bộ luật là Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Việc
thống nhất chỉ còn một điều khoản nguyên tắc chung không có nghĩa là việc giao kết hay thực
hiện hợp đồng không tuân thủ bất kỳ nguyên tắc nào mà cần hiểu là nó phải tuân thủ các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam2. Do đó, đối chiếu với nội dung tại Điều 3 BLDS
2015 và những đặc điểm của hợp đồng, có thể chỉ ra những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
hợp đồng Việt Nam gồm: (i) Nguyên tắc tự do ý chí nhưng không vi phạm điều cấm, trái đạo
đức xã hội; (ii) Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng;
và (iii) Nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng.
(i) Nguyên tắc tự do ý chí nhưng không vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội
Các chủ thể được quyền tự do lựa chọn có giao kết hợp đồng hay không, giao kết với chủ
thể nào, lựa chọn loại hợp đồng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu của chủ thể mà
không bị ràng buộc vào những loại hợp đồng nhất định. Quyền tự do còn thể hiện trong việc
soạn thảo và quyết định các nội dung trong hợp đồng, đặt ra các quyền và nghĩa vụ phù hợp.
Tùy thuộc vào công việc và hoàn cảnh cụ thể mà các bên còn lựa chọn hình thức của hợp đồng.
Đặc biệt đối với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài pháp luật dân sự cho phép quyền tự do lựa
chọn hệ luật áp dụng hay cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp phát sinh.3
Mặt khác, nguyên tắc tự do không tuyệt đối, các bên khi tham gia vào hợp đồng cũng bị
giới hạn ở nhiều mức độ để bảo đảm và duy trì sự tự do chung cho toàn xã hội.4Theo đó, tiêu
biểu có thể chia thành hai nhóm hạn chế là sự hạn chế về nội dung giao kết và về chủ thể giao
kết. Các hợp đồng có nội dung và mục đích giao kết vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội bị
vô hiệu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 và Điều 122 BLDS 2015. Đồng thời, nhiều
trường hợp một bên trong hợp đồng là chủ thể yếu thế hơn so với bên còn lại, pháp luật cũng
đặt ra các hạn chế nhất định khi các bên ký kết và thực hiện hợp đồng.
(ii) Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc tự nguyện đặt ra nhằm chống lại sự ép buộc, cưỡng bức, sự khiếm khuyết ý chí
của chủ thể khi quyết định giao kết hợp đồng, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ. Các bên
tham gia vào hợp đồng đều phải hướng đến những mục đích tốt, thật sự có ý định thống nhất
để giao kết hợp đồng với nhau. Nguyên tắc thiện chí bao trùm xuyên suốt các giai đoạn của hợp
đồng, kể cả trước và sau khi hợp đồng đã được thực hiện. Biểu hiện tiêu biểu của nguyên tắc
thiện chí là khả năng nhượng bộ, thông cảm đối với những khó khăn, hạn chế của đối tác để
hướng tới mục đích giao kết cuối cùng, có lợi cho cả hai bên. Đặc biệt, không có một khái niệm
chung đối với tính thiện chí mà trong từng lĩnh vực, ngành nghề thì nguyên tắc này cần phải
1 Nội dung các nguyên tắc cơ bản gồm: những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật (Chương II Phần thứ nhất); nguyên
tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 283); nguyên tắc giao kết hợp đồng (Điều 389) và nguyên tắc thực hiện hợp
đồng (Điều 412).
2 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hà Nội: Nxb. Hồng
Đức, tr. 367–368, tr. 386.
3 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về Hợp đồng và Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Hà Nội: Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.152-153.
4 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2019), Sđd(3), tr.153.