
44
(Jack and Arthur, 2018). Thứ hai, về tính bất biến, hợp đồng thông minh không thể bị sửa đổi
hoặc hủy bỏ khi đưa lên nền tảng blockchain. Hợp đồng có thể tự thực thi mọi thứ khi các điều
kiện đạt đủ. Trong trường hợp các điều kiện trong hợp đồng không được thỏa mãn, hợp đồng
sẽ dừng lại và không thể thực hiện. Điều này tránh trường hợp một bên tự ý thay đổi các điều
khoản hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Thứ ba, tính phi tập (phân tán) trung
cho phép các điều khoản trong hợp đồng được tiếp cận công khai bởi người tham gia và tăng
cường tính minh bạch của giao dịch.
2. Một số rào cản pháp lý trong pháp luật Việt Nam hiện nay đối với hợp đồng thông minh
Về bản chất, hợp đồng thông minh cũng là sự thỏa thuận của các bên trong việc xác lập quyền
và nghĩa vụ. Vì thế, để hợp pháp hóa hợp đồng thông minh trong quá trình giao kết và thực hiện
các giao dịch, các vấn đề về chủ thể, hình thức hợp đồng, nội dung, yếu tố thỏa thuận, tính bảo
mật và rủi ro và giải quyết tranh chấp cần phải được quy định cụ thể. Tuy nhiên, pháp luật Việt
Nam hiện nay vẫn chưa xác định rõ ràng các quy phạm phù hợp để điều chỉnh. Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng thông minh sẽ rất khó xác định một số yêu cầu pháp lý về năng
lực hành vi dân sự và năng luật pháp luật dân sự trong việc xác lập hợp đồng. Điều này là do
các thông tin được mã hóa trong giao dịch đều tự cung cấp bởi nguời dùng mà không có cơ
quan quản lý nhà nước hay người trung gian tham gia kiểm duyệt thông tin trước khi giao kết
hợp đồng (Linh, 2022). Mạng Internet là một môi trường ảo, việc xác định tư cách chủ thể tham
gia giao kết hợp đồng thông minh mà không qua một đơn vị trung gian là rất khó khi các bên
không hề quen biết nhau. Việc xác định chính xác năng lực chủ thể và thông tin về đối tác giao
kết hợp đồng là điều không đơn giản khi một số trường hợp chủ thể giao kết cố tình đưa ra các
thông tin sai lệch về độ tuổi, sức khỏe để tự mình tham gia hợp đồng. Mặc dù yếu tố tự động
hóa trong hợp đồng thông minh là một điểm mạnh về mặt kĩ thuật nhưng nó lại là rào cản pháp
lý trong quá trình giao kết. Đặc tính ẩn danh và phi tập trung của người dùng, cùng với việc
không cần sự hỗ trợ của các bên trung gian cho phép các bên thực hiện giao dịch và giao kết
hợp đồng mà không cần gặp gỡ nhau, điều này dẫn đến việc xác định năng lực của chủ thể là
một thách thức (Max, 2017). Hơn thế nữa, về sự tự nguyện của chủ thể giao kết theo khoản 2
điều 117 BLDS, ý chí các bên thông qua mạng và máy tính rất khó để xác định hay bên có bị
nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép không. Ngoài các bên tham gia giao kết, hợp đồng
thông minh không có sự tham gia của các bên trung gian hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và
giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện như tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và tổ chức
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử. Các tổ chức này có trách nhiệm việc gửi, lưu trữ
thông tin giao kết, đua ra những thông tin cần thiết để xác nhận độ chính xác, đáng tin của dữ
liệu điện tử trong giao kết. Do đó, các thông tin về điều kiện, ý chí của chủ thể tham gia không
được đảm bảo qua các tổ chức này để các bên có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng (Linh,
2022). Thông thường, theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015,
chủ thể tham gia giao kết hợp đồng bao gồm cá nhân và pháp nhân phải đáp ứng điều kiện chủ
thể tham gia giao kết hợp đồng gồm năng lực hành vi dân sự và năng luật pháp luật dân sự
(Nguyễn, 2019). Về cá nhân, chỉ có những người đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ sức khỏe và nhận
thức về hành vi của mình thì mới có thể tự mình tham gia vào việc giao kết hợp đồng dân sự.
Về pháp nhân, pháp luật yêu cầu phải đươc thành lập và có cơ cấu tổ chức theo quy định, có tài
sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; tự mình
tham gia và thỏa thuận một cách độc lập.
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng thông minh hiện nay hoạt động theo cơ chế tự động thông qua
các dòng mã lập trình mà không có sự can thiệp của các bên trung gian. Do đó, bản thân hợp
đồng thông minh không hoàn toàn mang những đặc trưng của hợp đồng truyền thống. Một số
quốc gia không thừa nhận hình thức của hợp đồng thông minh như Bangladesh và Trung Quốc.
Bangladesh đã không chấp nhận rằng các hợp đồng thông minh bị ràng buộc về mặt pháp lý và