
41
CƠ CHẾ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ NHỮNG RÀO CẢN PHÁP LÝ
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Hồ Trung Hiếu*
Nguyễn Trung Thành**
Tóm tắt
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc công nghiệp cách mạng 4.0 hiện nay, nhiều công nghệ mới
đã được áp dụng để nhằm thúc đẩy các giao dịch trong hoạt động kinh tế và thương mại. Trong
đó, hợp đồng thông minh (Smart Contract) dựa trên công nghệ Blockchain được xem là xu thế
mang tính đột phá nhất giúp cho các cá nhân, tổ chức có thể tiếp kiệm chí phí, thời gian nhân
lực nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn và bảo mật trong quá trình thực hiện so với các hợp đồng
truyền thống. Tuy nhiên, hợp đồng thông minh vẫn còn là một cách thức giao dịch mới mẻ,
chưa mang tính phổ biến. Do đó, một vấn đề đặt ra hiện nay đó là việc thừa nhận tính hợp pháp
của loại hợp đồng này trên thế giới vẫn còn hạn chế tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Bài viết này sẽ xác định cơ chế giao kết hợp đồng thông minh và từ đó xác định những rào cản
pháp lý trong pháp luật Việt Nam hiện nay thông qua việc so sánh một số hệ thống pháp luật
khác trên thế giới.
Từ khóa: Hợp đồng thông minh, Blockchain, pháp luật Việt Nam
* Giảng viên Khoa luật, Đại học Văn lang
** Giảng viên Khoa Quản trị Kinh Doanh, Học viện công nghê Bưu chính Viễn Thông

42
A. Đặt vấn đề
Công nghệ 4.0 đang tác động to lớn đến nhiều lĩnh vực trong xã hội và trong đó nền tảng
Blockchain là một trong những thành tựu nổi bật của cuộc cách mạng này. Hợp đồng thông
minh là kết quả ứng dụng của nền tảng này trong các giao dịch thương mại do đó chúng mang
những đặc điểm vược trội so với hợp đồng truyền thống. Dựa trên cơ chế tự động và phi tập
trung, hợp đồng thông minh giúp cho các bên tham gia có thể giao kết ở bất cứ nơi đâu và bất
cứ thởi điểm nào. Các cơ chế giao kết được vận hành tự động mà không cần phải có sự can
thiệp của một bên trung gian nào đã làm giảm bớt các chi phí và tiếp kiệm thời gian cho quá
trình giao dịch.
Tuy nhiên, vấn đề cản trở lớn nhất hiện nay đối với việc ứng dụng hợp đồng thông minh trên
thực tế đó là khung pháp lý thừa nhận tính hợp pháp của nó tại các các quốc gia trên thế giới.
Một số quốc gia như Ý, Belarus và một số bang ở Mỹ đã quy chuẩn hóa các quy định về hợp
đồng thông minh trong hệ thống pháp luật của mình và thừa nhận giá trị pháp lý. Tuy nhiên,
một số quốc gia lại hoàn toàn không thửa nhận việc sử dụng hợp đồng thông minh trong giao
dịch và cho rằng cơ chế áp dụng của nó không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện tại của
quốc gia đó. Tại Việt Nam, giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh chưa chính thức thừa nhận
dù cho một số quy định trong pháp luật đã ngầm hợp thức hóa các giao dịch trên loại hợp đồng
này. Điều này gây ra nhiều cản trở cho các bên giao kết hợp đồng thông minh tại Việt Nam khi
họ không có bất kì một cơ chế nào bảo vệ cho quyền lợi của họ trong trường hợp bị vi phạm.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã nói về cơ chế hoạt động của hợp đồng thông minh và một số
vấn đề pháp luật cần quan tâm. Điển hình, nghiên cứu Gilcrest, Jack & Carvalho, Arthur (2018)
đã cung cấp các khía cạnh pháp lý chung có thể phát sinh trong hợp đồng thông minh thông
qua cơ chế tự động và phương thức thanh toán bằng tiền ảo. Đồng thởi, nghiên cứu cũng chỉ ra
một số đạo luật ở các bang của Hoa Kỳ trong việc công nhận giá trị pháp lý của loại hợp đồng
này. Ngoài ra, nghiên cứu của và Army và Collin (2019) đề cấp đến cơ chế giải quyết tranh
chấp áp dụng trong hợp đồng thông minh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hợp đồng thông
minh có số lượng hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực pháp lý. Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu đề
cập đến giá trị và vai trò của hợp đồng thông minh trong nền kinh tế, trong giáo dục, y tế. Một
số nghiên cứu có đề cập về khia cạnh pháp luật nhưng chưa đưa ra được những vướng mắc
trong hệ thống Việt Nam về vấn đề này và giải pháp hoàn thiện trong tương lai. Ví thế, bài viết
này sẽ giải quyết các vấn đề liên quan đến cơ chế giao kết hợp đồng thông minh và những rào
cả pháp lý trong pháp luật Việt Nam hiện nay

43
B. Nội dung
1. Cơ chế giao kết hợp đồng thông minh trên nền tảng blockchain
Về cơ chế giao kết, Hợp đồng thông minh là một đoạn mã chạy trên một hệ thống phi tập trung
(Blockchain), cho phép tạo ra các giao thức tự động không cần cho phép (Permissionless). Mã
này chứa những điều khoản và yêu cầu của giao kết, thông thường câu lệnh trong hợp đồng
thông minh được viết theo cấu trúc "nếu... thì...". Sau đó, chúng được lưu trữ và chạy trên mạng
blockchain để tự vận hành theo yêu cầu của các bên liên quan. Khi sự kiện xảy ra hoặc hành
động được thực hiện theo điều khoản của hợp đồng, nó sẽ được ghi lại trên blockchain và tự
động thực hiện theo điều khoản của hợp đồng. Trước tiên, các điều khoản trong hợp đồng sẽ
được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ lập trình và được mã hóa bởi các lập trình viên trên hệ thống
phi tập trung Blockchain. Sau đó, hợp đồng thông Minh sẽ được phân phối và sao chép trên các
khóa (node) trong nền tảng (Chamber of Digital Commerce, 2018). Ví dụ, hợp đồng Thông
Minh Ethereum chứa đựng mã hợp đồng và hai khóa công khai. Khóa công khai đầu tiên là
khóa do người xây dựng hợp đồng cung cấp chứa đựng các quyền và nghĩa vụ của các bên dưới
dạng mã lập trình, trong khi khóa còn lại là mã định danh duy nhất cho mỗi hợp đồng thông
minh. Hợp đồng thông minh sẽ được máy tính kiểm soát và tài khoản do người dùng quản lý
(Externally Owned Account). Việc giao kết, thực hiện hợp đồng chỉ được kích hoạt bởi tài
khoản người dùng để tiến hành tự động các giao dịch trên Blockchain (Jack and Arthur, 2018).
Ví dụ, một khách du lịch thuê nhà nghỉ cho một kỳ nghỉ cuối tuần. Số tiền cho việc thuê sẽ
được chuyển qua Blockchain. Sau đó, một biên nhận sẽ được lưu trữ trong hợp đồng thông
minh của nhà nghỉ. Nhà nghỉ sẽ gửi cho khách du lịch mật mã để vào nhà nghỉ vào một ngày
xác định. Nếu mật mã không đến đúng hạn do hai bên đã thống nhất, tiền sẽ được hoàn trả theo
hợp đồng thông minh. Nếu mật mã đến sớm hơn hạn, tiền và mật mã sẽ được giữ cho đến hạn.
Hợp đồng thông minh hoạt động như một chương trình máy tính và được giám sát bởi hàng
trăm người, đảm bảo sự an toàn và chính xác trong việc giao nhận.
Một hợp đồng thông minh chỉ được thiết lập và giao kết khi có đầy đủ các yếu tố về chủ thể,
điều khoản được mã hóa trước, xác nhận của các bên tham gia và nên tảng phân quyền. Trong
đó, chủ thể hợp đồng là người dùng có quyền và lợi ích tham gia vào giao dịch phải cấp quyền
truy cập cho hợp đồng thông minh để có thể tự động khóa hay mở khóa khi cần thiết. Xác nhận
của các bên là yếu tố quan trọng nhằm thể hiện ý chí tự nguyện, sự đồng ý của các bên trong
việc giao kết hợp đồng và cho phép nó tự động thực hiện giao dịch. Điều khoản được mã hóa
trước được xác định các yêu cầu của mỗi bên khi tham gia hợp đồng trước khi chúng được thiết
lập dưởi dạng chuỗi mã lập trình để đưa vào hệ thống xử lý. Yếu tố quan trọng còn lại là nền
tảng phân quyền. Sau khi hợp đồng thông minh hoàn tất thiết lập, các mã lệnh sẽ được tải lên
Blockchain và phân phối vào các khóa của nền tảng phân quyền.
Khác với hợp đồng truyền thống, điểm mạnh của cơ chế giao kết trong hợp đồng thông minh
là tính tự động, tính bất biến và tính phi tập trung. Thứ nhất, về tính tự động, các bên trong hợp
đồng có thể giao kết qua hệ thống này mà không cần phải biết về thông tin định danh hoặc tin
tưởng lẫn nhau. Bên cạnh đó, chi phí hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng cũng giảm đi
đáng kể do tính tự động hóa bởi không cần sự can thiệp của bên trung gian. Các bên trao đổi
tài sản ảo, thanh toán hàng hóa dịch vụ, chuyển nhượng cổ phiếu một cách trực tiếp mà không
cần đến sự tham gia người hay dịch vụ trung gian làm chứng (Max, 2017). Một ví dụ thực tế
về hợp đồng thông minh là việc áp dụng nó trong việc bán bất động sản. Khi một người bán
muốn bán một đất nền, họ có thể sử dụng một hợp đồng thông minh để giao kết với người mua.
Hợp đồng này sẽ xác định giá cả và thời hạn thanh toán, và sau khi cả hai bên đồng ý với những
điều khoản này, hợp đồng sẽ được lưu trữ trên blockchain. Khi thời hạn thanh toán đến, tiền
của người mua sẽ được chuyển trực tiếp từ tài khoản của họ sang tài khoản của người bán mà
không cần sự tham gia của bất kỳ trung gian hay dịch vụ chứng khoán nào. Nếu bất kỳ một
trong hai bên không tuân thủ những điều khoản trong hợp đồng, hợp đồng sẽ tự động hủy bỏ

44
(Jack and Arthur, 2018). Thứ hai, về tính bất biến, hợp đồng thông minh không thể bị sửa đổi
hoặc hủy bỏ khi đưa lên nền tảng blockchain. Hợp đồng có thể tự thực thi mọi thứ khi các điều
kiện đạt đủ. Trong trường hợp các điều kiện trong hợp đồng không được thỏa mãn, hợp đồng
sẽ dừng lại và không thể thực hiện. Điều này tránh trường hợp một bên tự ý thay đổi các điều
khoản hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Thứ ba, tính phi tập (phân tán) trung
cho phép các điều khoản trong hợp đồng được tiếp cận công khai bởi người tham gia và tăng
cường tính minh bạch của giao dịch.
2. Một số rào cản pháp lý trong pháp luật Việt Nam hiện nay đối với hợp đồng thông minh
Về bản chất, hợp đồng thông minh cũng là sự thỏa thuận của các bên trong việc xác lập quyền
và nghĩa vụ. Vì thế, để hợp pháp hóa hợp đồng thông minh trong quá trình giao kết và thực hiện
các giao dịch, các vấn đề về chủ thể, hình thức hợp đồng, nội dung, yếu tố thỏa thuận, tính bảo
mật và rủi ro và giải quyết tranh chấp cần phải được quy định cụ thể. Tuy nhiên, pháp luật Việt
Nam hiện nay vẫn chưa xác định rõ ràng các quy phạm phù hợp để điều chỉnh. Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng thông minh sẽ rất khó xác định một số yêu cầu pháp lý về năng
lực hành vi dân sự và năng luật pháp luật dân sự trong việc xác lập hợp đồng. Điều này là do
các thông tin được mã hóa trong giao dịch đều tự cung cấp bởi nguời dùng mà không có cơ
quan quản lý nhà nước hay người trung gian tham gia kiểm duyệt thông tin trước khi giao kết
hợp đồng (Linh, 2022). Mạng Internet là một môi trường ảo, việc xác định tư cách chủ thể tham
gia giao kết hợp đồng thông minh mà không qua một đơn vị trung gian là rất khó khi các bên
không hề quen biết nhau. Việc xác định chính xác năng lực chủ thể và thông tin về đối tác giao
kết hợp đồng là điều không đơn giản khi một số trường hợp chủ thể giao kết cố tình đưa ra các
thông tin sai lệch về độ tuổi, sức khỏe để tự mình tham gia hợp đồng. Mặc dù yếu tố tự động
hóa trong hợp đồng thông minh là một điểm mạnh về mặt kĩ thuật nhưng nó lại là rào cản pháp
lý trong quá trình giao kết. Đặc tính ẩn danh và phi tập trung của người dùng, cùng với việc
không cần sự hỗ trợ của các bên trung gian cho phép các bên thực hiện giao dịch và giao kết
hợp đồng mà không cần gặp gỡ nhau, điều này dẫn đến việc xác định năng lực của chủ thể là
một thách thức (Max, 2017). Hơn thế nữa, về sự tự nguyện của chủ thể giao kết theo khoản 2
điều 117 BLDS, ý chí các bên thông qua mạng và máy tính rất khó để xác định hay bên có bị
nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép không. Ngoài các bên tham gia giao kết, hợp đồng
thông minh không có sự tham gia của các bên trung gian hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và
giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện như tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và tổ chức
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử. Các tổ chức này có trách nhiệm việc gửi, lưu trữ
thông tin giao kết, đua ra những thông tin cần thiết để xác nhận độ chính xác, đáng tin của dữ
liệu điện tử trong giao kết. Do đó, các thông tin về điều kiện, ý chí của chủ thể tham gia không
được đảm bảo qua các tổ chức này để các bên có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng (Linh,
2022). Thông thường, theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015,
chủ thể tham gia giao kết hợp đồng bao gồm cá nhân và pháp nhân phải đáp ứng điều kiện chủ
thể tham gia giao kết hợp đồng gồm năng lực hành vi dân sự và năng luật pháp luật dân sự
(Nguyễn, 2019). Về cá nhân, chỉ có những người đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ sức khỏe và nhận
thức về hành vi của mình thì mới có thể tự mình tham gia vào việc giao kết hợp đồng dân sự.
Về pháp nhân, pháp luật yêu cầu phải đươc thành lập và có cơ cấu tổ chức theo quy định, có tài
sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; tự mình
tham gia và thỏa thuận một cách độc lập.
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng thông minh hiện nay hoạt động theo cơ chế tự động thông qua
các dòng mã lập trình mà không có sự can thiệp của các bên trung gian. Do đó, bản thân hợp
đồng thông minh không hoàn toàn mang những đặc trưng của hợp đồng truyền thống. Một số
quốc gia không thừa nhận hình thức của hợp đồng thông minh như Bangladesh và Trung Quốc.
Bangladesh đã không chấp nhận rằng các hợp đồng thông minh bị ràng buộc về mặt pháp lý và

45
cấm các loại hợp đồng thông minh như Ethereum. Tại Trung Quốc, Ngân hàng trung ương đưa
ra quy định cấm đề nghị và khai thác Bitcoin trong các giao dịch (Volos, 2020). Tuy nhiên,
hiện nay một số quốc gia đã một phần hoặc toàn bộ thừa nhận hợp đồng thông minh như là một
loại hợp đồng điện tử và có giá trị pháp lý tương đương (Luật Minh Khuê, 2022). Cụ thể, Đạo
luật Công nghệ Chuỗi khối bang Illinois của Hoa Kỳ xác định hợp đồng thông minh là hợp
đồng được ghi lại dưới dạng tài liệu điện tử có thể được xác minh bằng cách sử dụng chuỗi
khối. Đạo luật HB 2417 sửa đổi Luật Giao dịch Điện tử Arizona (AETA) quy định “bản ghi
điện tử, chữ ký điện tử trên hợp đồng và hợp đồng thông minh được bảo đảm thông qua công
nghệ blockchain và được sử dụng cho các giao dịch liên quan đến giao dịch hàng hóa, cho thuê
… được coi là một hồ sơ điện tử và được thi hành theo luật này”. Tại Ý, Luật về Các Quy định
Khẩn cấp liên quan đến Hỗ trợ và tạo điều kiện cho Doanh nghiệp và Quản lý Công quy định
hợp đồng thông minh thông qua việc lưu trữ tài liệu điện tử bằng các công nghệ chứng chỉ phân
cấp trở nên hiệu lực pháp lý từ thời điểm của dấu thời gian điện tử, như được quy định trong
Điều 41 của Luật định Uỷ Ban Châu Âu số 910/2014 về Chứng thực và Dịch vụ Tin cậy Điện
tử cho Giao dịch Điện tử trong Thị trường Nội bộ và do đó có thể được sử dụng làm bằng chứng
trong tòa án (Krysenkova, 2021). Úc và Vương quốc Anh chỉ cho phép các hợp đồng thông
minh hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, các quốc gia này chưa đề cập cụ thể
đến blockchain hoặc hợp đồng thông minh trong các văn bản pháp luật hoặc án lệ ngoại trừ
trong hướng dẫn của ngàn. Ở Úc, hợp đồng thông minh có tính ràng buộc về mặt pháp lý và có
thể thực thi miễn là chúng tuân theo các nguyên tắc luật hợp đồng truyền thống như xem xét và
không được tạo ra dưới sự ép buộc (Wendy, 2022). Tại Việt Nam, các quy định hiện hành ngầm
phản ánh được bản chất của hợp đồng thông minh vẫn là một loại hợp đồng điện tử mang cơ
chế tự động nhưng chưa được thừa nhận chính thức về giá trị pháp lý của nó. Cụ thể, Luật Giao
dịch điện tử 2005 Luật chỉ đưa ra khái niệm chung giao dịch điện tử tự động, tức là “giao dịch
điện tử được thực hiện tự động một phần hoặc toàn bộ thông qua hệ thống thông tin được thiết
lập sẵn”. Tuy nhiên, Luật chưa xác định cụ thể hợp đồng thông minh trong giao dịch điện tử
tự động cũng như trách nhiệm của các bên khi tham gia giao dịch đó. Bên cạnh đó, Nghị định
52 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử cũng xem xét sâu hơn về khả năng sử dụng
hệ thống thông tin tự động trong các hoạt động thương mại. Điều 13 Nghị định quy định:
“Không thể phủ nhận tính hợp pháp của hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa hệ thống
thông tin tự động với con người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau với lý do
không có sự kiểm tra, can thiệp của con người vào từng hành vi cụ thể. được thực hiện bởi
(các) hệ thống thông tin tự động hoặc hợp đồng đã giao kết.” Tuy nhiên, Nghị định 52 không
quy định về việc thực hiện hợp đồng thông qua hệ thống thông tin tự động nên giá trị pháp lý
của hợp đồng thông minh vẫn là chưa chắc chắn (Ly, 2022).
Thứ ba, về nội dung, hợp đồng thông minh mang tính chất bất biến (immuntable) nên các điều
khoản hợp đồng không thể sửa đổi và đơn phương chấm dựt thực hiện sau khi các dòng lệnh
đã được mả hóa. Điều này làm cản trở ý chí thỏa thuận của các bên trong môt số trường hợp.
Cách duy nhất để tạm khắc phục tình trạng trên chính là các bên phải dự liệu được trước đó khả
năng việc thực hiện hợp đồng có thể bị thay đổi và liệt kê ra những trường hợp đó qua việc mã
hóa dòng lệnh hoặc phải kí lại một hợp đồng minh khác với một mã lệnh lập trình mới. Điều
này đã hạn chế yếu tố thoả thuận trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng khi có yêu cầu
sửa đổi hợp đồng được quy định tại Điều 421 Bộ luật dân sự 2015. Hơn thế nữa, nếu phát sinh
vấn đề không thể giải quyết trong quá trình giao kết, Hợp đồng thông minh cũng không thể bị
hủy bỏ bởi vì khi các điều kiện trong hợp đồng không được thỏa mãn thì hợp đồng sẽ không
được thức thi. Ví dụ, giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp có thể tự tạo ra một hợp đồng thông
minh trong hoạt động đầu tư. Cụ thể, hợp đồng này có chứa mã lệnh có chức năng giữ toàn bộ
số tiền từ nhà đầu tư cho đến khi doanh nghiệp đạt được mục tiêu gọi vốn. Từ đó, các nhà đầu
tư có thể chuyển tiền của họ và địa chỉ hợp đồng thông minh này. Nếu dự án gọi vốn được thành
công thì số tiền sẽ tự động chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu mà dự án

