
13
HỢP ĐỒNG THÔNG MINH - GÓC NHÌN TỪ KHUNG CHÍNH SÁCH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hữu Lộc*
Huỳnh Thị Kim Thoa**
Tóm tắt:
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại và sự ra đời của cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0, công nghệ kỹ thuật số đã có những tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi mặt của
đời sống kinh tế - xã hội. Đặc biệt là sự xuất hiện của khái niệm mới “hợp đồng thông minh” -
một hình thức giao kết hợp đồng với tính năng nổi bật là nhanh chóng, bảo mật cao và tự động
thực thi nhờ việc mã hoá các điều khoản hợp đồng bằng chương trình máy tính dựa trên nền
tảng công nghệ blockchain. Đứng trước thực tiễn này, pháp luật một số quốc gia đã có những
quy định điều chỉnh về hợp đồng thông minh. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hợp đồng thông minh
chưa được đề cập hoặc ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào, vì vậy, việc nghiên cứu
về loại hợp đồng này là vô cùng cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả trình bày
và phân tích về các vấn đề sau: (i) quy định của pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam về
giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh; (ii) phân tích về hợp đồng thông minh góc độ kỹ thuật
và pháp lý; và (iii) một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hợp
đồng thông minh.
Từ khoá: hợp đồng thông minh, thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, blockchain.
* Luật sư nội bộ, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam, email: locngh@gmail.com.
** Luật sư, Công ty Luật TNHH Sophia, email: thoahuynh3008@gmail.com.

14
Đặt vấn đề: Trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ blockchain được biết
đến là xu hướng của công nghệ thời đại với những đặc tính ưu việt của mình. Có thể hiểu rằng
blockchain chính là một cơ sở dữ liệu phân tích thông tin trong các khối (block) được liên kết
với nhau bằng mã hoá và mở rộng theo thời gian để tạo một chuỗi (chain). Mỗi khối trong
blockchain sẽ được liên kết móc xích với nhau, tức khối trước sẽ được liên kết với khối sau,
có chứa đầy đủ thông tin về thời gian khởi tạo khối đó kèm một mã thời gian và dữ liệu giao
dịch. Nhờ đó, tất cả thông tin giao dịch được lưu trữ đầy đủ và không bị thay đổi dưới bất kỳ
hình thức nào. Công nghệ blockchain đã tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi nhiều lĩnh
vực trên thế giới như sự ra đời của tiền điện tử, khả năng tín dụng trực tiếp mà không cần qua
trung gian, hàng hoá được quản lý thông qua mã định danh trên hệ thông blockchain,… Trong
đó, hợp đồng thông minh - một sản phẩm của công nghệ blockchain đang được thế giới đặc
biệt quan tâm và kỳ vọng trở thành giải pháp thay thế và tự động hoá hầu hết các hoạt động
thương mại vì sở hữu nhiều ưu điểm hơn so với hợp đồng truyền thống như giao dịch nhanh
chóng, bảo mật cao và tự động thực thi nhờ việc mã hoá các điều khoản hợp đồng bằng chương
trình máy tính dựa trên nền tảng công nghệ blockchain. Khái niệm “hợp đồng thông minh” lần
đầu tiên được giới thiệu vào thập niên 90 của thế kỷ XX bởi nhà khoa học máy tính và nhà lập
gia Nick Szabo. Năm 1998, Nick Szabo định nghĩa hợp đồng thông minh là một nhóm các lời
hứa hẹn được thể hiện dưới dạng điện tử, bao gồm các bước mà các bên tham gia hợp đồng
phải thực hiện để hoàn những lời hứa hẹn đó24.
Hiện nay, có quan điểm cho rằng hợp đồng thông minh là một phiên bản mới và hiện đại
của hợp đồng pháp lý và tương lai có khả năng thay thế hợp đồng truyền thống25. Tuy nhiên,
hợp đồng thông minh vẫn tồn tại bất cập về lỗi mã hoá và thiếu tính linh hoạt trong việc thực
hiện hợp đồng. Đây sẽ là rào cản dẫn tới hợp đồng thông minh không thể thay thế hoàn toàn
hợp đồng truyền thống trong mọi mặt đời sống xã hội. Song, trong bối cảnh xã hội hiện nay,
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi những phương thức sống của con người
bằng những ứng dụng của robot và trí tuệ nhân tạo vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chăm
sóc sức khoẻ, giáo dục, dịch vụ công,… mà ở đó không cần sự can thiệp trực tiếp của con người.
Vì vậy, mỗi quốc gia cần có những nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của hợp đồng thông
minh tới chính sách và pháp luật quốc gia, tránh sự “tụt hậu” trước sự chuyển mình mạnh mẽ
và không ngừng của công nghệ. Trên thế giới, một số quốc gia đã bắt đầu ghi nhận sự điều
chỉnh pháp luật về hợp đồng thông minh. Tuy nhiên, “địa vị pháp lý” của hợp đồng thông minh
tại Việt Nam còn đang bị bỏ ngõ, chưa có văn bản pháp lý cụ thể nào đề cập. Với tính cách là
tổng thể các quy tắc xử sự được chắt lọc từ đời sống xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ phát
sinh, pháp luật phải có những thay đổi khi phương thức sống của con người biến đổi26. Mặt
khác, pháp luật quốc gia cũng cần đảm bảo tính tương thích của pháp luật trong nước với pháp
luật thế giới để góp phần tạo hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch có yếu tố nước ngoài,
cụ thể là tránh rủi ro từ các tranh chấp pháp lý phát sinh từ sự xung đột pháp luật do có sự khác
biệt giữa pháp luật hợp đồng Việt Nam với các quy định của đối tác. Trong bài viết này, nhóm
tác giả sẽ tập trung trình bày và phân tích quy định của pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam
về giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh, phân tích hợp đồng thông minh dưới góc độ kỹ
thuật và pháp lý, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm xây dựng môi trường pháp lý cho
hợp đồng thông minh tại Việt Nam.
24 Smart Contracts Report (2022), EU Blockchain Observatory and Forum Experts Panel, tr.5.
25 Nguyễn Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Hương, “Bàn về hợp đồng thông minh trong thời đại công nghiệp 4.0”,
https://laodongcongdoan.vn/ban-ve-hop-dong-thong-minh-trong-thoi-dai-cong-nghiep-40-77133.html, truy cập
ngày 03/02/2023.
26 Nguyễn Thị Quế Anh, Ngô Huy Cương (chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra
đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2018, tr. 14.

15
1. Quy định của pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của hợp
đồng thông minh
1.1. Quy định của pháp luật thế giới về giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh
Tháng 2/2019, Nghị viện Italia đã hoàn tất thủ tục chuyển đổi Sắc lệnh số 135/2018 nâng
lên thành Luật số 12/2019. Theo đó, Điều 8 Luật này định nghĩa hợp đồng thông minh như sau:
“Hợp đồng thông minh là một chương trình máy tính hoạt động trên nền tảng công nghệ chạy
trên sổ cái phân tán và việc thực thi của chúng tự động ràng buộc hai hoặc nhiều bên theo các
hiệu ứng được xác định trước”. Ngoài ra, Luật này còn quy định hợp đồng thông minh phải
đáp ứng các yêu cầu nhận dạng kỹ thuật số của các bên trong hợp đồng dựa trên quy trình hướng
dẫn của Cơ quan Kỹ thuật số Italia27. Như vậy, pháp luật Italia đã công nhận một cách minh thị
giá trị pháp lý của hợp đồng minh và đặt ra yêu cầu chặt chẽ về sự tham gia của Cơ quan Kỹ
thuật số nước này vào việc xác định hiệu lực của hợp đồng thông minh.
Ở Hoa Kỳ, mặc dù chưa có một văn bản quy phạm của liên bang nhưng nhiều tiểu bang
đã ban hành đạo luật quy định về tính pháp lý của hợp đồng thông minh trên nền tảng công
nghệ blockchain. Thống đốc Bang Delaware đã ký Đạo luật SB 69 sửa đổi một số quy định
trong Luật Doanh nghiệp cho phép các doanh nghiệp có thể sử dụng công nghệ blockchain để
duy trì các sổ cái cổ phiếu. Theo đó, đạo luật này cho phép sổ cái cổ phiếu của doanh nghiệp
được duy trì bởi mạng ngang hàng P2P. Điều này có thể giúp ích cho doanh nghiệp trong việc
sử dụng sổ cái cổ phiếu để chuẩn bị và lưu trữ những thông tin cụ thể theo quy định của Luật
Doanh nghiệp Delaware cũng như có khả năng ghi lại những sự chuyển giao cổ phiếu. Bang
Arizona đã ban hành Đạo luật HB 2417 luật blockchain đầu tiên vào năm 2017, cho phép các
thoả thuận pháp lý có thể thực thi được tạo ra từ các hợp đồng thông minh, bao gồm mã tự thực
thi dựa trên các điều kiện đặt trước trên blockchain. Bang Nevada cũng cho phép việc sử dụng
và thực thi công nghệ blockchain trong các hợp đồng và chữ ký trong các bản ghi điện tử tại
Đạo luật SB 398 và còn đề cập hàng loạt các quy định cấm chính quyền địa phương áp đặt thuế
hoặc phí đối với việc sử dụng blockchain, yêu cầu chứng nhận, giấy phép hoặc giấy phép sử
dụng blockchain hay áp đặt bất kỳ yêu cầu nào khác có liên quan đến việc sử dụng blockchain.
Vào ngày 01/7/2021, luật về Tổ chức Tự trị Phi tập trung (Decentralized Autonomous
Organization - DAO) của bang Wyoming có hiệu lực và theo đạo luật này, việc quản trị DAO
được mã hoá thành các hợp đồng thông minh có thể được cập nhật, sửa đổi hoặc nâng cấp theo
cách khác28. Nhìn chung, mặc dù những quy định tại các bang của Mỹ chưa thực sự cụ thể
nhưng đây có thể xem là nền tảng để xây dựng một đạo luật chung của liên bang điều chỉnh về
hợp đồng thông minh.
Còn tại Anh và xứ Wales, hợp đồng thông minh cũng được điều chỉnh cụ thể trong hệ
thống pháp luật bằng thuật ngữ “hợp đồng pháp lý thông minh (smart legal contracts)”29. Theo
đó, hợp đồng pháp lý thông minh là một hợp đồng ràng buộc về pháp lý, trong đó, một số hoặc
tất cả nghĩa vụ trong hợp đồng được xác định và được thực hiện bởi việc thực thi chương trình
máy tính. Ngoài ra, một hợp đồng pháp lý thông minh không nhất thiết phải được lập trình trên
sổ cái phân tán. Có ba loại hợp đồng pháp lý thông minh: (i) hợp đồng ngôn ngữ tự nhiên và tự
thực thi theo mã máy tính; (ii) hợp đồng hỗn hợp, trong đó ngôn ngữ hợp đồng ở cả hai dạng
tự nhiên và mã máy tính; và (iii) hợp đồng được ghi riêng bằng mã máy tính. Như vậy, theo
pháp luật Anh và xứ Wales, hợp đồng pháp lý thông minh cũng được nhận diện bởi tính năng
27 Italya affirms legal effectiveness of DLTs and smart contracts,
https://www.linklaters.com/en/insights/blogs/fintechlinks/2019/fintech-italy-affirms-legal-effectiveness-of-
distributed-ledger, truy cập ngày 04/02/2023.
28 Xem thêm: “Crypto, DAOs and the Wyoming Frontier”, https://www.jdsupra.com/legalnews/crypto-daos-and-
the-wyoming-frontier-9251606/, truy cập ngày 03/02/2023.
29 Smart Contracts Report (2022), tlđd, tr. 22.

16
tự động thực thi bằng chương trình máy tính và loại hợp đồng này cũng được đảm bảo giá trị
thi hành tương tự với các hợp đồng pháp lý truyền thống.
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh
Tại Việt Nam, hợp đồng thông minh chưa được đề cập hoặc ghi nhận một cách rõ ràng
các văn bản quy phạm pháp luật.
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ mới dừng lại ở việc quy định khái niệm giao dịch
điện tử tự động. Theo khoản 7 Điều 4: “Giao dịch điện tử tự động là giao dịch điện tử được
thực hiện tự động từng phần hoặc toàn bộ thông qua hệ thống thông tin đã được thiết lập sẵn”.
Ở đây, Luật Giao dịch điện tử cũng đề cập đến tự động của giao dịch nhưng đặc điểm này hoàn
toàn khác biệt với bản chất của hợp đồng thông minh – thoả thuận được viết bằng mã máy tính,
được lưu trữ, sao chép và cập nhật trên cơ sở công nghệ blockchain.
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về sử dụng hệ
thống thông tin tự động tại Điều 13 như sau: “Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa
một hệ thống thông tin tự động với một người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với
nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người
vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao
kết”. Quy định này công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được giao kết qua hệ thống thông
tin tự động, tuy nhiên, bản chất của hợp đồng này không phải là hợp đồng thông minh. Bởi lẽ,
như đã nêu, hợp đồng thông minh là các hợp đồng được tự động thực hiện thông qua các chương
trình máy tính, còn quy định này chỉ đề cập đến việc giao kết mà không cho biết việc thực hiện
hợp đồng qua hệ thống thông tin tự động.
Tóm lại, giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh chưa được ghi nhận cụ thể trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Do đó, nếu có bất kỳ vấn đề pháp lý nào liên quan đến hợp đồng
thông minh, các quy định về hợp đồng của Bộ luật dân sự và các quy định của luật chuyên
ngành liên quan (ví dụ: Luật Giao dịch điện tử, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dung, Luật
Thương mại…), án lệ và lẽ công bằng sẽ được áp dụng để giải quyết.
2. Phân tích về hợp đồng thông minh góc độ kỹ thuật và pháp lý
2.1. Phân tích về hợp đồng thông minh dưới góc độ kỹ thuật
Trước đây, Nick Szabo đã từng đưa ra ví dụ về máy bán hàng tự động để giúp mọi người
dễ hình dung hơn về việc xác định thế nào là “hợp đồng thông minh”. Theo đó, có thể hiểu, cơ
chế của máy bán hàng tự động dựa trên logic của các thuật toán “nếu – thì” hoặc “đầu vào cụ
thể - đầu ra tương ứng”, trong đó việc thanh toán tại máy bán hàng tự động sẽ kích hoạt các
hành động không thể thu hồi và/hoặc sửa đổi, trong đó tiền được giữ lại vào hộp chứa tiền (nếu
thanh toán bằng tiền mặt) và tiền sẽ được giữ lại tại hệ thống ngân hàng của người bán (nếu
thanh toán không bằng tiền mặt) và sau đó một mặt hàng được cung cấp tương ứng với sự lựa
chọn của người mua30. Theo đó, kể từ thời điểm giao dịch này bắt đầu được xác lập, thực hiện
và cho đến khi kết thúc, bất kỳ tiến trình nào được xem là một phần của giao dịch “hợp đồng
thông minh” đều không thể bị dừng, thay đổi hoặc đảo ngược và hầu như là không có sự can
thiệp của con người trong giao dịch này vì các trình tự này đã được lập trình sẵn. Tương tự như
ví dụ về máy bán hàng tự động, hợp đồng thông minh có thể được coi là một cơ quan/thiết bị
chứa đựng quy trình/thuật toán logic, trong đó đầu vào nhất định sẽ có đầu ra dự kiến.
Dưới góc độ trình tự thời gian, vì hợp đồng thông minh tồn tại trước blockchain nên có
quan điểm cho rằng hợp đồng thông minh có thể tồn tại mà không cần công nghệ blockchain.
Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm tác giả, hợp đồng thông minh nên được xây dựng, hoạt
động, vận hành và chấm dứt trên các nền tảng phi tập trung và được hỗ trợ một hệ sinh thái
30 Smart Contracts Report (2022), tlđd, tr.5.

17
blockchain. Do những hạn chế về công nghệ vào thời điểm thiết lập nên khái niệm “hợp đồng
thông minh” không được quan tâm trong một thời gian dài và khái niệm này chỉ được các luật
gia trên thế giới dành sự quan tâm nhiều hơn khi blockchain xuất hiện và trở thành bước ngoặt
trong nền phát triển kỹ thuật công nghệ thông tin của thế giới vào thời gian gần đây. Theo đó,
blockchain đã cho phép phát triển các hợp đồng thông minh từ các hợp đồng tự động đơn giản
đến các hợp đồng tự thực hiện và tự thực thi hoàn toàn mà không cần có sự tham gia của các
bên tham gia trong quan hệ hợp đồng sau khi giao dịch được kích hoạt.
Theo đó, blockchain là sổ cái chung của các giao dịch giữa các bên trong mạng, không
được kiểm soát bởi một cơ quan trung ương duy nhất. Blockchain cũng có thể hiểu là “cách
thức lưu trữ dữ liệu dưới dạng phân tán liên kết tạo thành chuỗi và mạng lưới, được duy trì sự
kiểm soát trên một mạng phân tán”31.
Vào năm 2014, Vitalik Buterin (đồng sáng lập Ethereum) đã giải thích tại hội nghị thượng
đỉnh blockchain về cách thức hoạt động của các hợp đồng thông minh: “Các hợp đồng được
dịch sang ngôn ngữ máy tính và được lưu trữ theo khối. Các bên tham gia hợp đồng, được sao
chép vào sổ cái phân tán, được giữ ẩn danh 100%. Đoạn mã đã sẵn sàng với các nhiệm vụ và
thông tin chi tiết cụ thể (giới hạn thời gian, nội dung giao dịch, lưu đồ diễn ra và kết thúc giao
dịch, các điều kiện xảy ra tương ứng với từng sự kiện phát sinh, v.v.). Khi đến thời điểm, nó sẽ
thực hiện hành động để hoàn thành giao dịch và nếu các điều kiện cần thiết được đáp ứng, giao
dịch sẽ được hoàn thành thành công hoặc bị hủy trước khi hoàn thành.”32
Dưới góc độ kỹ thuật, hợp đồng thông minh hoạt động theo cơ chế sau33:
Giai đoạn 1: Các bên tham gia giao dịch đạt được thỏa thuận về các điều kiện và điều
khoản trong giao dịch trước khi viết mã.
Giai đoạn 2: Các bên tự mình hoặc thuê một bên thứ ba viết mã các điều khoản trong hợp
đồng thông minh.
Giai đoạn 3: Các mã được viết này lần lượt được chuyển đến các khối trong blockchain.
Giai đoạn 4: Mã hợp đồng trải qua quá trình phân phối và sao chép. Việc phân phối và
sao chép được thực hiện bởi hệ thống các nút hoạt động trên blockchain.
Giai đoạn 5: Hợp đồng chỉ được thực hiện khi nhận lệnh xác nhận và các nút sẽ làm
nhiệm vụ xác nhận này cũng như có thể kết nối với hệ thống hoặc nguồn cấp dữ liệu bên ngoài
có liên quan.
Giai đoạn 6: Hợp đồng thông minh sẽ được thực thi tự động tuân theo những điều khoản
ghi trong hợp đồng đó.
2.2. Phân tích về hợp đồng thông minh dưới góc độ pháp lý
Căn cứ theo Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam hoặc Điều 11 Luật
mẫu về thương mại điện tử (Model Law on Electronic Commerce - MLEC) của UNCITRAL,
theo quan điểm của nhóm tác giả, hợp đồng thông minh là một dạng của hợp đồng điện tử.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định pháp luật cụ thể để điều chỉnh về hợp
đồng thông minh. Dựa trên phân tích về kỹ thuật, nhóm tác giả cho rằng, vì hợp đồng thông
minh có thể được coi là một dạng của hợp đồng nên hợp đồng thông minh có hiệu lực ràng
31 https://www.oecd.org/finance/oecd-blockchain-policy-forum.htm, truy cập ngày 03/02/2023.
32 https://www.weusecoins.com/assets/pdf/library/Ethereum_white_paper-
a_next_generation_smart_contract_and_decentralized_application_platform-vitalik-buterin.pdf, truy cập ngày
03/02/2023.
33 https://documents1.worldbank.org/curated/en/710151588785681400/pdf/Smart-Contract-Technology-and-
Financial-Inclusion.pdf, truy cập ngày 03/02/2023 (tham khảo quan điểm của World Bank và có điều chỉnh để
phù hợp với quan điểm của nhóm tác giả)

