intTypePromotion=1
ADSENSE

Khảo sát thực trạng nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Cần Thơ

Chia sẻ: ViLusaka2711 ViLusaka2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

50
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này dựa trên kết quả khảo sát 150 giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm hiểu thực trạng không đồng đều trong nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm tháo gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát thực trạng nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Cần Thơ

An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN<br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ<br /> <br /> Đào Ngọc Cảnh1<br /> 1<br /> Trường Đại học Cần Thơ<br /> <br /> Thông tin chung: ABSTRACT<br /> Ngày nhận bài: 26/04/2018<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt: Doing scientific research is a fundamental duty of the university teaching<br /> 14/7/2018 staff. However, many of the teaching staff have just focused on teaching<br /> Ngày chấp nhận đăng: activities, but not paid much attention to scientific research. Therefore, there<br /> 08/2018 has been an imbalance in scientific research activities of teaching staff in<br /> Title: departments and faculties in universities or colleges. This paper is based on<br /> The investigation about the the survey of 150 university lecturers in Can Tho University in order to study<br /> reality of scientific research the imbalance in their scientific research activities, which helps to pose<br /> activities of teaching staff at suggested solutions to strengthen and develop these activities more<br /> Can Tho university<br /> effectively.<br /> Keywords:<br /> Scientific research, university TÓM TẮT<br /> lecturers, Can Tho University<br /> Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ cơ bản của giảng viên đại học. Tuy nhiên,<br /> Từ khóa:<br /> Khoa học, nghiên cứu khoa nhiều giảng viên vẫn chỉ chú trọng hoạt động giảng dạy mà chưa quan tâm<br /> học, giảng viên đại học, đến hoạt động nghiên cứu khoa học. Vì vậy, có tình trạng không đồng đều<br /> Trường Đại học Cần Thơ trong hoạt động nghiên cứu khoa học giữa các giảng viên trong từng bộ<br /> môn, từng khoa ở các trường đại học. Bài viết này dựa trên kết quả khảo sát<br /> 150 giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm hiểu thực trạng không<br /> đồng đều trong nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học; từ đó, đề xuất<br /> các biện pháp nhằm tháo gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn.<br /> <br /> <br /> 1. GIỚI THIỆU cao của xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát<br /> Nghiên cứu khoa học (NCKH) có tầm quan triển.<br /> trọng đặc biệt trong giáo dục đại học bởi vì nó Theo Meek and Davies (2009), vai trò của các<br /> không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào trường đại học ngày càng được nâng cao trong<br /> tạo mà còn sáng tạo ra những tri thức mới, công nền kinh tế tri thức thông qua ba chức năng cơ<br /> nghệ mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát bản là: (i) nghiên cứu để sáng tạo tri thức, (ii)<br /> triển xã hội. Trong thời đại ngày nay, sự phát giảng dạy để truyền bá tri thức và (iii) cung cấp<br /> triển nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng dịch vụ để phục vụ xã hội. Để trường đại học<br /> công nghiệp lần thứ 4 (Công nghiệp 4.0) đang thực hiện được ba chức năng này thì người<br /> diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi các trường đại học giảng viên cũng phải thực hiện được ba vai trò<br /> phải đẩy mạnh hoạt động khoa học và công tương ứng: (i) vai trò nhà giáo; (ii) vai trò nhà<br /> nghệ (KH&CN) để đáp ứng yêu cầu ngày càng nghiên cứu; (iii) vai trò nhà cung ứng các dịch<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 42<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> vụ cho xã hội dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, các báo cáo thường<br /> mình. niên, báo cáo tự đánh giá, số liệu thống kê của<br /> Ở Việt Nam, hoạt động KH&CN ở các trường của Trường ĐHCT và các nguồn thông tin tư<br /> đại học vẫn còn nhiều hạn chế. Tại Hội nghị liệu khác. Các dữ liệu này được hệ thống hóa,<br /> “Phát triển KH&CN trong các cơ sở giáo dục phân tích, tổng hợp nhằm phục vụ cho đề tài<br /> đại học giai đoạn 2017 - 2025” do Bộ Giáo dục nghiên cứu.<br /> và Đào tạo (GD&ĐT) phối hợp với Bộ 2.2 Phương pháp nghiên cứu<br /> KH&CN tổ chức ngày 29/7/2017, Bộ trưởng Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử<br /> Phùng Xuân Nhạ chỉ rõ: “Cơ chế, chính sách dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp liên quan đến<br /> thu hút đội ngũ giảng viên tham gia NCKH của hoạt động NCKH của giảng viên. Tổng số mẫu<br /> các cơ sở giáo dục đại học chưa mạnh mẽ và khảo sát là 150 giảng viên thuộc 13 khoa của<br /> hiệu quả; chính sách hỗ trợ các trường trong Trường ĐHCT theo cách lấy mẫu phân tầng.<br /> việc thúc đẩy hoạt động KH&CN còn bất cập; Thang đo được sử dụng là thang Likert 5 mức<br /> các trường, giảng viên chưa thực sự coi trọng độ. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm<br /> NCKH, thiếu đầu tư trọng điểm cho các nhóm SPSS for Window 20.0 dưới dạng thống kê mô<br /> nghiên cứu gắn với các ngành đào tạo trọng tả áp dụng trong nghiên cứu xã hội học.<br /> tâm. Bất cập lớn nhất nằm ở chỗ hoạt động<br /> 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO<br /> NCKH đáng lẽ ra phải là nhiệm vụ căn bản,<br /> LUẬN<br /> trọng tâm thì chỉ vài trường đại học chú trọng<br /> đầu tư” (Lệ Thu, 2017). 3.1 Khái quát về Trường ĐHCT và đặc<br /> điểm đối tượng khảo sát<br /> Đối với giảng viên đại học, nhìn chung vẫn có<br /> tình trạng coi trọng giảng dạy hơn NCKH. Bên 3.1.1 Khái quát về Trường ĐHCT<br /> cạnh một số giảng viên tích cực tham gia Trường ĐHCT là cơ sở đào tạo đại học và sau<br /> NCKH, thì nhiều giảng viên khác còn thờ ơ với đại học trọng điểm quốc gia, là trung tâm văn<br /> hoạt động này. Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra hóa, KH&CN ở vùng Đồng bằng sông Cửu<br /> tình trạng không đồng đều trong hoạt động Long (ĐBSCL). Hơn 50 năm qua, nhà trường<br /> NCKH của giảng viên giữa các khoa, trong đã không ngừng hoàn thiện và phát triển thành<br /> từng khoa và từng bộ môn của trường đại học. một trung tâm đào tạo và NCKH đa ngành, đa<br /> Nghiên cứu này dựa trên kết quả khảo sát 150 lĩnh vực theo hướng đại học nghiên cứu. Bên<br /> giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) cạnh công tác đào tạo, Trường đã chú trọng<br /> nhằm tìm hiểu thực trạng không đồng đều trong triển khai các chương trình NCKH, ứng dụng<br /> NCKH của giảng viên đại học, động cơ NCKH những thành tựu khoa học và kỹ thuật nhằm<br /> và những khó khăn của giảng viên trong giải quyết các vấn đề về KH&CN, kinh tế, văn<br /> NCKH. Từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoá và xã hội của vùng ĐBSCL.<br /> hoạt động NCKH của giảng viên, đáp ứng yêu Trong giai đoạn 2012 - 2016, Trường ĐHCT đã<br /> cầu phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập thực hiện 1.269 nhiệm vụ KH&CN các cấp.<br /> quốc tế hiện nay. Trong đó, có 817 đề tài cấp Trường, 440 đề tài<br /> 2. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP cấp Bộ và cấp Nhà nước, 448 đề tài hợp tác với<br /> NGHIÊN CỨU các địa phương. Trường ĐHCT đã có nhiều<br /> công bố khoa học, trong đó có 398 bài báo khoa<br /> 2.1 Dữ liệu nghiên cứu<br /> học được công bố quốc tế trên các tạp chí trong<br /> Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn danh mục ISI. Nguồn thu từ NCKH và chuyển<br /> bản pháp quy của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT giao công nghệ của Trường đạt trên 316 tỷ<br /> về nhiệm vụ NCKH của giảng viên đại học; từ đồng.<br /> <br /> <br /> <br /> 43<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> Bảng 1. Số lượng và kinh phí đề tài NCKH của ĐHCT thời kỳ 2012 - 2016<br /> <br /> 2012 2013 2014 2015 2016<br /> Số lượng (đề tài) 208 235 262 232 248<br /> Kinh phí (triệu đồng) 37.565 26.573 59.066 29.831 37.310<br /> <br /> (Nguồn: Trường ĐHCT, 2016)<br /> <br /> Với định hướng xây dựng Trường ĐHCT trở là các công bố quốc tế. Riêng năm 2016,<br /> thành trường đại học xuất sắc về nghiên cứu, Trường có 1.218 bài báo khoa học, trong đó có<br /> đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực nhằm thực hiện 95 bài báo quốc tế ISI.<br /> tốt hơn nhiệm vụ đào tạo, cung cấp nguồn nhân Vì vậy, theo bảng xếp hạng website các trường<br /> lực có chất lượng cho vùng ĐBSCL và cả nước, đại học trên thế giới (Webometrics Ranking of<br /> nhà trường đã chú trọng hoạt động NCKH, tăng World Universities), ĐHCT luôn nằm trong<br /> cường xuất bản các công trình nghiên cứu, nhất danh sách các đại học hàng đầu của Việt Nam.<br /> Bảng 2. Xếp hạng của ĐHCT trong đại học Việt Nam và thế giới (tháng 1/2017)<br /> <br /> Việt Nam Thế giới<br /> Đại học Quốc gia Hà Nội 1 1580<br /> Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 2 1764<br /> Học viện Nông nghiệp Việt Nam 3 2070<br /> Trường Đại học Cần Thơ 4 2261<br /> Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 5 2588<br /> (Nguồn: Webometrics, 2017)<br /> Từ những kết quả NCKH, Trường ĐHCT đã đa số trường hợp không theo tôn giáo nào<br /> tạo ra nhiều sản phẩm, quy trình công nghệ (99,3%), chỉ có 1 trường hợp theo Đạo Thiên<br /> phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu, tạo Chúa (0,7%).<br /> được uy tín trên thị trường trong nước và quốc Về lĩnh vực chuyên môn, các giảng viên thuộc<br /> tế. Các hoạt động NCKH của Trường góp phần 4 nhóm ngành: Khoa học Tự nhiên (19,6%);<br /> phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại Khoa học Kỹ thuật & Công nghệ (25,9%);<br /> hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Khoa học Nông nghiệp (21%); Khoa học Xã<br /> người dân vùng ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập hội và Nhân văn (33,6%). Về trình độ chuyên<br /> quốc tế và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn môn, giảng viên từ Thạc sĩ trở lên chiếm<br /> cầu. 99,3%, các trình độ khác chiếm tỷ lệ rất thấp,<br /> 3.1.2 Đặc điểm đối tượng khảo sát cụ thể như sau: Đại học (0,7%); Thạc sĩ<br /> Về độ tuổi, các giảng viên được khảo sát có độ (50,7%); đang học thạc sĩ (6,1%); Tiến sĩ<br /> tuổi từ 25 - 59 tuổi; trong đó, từ 25 - 35 tuổi (27,7%); đang học tiến sĩ (14,9%). Về chức<br /> chiếm 44%; từ 36 - 45 tuổi chiếm 43,3%; từ 46 danh: Giảng viên (85,2%); Giảng viên chính<br /> - 59 tuổi chiếm 12,7%. Về giới tính, nam chiếm (9,4%); Phó Giáo sư (5,4%). Về chức vụ:<br /> 50,7%; nữ chiếm 49,3%. Về dân tộc, hầu hết không có chức vụ (60,7%); Trưởng/Phó tổ<br /> các đối tượng là người Kinh (98,7%), chỉ có 2 chuyên ngành (5%); Trưởng/Phó bộ môn<br /> trường hợp là người Hoa (1,3%). Về tôn giáo, (25,7%); Trưởng/Phó khoa (1,4%); chức vụ<br /> khác (công tác Đảng, đoàn thể) chiếm 7,1%. Về<br /> <br /> <br /> 44<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> thời gian công tác tại ĐHCT: từ 2 - 5 năm nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp,<br /> chiếm 20,5%; từ 6 - 10 năm chiếm 52,6%; từ 11 NCKH được hiểu là hoạt động nghiên cứu<br /> - 30 năm chiếm 23,1%; trên 30 năm chiếm “thuần túy”, nghĩa là nhằm mục tiêu khám phá<br /> 3,8%. và ứng dụng tri thức khoa học. Theo nghĩa<br /> Về tình trạng hôn nhân, gia đình: 32 trường hợp rộng, NCKH vừa sáng tạo tri thức khoa học,<br /> sống độc thân (20,3%); 117 trường hợp kết hôn vừa đưa tri thức khoa học vào giảng dạy, đồng<br /> (79,1%); 1 trường hợp ly hôn (0,7%). Về số con thời còn dẫn dắt người học nghiên cứu.<br /> của các giảng viên: 51 giảng viên chưa có con Trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay, kiến<br /> (34%); 41 giảng viên có 1 con (27,3%); 56 thức mà người học thu nhận được ở trường đại<br /> giảng viên có 2 con (37,3%); 1 giảng viên có 3 học sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu. Vì vậy,<br /> con (0,7%); 1 giảng viên có 4 con (0,7%). nhiệm vụ chính của giảng viên không phải là<br /> 3.2 Quan niệm, ý nghĩa và động cơ NCKH truyền thụ kiến thức chuyên môn, mà là thông<br /> của giảng viên qua quá trình dạy học để hình thành năng lực<br /> nghiên cứu ở người học, để người học có khả<br /> 3.2.1 Quan niệm về NCKH của giảng viên<br /> năng tự nắm bắt và phát triển tri thức. Điều đó<br /> NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều có nghĩa là, giảng viên đại học phải vừa là nhà<br /> tra, thử nghiệm dựa trên những số liệu, tài liệu, giáo dục chuyên nghiệp, vừa là nhà nghiên cứu<br /> kiến thức thông qua thí nghiệm, thực nghiệm có đầu óc sáng tạo, có tư duy độc lập và khả<br /> hoặc khảo sát từ thực tế khách quan để sáng tạo năng hợp tác để hỗ trợ có hiệu quả cho sinh<br /> ra tri thức mới, công nghệ mới hoặc sản phẩm viên, nghiên cứu sinh phát triển năng lực<br /> mới, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Nội nghiên cứu của mình.<br /> hàm của khái niệm NCKH rất rộng, bao gồm<br /> Từ quan niệm về hoạt động NCKH theo nghĩa<br /> quá trình hoạt động NCKH, kết quả NCKH,<br /> rộng, chúng tôi đã đưa ra các câu hỏi khảo sát<br /> ứng dụng kết quả nghiên cứu, công bố kết quả<br /> theo thang Likert 5 mức độ (1 = rất không đồng<br /> nghiên cứu và phổ biến kiến thức khoa học.<br /> ý, 2 = không đồng ý, 3 = trung lập; 4 = đồng ý,<br /> Theo Ding et al. (2006), hoạt động NCKH được 5 = rất đồng ý). Kết quả cho thấy, các hoạt<br /> thể hiện dưới dạng các hình thức sau: (i) thực động NCKH được giảng viên đồng ý ở mức cao<br /> hiện NCKH, (ii) xuất bản công trình nghiên là: Viết bài đăng trên tạp chí khoa học; Thực<br /> cứu, (iii) bằng sáng chế khoa học, (iv) giải hiện báo cáo khoa học; Thực hiện đề tài NCKH<br /> thưởng NCKH. các cấp; Viết bài tham luận hội nghị/hội thảo<br /> Đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH ở các khoa học; Hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài<br /> trường đại học là NCKH thường đan xen với nghiên cứu. Đây là những hoạt động NCKH<br /> các hoạt động đào tạo và nhằm phục vụ đào tạo. theo nghĩa hẹp.<br /> Như vậy, cần phân biệt khái niệm NCKH theo<br /> Bảng 3. Quan niệm của giảng viên về hoạt động NCKH (N= 150)<br /> <br /> TT Tiêu chí Trung bình<br /> 1. Viết bài đăng tạp chí khoa học 4,39<br /> 2. Thực hiện báo cáo khoa học (Seminar) 4,30<br /> 3. Thực hiện đề tài các cấp (từ cấp Trường trở lên) 4,29<br /> 4. Viết bài tham luận hội nghị/hội thảo khoa học 4,13<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 45<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> TT Tiêu chí Trung bình<br /> 5. Hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu 4,08<br /> 6. Tham dự hội nghị/hội thảo khoa học 3,93<br /> 7. Biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo... 3,92<br /> 8. Tự nghiên cứu nội dung chuyên môn phục vụ bài giảng 3,91<br /> 9. Hướng dẫn sinh viên thực hiện khóa luận/luận văn đại học 3,86<br /> 10. Tự nghiên cứu một vấn đề lý thuyết hoặc thực tiễn 3,84<br /> 11. Viết bài phổ biến kiến thức khoa học 3,78<br /> 12. Hướng dẫn học viên cao học thực hiện luận văn thạc sĩ 3,74<br /> 13. Nghe báo cáo chuyên đề về lĩnh vực chuyên môn 3,72<br /> 14. Hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ 3,70<br /> 15. Tham gia khóa tập huấn về NCKH 3,64<br /> <br /> <br /> Các hoạt động còn lại được sự đồng ý ở mức được giảng viên đồng ý ở mức cao (Trung bình<br /> thấp hơn. Về cơ bản, đây là hoạt động NCKH > 4,0) là: Nhằm hiểu sâu hơn các lý thuyết<br /> theo nghĩa rộng, tức là hoạt động NCKH gắn chuyên môn; Nhằm phát hiện tri thức mới;<br /> với giảng dạy và phổ biến kiến thức khoa học. Nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn; Góp phần<br /> 3.2.2 Ý nghĩa của NCKH đối với giảng viên nâng cao chất lượng bài giảng; Tạo nên uy tín<br /> cho người giảng viên; Thể hiện năng lực<br /> Hoạt động NCKH có nhiều ý nghĩa đối với<br /> chuyên môn của người giảng viên; Thỏa mãn<br /> giảng viên đại học, nhất là ý nghĩa đối với việc<br /> niềm đam mê; Là nghĩa vụ và trách nhiệm của<br /> phát triển năng lực chuyên môn của giảng viên.<br /> giảng viên.<br /> Kết quả khảo sát cho thấy, các ý nghĩa NCKH<br /> <br /> Bảng 4. Ý kiến của giảng viên về ý nghĩa của NCKH (N=150)<br /> <br /> TT Tiêu chí Trung bình<br /> 1. Nhằm hiểu sâu hơn các lý thuyết chuyên môn 4,43<br /> 2. Nhằm phát hiện tri thức mới 4,36<br /> 3. Nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn 4,33<br /> 4. Góp phần nâng cao chất lượng bài giảng 4,29<br /> 5. Tạo nên uy tín cho người giảng viên 4,27<br /> 6. Thể hiện năng lực chuyên môn của người giảng viên 4,26<br /> 7. Thỏa mãn niềm đam mê 4,13<br /> 8. Là nghĩa vụ và trách nhiệm của giảng viên 4,07<br /> 9. Là điều kiện để thăng tiến trong sự nghiệp 3,69<br /> 10. Góp phần tạo thu nhập cho giảng viên 3,61<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 46<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> Hai ý nghĩa còn lại có mức đồng ý thấp hơn định bản thân, muốn hơn người khác, học hàm,<br /> (Trung bình < 4,0): Là điều kiện để thăng tiến học vị, lợi ích kinh tế.<br /> trong sự nghiệp; Góp phần tạo thu nhập cho Kết quả khảo sát về động cơ NCKH của giảng<br /> giảng viên. Chính vì một số giảng viên quan viên với câu hỏi có nhiều lựa chọn cho thấy có<br /> niệm rằng, NCKH không phải là điều kiện sự phân hóa đáng kể giữa các động cơ. Đa số<br /> thăng tiến và không tạo thu nhập nên ít quan giảng viên đồng ý rằng động cơ NCKH là: Để<br /> tâm đến NCKH. nâng cao năng lực chuyên môn (40,3%); Vì<br /> 3.2.3 Động cơ NCKH của giảng viên nhiệm vụ (26,5%); Vì đam mê (25,7%). Tuy<br /> Động cơ cũng được coi là động lực NCKH. nhiên, số giảng viên chọn động cơ NCKH: Để<br /> Theo GS. Đặng Hùng Thắng (2015), có động xét thi đua, xét chức danh chiếm tỷ lệ khá thấp<br /> lực nghiên cứu mới thôi thúc người ta nghiên (7,5%). Theo kết quả phỏng vấn sâu, nhiều<br /> cứu. Động lực càng mạnh mẽ thì năng lực giảng viên cho rằng, việc xét thi đua chưa thực<br /> nghiên cứu càng được phát huy tốt. Động lực sự công bằng, có người không NCKH nhưng<br /> nghiên cứu của một giảng viên, tùy thuộc vào vẫn được xét danh hiệu thi đua. Ngoài ra, một<br /> mỗi người, có thể là: niềm đam mê, ham nghiên số giảng viên cho rằng, việc xét chức danh (Phó<br /> cứu tìm tòi cái mới, khát vọng muốn khẳng Giáo sư, Giáo sư) đối với họ còn quá xa vời nên<br /> không quan tâm.<br /> Bảng 5. Động cơ NCKH của giảng viên (N=150)<br /> <br /> Tần suất Tỷ lệ<br /> Động cơ NCKH<br /> (Ý kiến) (%)<br /> <br /> Vì nhiệm vụ 67 26,5<br /> <br /> Vì đam mê 65 25,7<br /> <br /> Để nâng cao năng lực chuyên môn 102 40,3<br /> <br /> Để xét thi đua, xét chức danh 19 7,5<br /> <br /> Tổng cộng 253 100,0<br /> <br /> <br /> <br /> Ý kiến về động cơ NCKH như vậy cũng phù thực hiện. Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT<br /> hợp với quan niệm về ý nghĩa của NCKH khi của Bộ GD&ĐT (2014) quy định “Giảng viên<br /> có không ít giảng viên cho rằng, NCKH không phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm<br /> phải là điều kiện thăng tiến. Đây có thể là việc trong năm học để làm nhiệm vụ NCKH”.<br /> nguyên nhân làm cho nhiều giảng viên chưa Nghị định số 73/2015/NĐ-CP của Chính phủ<br /> thực sự chú trọng NCKH. (2015) quy định “Đối với cơ sở giáo dục đại<br /> 3.3 Thực trạng hoạt động NCKH của giảng học định hướng nghiên cứu, giảng viên cơ hữu<br /> viên phải dành ít nhất 50% tổng thời gian làm việc<br /> định mức cho hoạt động NCKH”.<br /> 3.3.1 Khối lượng hoạt động chuyên môn và<br /> NCKH của giảng viên Quyết định số 4212/QĐ-ĐHCT (2015) của<br /> Trường ĐHCT quy định giảng viên phải thực<br /> Cùng với hoạt động giảng dạy thì NCKH cũng<br /> hiện tổng định mức hoạt động chuyên môn từ<br /> là nhiệm vụ cơ bản mà mỗi giảng viên phải<br /> 280 đến 510 giờ chuẩn (G) mỗi năm học, trong<br /> <br /> <br /> 47<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> đó giờ NCKH chiếm khoảng 30% tùy theo chức mà chưa quan tâm đến NCKH. Kết quả khảo<br /> danh và hệ số lương của giảng viên. sát cho thấy, tổng giờ của giảng viên là rất cao<br /> Mặc dù giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ nhưng giờ NCKH lại thấp. Năm 2016, tổng giờ<br /> bắt buộc đối với giảng viên, nhưng trên thực tế quy chuẩn của giảng viên trong khoảng từ 180 -<br /> giảng viên chỉ chú ý đến hoạt động giảng dạy 3.500 giờ, trung bình 1.208 giờ/giảng viên.<br /> <br /> <br /> Từ 3000 giờ trở lên 0,7<br /> <br /> <br /> Từ 2000 đến 3000 giờ 2,7<br /> <br /> <br /> Từ 1000 đến 2000 giờ 22,0<br /> <br /> <br /> Từ 500 đến 1000 giờ 46,7<br /> <br /> <br /> Dưới 500 giờ 28,1<br /> <br /> <br /> 0 10 20 30 40 50<br /> <br /> <br /> Hình 1. Tỷ lệ giảng viên (%) tính theo tổng số giờ quy chuẩn (G)<br /> Nếu lấy mức giờ chuẩn chung cho giảng viên là Nếu như tổng số giờ của giảng viên là rất cao,<br /> 500 giờ/năm thì có 78,9% giảng viên vượt giờ thì giờ NCKH lại thấp và không đồng đều giữa<br /> chuẩn; đặc biệt có 25,4% giảng viên đạt > 1000 các giảng viên. Trung bình mỗi giảng viên đạt<br /> giờ/năm. Trong khi đó, số giảng viên có tổng số 126,5 giờ NCKH, nhưng có tới 21,3% giảng<br /> giờ chuẩn dưới 500 giờ/năm chỉ chiếm 28,1%. viên không có giờ NCKH; 31,3% giảng viên<br /> chỉ đạt từ 10 - 50 giờ NCKH.<br /> <br /> <br /> Từ 400 giờ NCKH trở lên 2,0<br /> <br /> Từ 200 đến 400 giờ NCKH 13,3<br /> <br /> Từ 100 đến 200 giờ NCKH 10,7<br /> <br /> Từ 50 đến 100 giờ NCKH 19,3<br /> <br /> Từ 10 đến 50 giờ NCKH 31,3<br /> <br /> Dưới 10 giờ NCKH 2,0<br /> <br /> Không có giờ NCKH 21,3<br /> <br /> 0,0 5,0 10,0 15,0 20,0 25,0 30,0 35,0<br /> <br /> <br /> Hình 2. Tỷ lệ giảng viên (%) tính theo số giờ NCKH<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 48<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> Tính trung bình số giờ NCKH của giảng viên giảng viên công bố từ 2 - 5 bài, 18,6% giảng<br /> chỉ chiếm khoảng 10% - 15% so với tổng số giờ viên công bố trên 10 bài. Đặc biệt, có giảng<br /> trong năm. Có nghĩa là, hầu hết giảng viên chưa viên công bố hơn 50 bài trên tạp chí khoa học<br /> đáp ứng được yêu cầu đề ra đối với nhiệm vụ trong nước và hơn 10 bài trên tạp chí khoa học<br /> NCKH theo các quy định hiện hành. quốc tế. Tuy nhiên, cũng có 48% giảng viên<br /> 3.3.2 Một số hoạt động NCKH của giảng viên chưa từng công bố bài báo khoa học; 32,6%<br /> giảng viên chưa có bài báo khoa học trong<br /> Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT quy định “Mỗi<br /> nước; 62% giảng viên chưa có bài báo khoa học<br /> năm, kết quả NCKH của giảng viên tối thiểu là<br /> quốc tế.<br /> một đề tài NCKH cấp cơ sở hoặc tương đương<br /> được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc Ngoài ra, có 50% giảng viên chưa viết báo cáo<br /> một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học tham luận hội nghị/hội thảo khoa học; 52%<br /> có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội giảng viên chưa tham gia biên soạn giáo trình;<br /> thảo khoa học chuyên ngành” (Bộ GD&ĐT, 34,7% giảng viên chưa thực hiện báo cáo khoa<br /> 2014). học (Seminar).<br /> <br /> Kết quả khảo sát cho thấy có tỷ lệ khá lớn giảng 3.3.3 Mức độ NCKH xét theo các nhóm đối<br /> viên không tham gia các hoạt động NCKH như: tượng giảng viên<br /> thực hiện đề tài NCKH; viết bài đăng trên tạp Để phân tích tương quan giữa mức độ NCKH<br /> chí khoa học; viết báo cáo tham luận hội nghị, và các nhóm đối tượng giảng viên, nghiên cứu<br /> hội thảo khoa học; thực hiện báo cáo khoa học này chia ra 6 mức độ NCKH: không; rất ít; ít;<br /> (Seminar), v.v… trung bình; nhiều; rất nhiều. Đối với các nhóm<br /> Về đề tài NCKH, 56,7% giảng viên đã thực đối tượng giảng viên, nghiên cứu này chia ra<br /> hiện đề tài NCKH; trong đó: 32,7% giảng viên theo các tiêu chí: giới tính, độ tuổi, tình trạng có<br /> đã thực hiện 1 - 2 đề tài, 18% giảng viên đã con nhỏ, trình độ chuyên môn, chức danh khoa<br /> thực hiện 3 - 5 đề tài, 7,3% giảng viên đã thực học.<br /> hiện 6 - 10 đề tài. Tuy nhiên, có tới 41,3% Về tương quan giữa mức độ NCKH và giới tính<br /> giảng viên chưa từng thực hiện đề tài NCKH. của giảng viên, xu hướng là giảng viên nữ<br /> Nếu tính riêng trong 3 năm gần đây thì 50% NCKH nhiều hơn giảng viên nam. Nếu tính từ<br /> giảng viên không có đề tài NCKH. Trong số mức trung bình trở lên thì nữ đạt 58,9%, nam<br /> 50% giảng viên còn lại, 47,3% giảng viên có 1 - đạt 55,3%. Đặc biệt, tỷ lệ giảng viên nam<br /> 2 đề tài; 12,7% giảng viên có 3 - 5 đề tài không NCKH là 10,5%; trong khi đó, giảng<br /> NCKH. viên nữ không NCKH chỉ có 4,1%.<br /> <br /> Về công bố bài báo khoa học, 52% giảng viên<br /> đã công bố ít nhất 1 bài; trong đó, có 16,7%<br /> Bảng 6. Tương quan giữa mức độ NCKH với giới tính của giảng viên (%)<br /> <br /> Không Rất ít Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều<br /> Nam 10,5 11,8 22,4 36,8 15,8 2,6<br /> Nữ 4,1 12,3 24,7 37,0 17,8 4,1<br /> <br /> <br /> Về tương quan giữa mức độ NCKH và độ tuổi, rất nhiều, độ tuổi 25 - 30 có tỷ lệ 11,1%; độ tuổi<br /> xu hướng là giảng viên có tuổi càng cao NCKH 31 - 40 là 16,7%; độ tuổi 41 - 50 là 27,8%; độ<br /> càng nhiều. Nếu tính từ mức NCKH nhiều và tuổi 51 - 60 là 41,6%.<br /> <br /> <br /> 49<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> Bảng 7. Tương quan giữa mức độ NCKH với độ tuổi của giảng viên (%)<br /> <br /> Không Rất ít Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều<br /> 25 - 30 tuổi 11,1 14,8 18,5 44,4 11,1 0,0<br /> 31 - 40 tuổi 5,6 11,1 30,6 36,1 12,5 4,2<br /> 41 - 50 tuổi 11,1 13,9 16,7 30,6 25,0 2,8<br /> 51 - 60 tuổi 0,0 8,3 8,3 41,7 33,3 8,3<br /> <br /> <br /> Về tương quan giữa mức độ NCKH và tình con nhỏ) thành 4 nhóm đối tượng. Nhìn chung,<br /> trạng có con nhỏ của giảng viên được chia theo giảng viên nữ có con nhỏ ảnh hưởng đến<br /> hai tiêu chí (nữ - nam; có con nhỏ - không có NCKH nhiều hơn giảng viên nam có con nhỏ.<br /> <br /> Bảng 8. Tương quan giữa mức độ NCKH với tình trạng có con nhỏ (%)<br /> <br /> Không Rất ít Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều<br /> Nữ có con nhỏ 0,0 0,0 50,0 0,0 50,0 0,0<br /> Nam có con nhỏ 0,0 10,0 20,0 50,0 10,0 10,0<br /> Nữ không có con nhỏ 4,2 12,7 23,9 38,0 16,9 4,2<br /> Nam không có con nhỏ 11,9 11,9 23,9 34,3 16,4 1,5<br /> <br /> <br /> Nếu tính từ mức NCKH trung bình trở lên thì NCKH nhiều và rất nhiều thì nữ có con nhỏ lại<br /> số giảng viên nữ có con nhỏ đạt tỷ lệ 50%, đạt 50%, còn nữ không có con nhỏ chỉ đạt<br /> nhưng số giảng viên nam có con nhỏ đạt tỷ lệ 25,1%. Như vậy, tình trạng giảng viên nữ có<br /> 70%. Tuy nhiên, nếu chỉ tính mức NCKH nhiều con nhỏ tuy có ảnh hưởng đến mức độ NCKH<br /> và rất nhiều thì giảng viên nữ có con nhỏ lại đạt nhưng không phải là điều kiện quyết định.<br /> tới 50%, còn giảng viên nam có con nhỏ chỉ đạt Không ít giảng viên nữ có con nhỏ đã khắc<br /> 20%. phục khó khăn của bản thân, sắp xếp công việc<br /> Đáng lưu ý là, so sánh giảng viên nữ có con nhỏ gia đình để hoạt động NCKH.<br /> với giảng viên nữ không có con nhỏ ở mức độ<br /> <br /> Bảng 9. Tương quan giữa mức độ NCKH với trình độ chuyên môn (%)<br /> <br /> Không Rất it Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều<br /> Đại học 0,0 100,0 0,0 0,0 0,0 0,0<br /> Đang học thạc sĩ 11,1 22,2 22,2 44,4 0,0 0,0<br /> Thạc sĩ 8,0 18,7 30,7 33,3 8,0 1,3<br /> Đang học tiến sĩ 9,5 4,8 9,5 38,1 33,3 4,8<br /> Tiến sĩ 4,9 0,0 17,1 43,9 26,8 7,3<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 50<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> Về tương quan giữa mức độ NCKH và trình độ Trong bảng trên còn chia ra các trường hợp:<br /> chuyên môn, xu hướng là trình độ càng cao thì đang học thạc sĩ và đang học tiến sĩ. Trong đó,<br /> NCKH càng nhiều. Nếu tính mức độ NCKH từ giảng viên đang học tiến sĩ có mức độ NCKH<br /> trung bình trở lên thì kết quả như sau: giảng từ trung bình trở lên đạt tỷ lệ cao nhất (78%); ở<br /> viên có trình độ Đại học là 0%; Thạc sĩ là mức độ NCKH nhiều, giảng viên đang học tiến<br /> 44,4%; Tiến sĩ là 76,2%. sĩ cũng đạt tỷ lệ cao nhất (33,3%).<br /> Bảng 10. Tương quan giữa mức độ NCKH với chức danh khoa học (%)<br /> <br /> Không Rất it Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều<br /> Giảng viên 8,7 13,4 26,8 36,2 12,6 2,4<br /> Giảng viên chính 0,0 7,1 0,0 50,0 35,7 7,1<br /> Phó Giáo sư 0,0 0,0 12,5 25,0 50,0 12,5<br /> <br /> <br /> Về tương quan giữa mức độ NCKH và chức 3.3.4 Khó khăn trong NCKH của giảng viên<br /> danh khoa học của giảng viên, xu hướng là Có thể thấy rằng, một trong những nguyên nhân<br /> chức danh khoa học càng cao thì NCKH càng cơ bản dẫn đến trình trạng giảng viên ít NCKH<br /> nhiều. Trong số giảng viên tham gia khảo sát có là do họ gặp nhiều khó khăn trong NCKH. Kết<br /> ba loại chức danh: Giảng viên, Giảng viên quả khảo sát về những khó khăn của giảng viên<br /> chính, Phó Giáo sư. Nếu tính mức độ NCKH từ trong NCKH theo thang Likert 5 mức độ được<br /> trung bình trở lên thì Giảng viên chính đạt tỷ lệ thể hiện trong bảng dưới đây.<br /> cao nhất (92,8%). Nhưng tính riêng hai mức<br /> NCKH nhiều và rất nhiều thì Phó Giáo sư đạt tỷ<br /> lệ cao nhất (62,5%).<br /> <br /> Bảng 11. Ý kiến của giảng viên về khó khăn trong NCKH (N=150)<br /> <br /> TT Tiêu chí Trung bình<br /> 1. Nguồn kinh phí không đủ để thực hiện đề tài NCKH 3,85<br /> 2. Thủ tục đăng ký đề tài quá phức tạp 3,78<br /> 3. Thủ tục thanh toán kinh phí NCKH có nhiều khó khăn, rắc rối 3,78<br /> 4. Bận quá nhiều cho công việc giảng dạy 3,69<br /> 5. Việc phối hợp NCKH trong & ngoài đơn vị còn hạn chế 3,63<br /> 6. Việc đăng bài trên tạp chí khoa học có nhiều khó khăn 3,63<br /> 7. Việc tính giờ cho hoạt động NCKH quá thấp so với giảng dạy 3,60<br /> 8. Phương tiện, thiết bị thí nghiệm phục vụ NCKH còn hạn chế 3,57<br /> 9. Bận quá nhiều cho công tác quản lý 3,47<br /> 10. Thời gian để thực hiện một đề tài NCKH quá ngắn 3,47<br /> 11. Việc xét duyệt đề tài NCKH thiếu khách quan, công bằng 3,41<br /> 12. Việc tiếp cận nguồn thông tin, tư liệu còn hạn chế 3,36<br /> 13. Quá bận rộn vì công việc gia đình 3,31<br /> <br /> <br /> 51<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> TT Tiêu chí Trung bình<br /> 14. Khả năng ngoại ngữ còn hạn chế 3,03<br /> 15. Do sức khoẻ không bảo đảm 2,97<br /> 16. Xét về mặt chuyên môn, NCKH là công việc quá khó khăn 2,84<br /> <br /> <br /> Nếu chia các khó khăn thành hai nhóm: (1) Khó khai các thí nghiệm chuyên sâu hoặc địa bàn<br /> khăn khách quan; (2) Khó khăn chủ quan, thì nghiên cứu ở xa, phải đi lại tốn kém.<br /> các khó khăn khách quan thường được giảng Một khó khăn cản trở không nhỏ đối với giảng<br /> viên đồng ý nhiều hơn. Ba khó khăn được đồng viên trong NCKH là thủ tục đăng ký đề tài và<br /> ý ở mức cao nhất là: Nguồn kinh phí không đủ thủ tục thanh toán kinh phí NCKH còn quá<br /> để thực hiện đề tài NCKH; Thủ tục đăng ký đề rườm rà, rắc rối. Đây thực sự làm cho không ít<br /> tài quá phức tạp; Thủ tục thanh toán kinh phí giảng viên e ngại, không muốn đăng ký đề tài<br /> NCKH có nhiều khó khăn, rắc rối. NCKH. Mặc dù, Thông tư số 55/2015/TTLT-<br /> Hiện nay, kinh phí NCKH được coi là “điểm BTC-BKHCN của Liên Bộ Tài chính và Bộ<br /> nghẽn” trong hoạt động KH&CN của các KH&CN hướng dẫn định mức xây dựng, phân<br /> trường đại học. Theo báo cáo của PGS. Vũ Văn bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm<br /> Tích – Trưởng nhóm nghiên cứu Đại học Quốc vụ KH&CN có sử dụng ngân sách Nhà nước<br /> gia Hà Nội tại Hội nghị “Phát triển KH&CN theo cơ chế khoán đã cải thiện đáng kể các thủ<br /> trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017 tục tài chính trong thực hiện nhiệm vụ<br /> – 2025” diễn ra ngày 29/7/2017 thì thực trạng KH&CN. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng<br /> tài chính cho hoạt động KHCN của các trường vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc.<br /> đại học hiện nay thực sự rất khiêm tốn. Đầu tư Các khó khăn chủ quan trong NCKH được<br /> tài chính cho hoạt động KHCN trong cả nước giảng viên đồng ý là: Bận quá nhiều cho công<br /> bình quân cả giai đoạn 2011 - 2015 vào khoảng việc giảng dạy; Bận quá nhiều cho công tác<br /> 1,7% ngân sách Nhà nước, tương đương 0,4% quản lý; Quá bận rộn công việc gia đình. Trong<br /> GDP, thấp so với các nước trong khu vực như đó, tình trạng bận quá nhiều cho giảng dạy là<br /> Thái Lan, Malaysia, Singapore. Đáng lưu ý là, khó khăn phổ biến của giảng viên đại học Việt<br /> kinh phí ngân sách KHCN đầu tư cho hoạt động Nam, khi mà vấn đề “cơm, áo, gạo, tiền” vẫn<br /> KHCN của ngành Giáo dục là thấp. Tuy nhiên, còn đè nặng trong tâm trí và khi giảng viên vẫn<br /> đại diện nhóm nghiên cứu cho rằng, kinh phí quan niệm rằng, NCKH không tạo ra nguồn thu<br /> đầu tư trực tiếp cho hoạt động KHCN của các nhập thì họ khó có thể tập trung NCKH được.<br /> trường đại học là ít, nhưng số lượng sản phẩm<br /> Một khó khăn tuy được xếp ở vị trí cuối cùng<br /> khoa học lại nhiều hơn so với các viện nghiên<br /> theo mức độ đồng ý của giảng viên, nhưng lại<br /> cứu trong cả nước (Nghiêm Huê, 2017).<br /> cần được quan tâm là: Xét về mặt chuyên môn,<br /> Đối với Trường ĐHCT, mức đầu tư cho đề tài NCKH là công việc quá khó khăn. Theo Võ<br /> NCKH cấp Trường tối đa là 30 triệu đồng/đề Văn Nhị (2013), NCKH là công việc khó, đòi<br /> tài. Tuy nhiên, các tiểu ban chuyên môn thường hỏi khả năng tư duy và sáng tạo nên phải có quá<br /> giảm bớt mức kinh phí xuống còn 20 - 25 triệu trình rèn luyện và nâng cấp dần để đạt được<br /> đồng/đề tài để có thể tăng số lượng đề tài những kết quả từ cấp độ thấp đến cao. Vì vậy,<br /> NCKH. Vì vậy, giảng viên cho rằng mức kinh nhiều giảng viên, nhất là giảng viên trẻ cho<br /> phí này là không đủ để thực hiện đề tài nghiên rằng NCKH là công việc quá khó khăn.<br /> cứu có chất lượng, nhất là các đề tài phải triển<br /> <br /> <br /> 52<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> Ngoài ra, còn có nhiều khó khăn khác dẫn đến Cũng do cơ chế quản lý NCKH nặng về quản lý<br /> tình trạng giảng viên chưa chú trọng công tác tài chính, nhẹ về quản lý chuyên môn nên các<br /> NCKH như: Việc phối hợp NCKH trong & đề tài nghiên cứu sau khi nghiệm thu là kết<br /> ngoài đơn vị còn hạn chế; Việc đăng bài trên thúc, sản phẩm nghiên cứu được cất vào kho.<br /> tạp chí khoa học có nhiều khó khăn; Việc tính Có những đề tài có tính ứng dụng cao nhưng lại<br /> giờ cho hoạt động NCKH quá thấp so với giảng không có kinh phí để triển khai ứng dụng.<br /> dạy; Phương tiện, thiết bị thí nghiệm phục vụ Vì vậy, cần đổi mới mạnh mẽ các cơ chế chính<br /> NCKH còn hạn chế; Thời gian thực hiện một đề sách về NCKH từ cơ chế hành chính sang cơ<br /> tài NCKH quá ngắn; Việc xét duyệt đề tài chế thị trường, đẩy mạnh việc thương mại hóa<br /> NCKH chưa khách quan và công bằng, v.v… sản phẩm KH&CN, gắn nghiên cứu với ứng<br /> 3.4 Một số giải pháp đẩy mạnh NCKH của dụng thực tiễn. Khi đó, kết quả nghiên cứu sẽ<br /> giảng viên trở thành nguồn lực cho sự phát triển, tạo ra<br /> 3.4.1 Nâng cao nhận thức của giảng viên về những giá trị xã hội và khơi nguồn cho các ý<br /> NCKH tưởng mới. Như vậy, hoạt động NCKH không<br /> chỉ đủ “nuôi” NCKH, mà còn tạo ra giá trị gia<br /> Trong xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức<br /> tăng cho xã hội, tạo ra lợi nhuận cho người<br /> hiện nay, KH&CN trở thành lực lượng sản xuất<br /> nghiên cứu.<br /> trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh<br /> tranh của từng quốc gia, từng doanh nghiệp thì 3.4.3 Gắn kết giữa NCKH với đào tạo và<br /> việc đổi mới giáo dục đại học kết hợp chặt chẽ chuyển giao công nghệ<br /> với NCKH là một đòi hỏi tất yếu mà đội ngũ Hiện nay, các trường đại học Việt Nam về cơ<br /> giảng viên phải là lực lượng nòng cốt. bản vẫn mang tính chất là những cơ sở đào tạo<br /> Vì vậy, để đẩy mạnh NCKH thì cần phải nâng đơn thuần, không có hoặc ít có hoạt động<br /> cao nhận thức của giảng viên về tầm quan trọng NCKH. Ngay tên gọi cũng nói lên điều đó:<br /> của NCKH và trách nhiệm của giảng viên trong “trường đại học” (nơi dạy học), “giảng viên đại<br /> NCKH. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng hô hào, học” (người dạy học). Tất nhiến, vấn đề không<br /> nặng tính hình thức mà cần đi vào thực chất. phải chỉ ở tên gọi, nhưng qua tên gọi người ta<br /> Theo chúng tôi, nhà trường cần xây dựng bộ vẫn cảm nhận được bản chất của nó. Như vậy,<br /> tiêu chí đánh giá giảng v nên chăng đổi tên trường đại học định hướng<br /> nghiên cứu thành “học viện” hay “viện đại học”<br /> iên dựa trên kết quả hoạt động đào tạo và<br /> để thay đổi định kiến trong xã hội.<br /> NCKH làm căn cứ để phân loại giảng viên hàng<br /> năm, để xét nâng lương, khen thưởng và đề bạt, Ngoài tên gọi thì vấn đề tiếp theo là cơ chế hoạt<br /> bổ nhiệm. động và tổ chức bộ máy như thế nào để gắn kết<br /> chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH và chuyển<br /> 3.4.2 Đổi mới cơ chế chính sách về NCKH<br /> giao công nghệ. Đặc biệt, các trường đại học<br /> Nhìn chung, cơ chế chính sách về KH&CN cần chú trọng NCKH phục vụ đào tạo, góp<br /> hiện hành còn nặng về quản lý hành chính, kém phần nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó,<br /> hiệu quả. Trên thực tế, quản lý đề tài NCKH việc khuyến khích sinh viên, học viên cao học<br /> còn nặng về quản lý tài chính, mà coi nhẹ quản và nghiên cứu sinh tham gia NCKH cũng cần<br /> lý chất lượng nghiên cứu. Mặt khác, giảng viên được chú trọng. Bởi vì, đây chính là lực lượng<br /> còn rất ngán ngại trước các thủ tục trong kế thừa và phát triển hoạt động NCKH của nhà<br /> NCKH nhất là việc thanh toán kinh phí đề tài trường, gắn nhà trường với xã hội trong hiện tại<br /> NCKH quá phức tạp, chưa đúng chủ trương và tương lai.<br /> thực hiện cơ chế khoán trong NCKH.<br /> <br /> <br /> 53<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> 3.4.4 Tạo động lực cho giảng viên NCKH Theo Trần Mai Ước (2013), từ trước đến nay,<br /> Động lực nghiên cứu có vai trò thúc đẩy giảng chưa có một chế tài nào đối với những người<br /> viên tích cực thực hiện nhiệm vụ NCKH. Để không nghiên cứu. Nhiều giảng viên tại các<br /> tạo động lực cho giảng viên NCKH cần nhiều trường hiện nay không có công trình nghiên<br /> biện pháp khác nhau, trong đó có các biện pháp cứu nào trong thời gian dài nhưng vẫn được<br /> cơ bản như sau: giảng dạy vẫn còn là tình trạng phổ biến.<br /> <br /> - Tăng cường kinh phí và đa dạng hóa nguồn Như vậy, bên cạnh các biện pháp khuyến khích<br /> kinh phí NCKH: Hiện nay, mức cấp kinh giảng viên tích cực NCKH, cần có các biện<br /> phí cho đề tài NCKH quá thấp, không đủ để pháp chế tài đối với giảng viên không thực hiện<br /> thực hiện đề tài nên rất khó đề ra yêu cầu nhiệm vụ NCKH như: đưa hoạt động NCKH<br /> cao về chất lượng nghiên cứu. Vì vậy, cần vào chỉ tiêu thi đua, xét khen thưởng cuối năm,<br /> tăng cường kinh phí cho các đề tài NCKH xét nâng bậc lương hoặc hạn chế phân công<br /> để nâng cao chất nghiên cứu. Tuy nhiên, giảng dạy đối với những giảng viên không hoàn<br /> NCKH không thể chỉ dựa vào ngân sách thành nhiệm vụ NCKH.<br /> Nhà nước mà cần đa dạng hóa nguồn kinh 3.4.6 Xây dựng và phát triển môi trường khoa<br /> phí NCKH, thúc đẩy sự đặt hàng từ doanh học<br /> nghiệp, tăng cường thực hiện các đề tài Môi trường khoa học (hoặc môi trường học<br /> NCKH địa phương. thuật) bao gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp<br /> - Xây dựng định mức hợp lý hơn cho các hoạt và gián tiếp đến người nghiên cứu. Nhìn chung,<br /> động NCKH: Hiện nay, tình trạng giảng người ta chia môi trường khoa học thành phần<br /> viên không mặn mà với NCKH cũng một cứng và phần mềm. Phần cứng của môi trường<br /> phần do quy định về tính giờ cho hoạt động khoa học là hệ thống phòng thí nghiệm và các<br /> NCKH chưa thỏa đáng. Vì vậy, cần xây trang thiết bị phục vụ NCKH. Phần mềm là<br /> dựng các định mức NCKH sao cho người không khí học thuật, là cơ chế tổ chức quản lý<br /> nghiên cứu tạo ra sản phẩm nghiên cứu có NCKH.<br /> chất lượng thì phải có mức thu nhập cao hơn<br /> Đối với phần cứng, việc chú trọng đầu tư các<br /> người giảng dạy để thúc đẩy giảng viên<br /> phòng thí nghiệm chuyên sâu, hiện đại là rất<br /> NCKH.<br /> cần thiết để phục vụ tốt cho công tác NCKH.<br /> - Khen thưởng và vinh danh các giảng viên có<br /> Tuy nhiên, do nguồn kinh phí có hạn nên cần<br /> thành tích xuất sắc trong NCKH: cần gắn<br /> xây dựng chiến lược đầu tư có trọng điểm; đồng<br /> kết quả NCKH với công tác thi đua, khen<br /> thời cần xây dựng mô hình khai thác chung các<br /> thưởng hàng năm; ưu tiên cử đi đào tạo, bổ<br /> phòng thí nghiệm, các trang thiết bị NCKH<br /> nhiệm đối với những người có thành tích<br /> giữa các đơn vị trong từng trường, giữa các<br /> NCKH. Đồng thời, cần nghiên cứu xây<br /> trường và các viện nghiên cứu trong và ngoài<br /> dựng định mức thưởng theo tỷ lệ % số tiền<br /> nước để nâng cao hiệu quả sử dụng.<br /> làm lợi của đề tài NCKH khi ứng dụng,<br /> chuyển giao kết quả nghiên cứu. Đối với phần mềm, cần tăng cường tổ chức các<br /> hình thức sinh hoạt học thuật, hình thành các<br /> 3.4.5 Có biện pháp chế tài đối với giảng viên<br /> câu lạc bộ khoa học, các nhóm nghiên cứu, tổ<br /> không hoàn thành nhiệm vụ NCKH<br /> chức các hội nghị hội thảo khoa học, xây dựng<br /> Hiện nay, nhiều giảng viên vẫn quan niệm cơ chế hợp tác nghiên cứu, trao đổi chuyên môn<br /> “không NCKH cũng chẳng sao”. Bởi vì chưa có giữa các trường trong nước và quốc tế. Ngoài<br /> các hình thức xử lý đối với những cá nhân và ra, trường đại học cần có cơ chế và ngân sách<br /> tập thể không hoàn thành nhiệm vụ NCKH.<br /> <br /> <br /> 54<br /> An Giang University Journal of Science – 2018, Vol. 21 (3), 42 – 56<br /> <br /> để mời các nhà khoa học giỏi ngoài trường Với các biện pháp như trên, hy vọng rằng, trong<br /> tham gia xây dựng nhóm nghiên cứu, thỉnh thời gian tới hoạt động NCKH của nhà trường<br /> giảng hoặc báo cáo chuyên đề, v.v... sẽ có nhiều chuyển biến tích cực, tạo ra sự song<br /> 4. KẾT LUẬN hành giữa NCKH với hoạt động đào tạo để thực<br /> hiện tốt các chức năng của trường đại học trong<br /> Trong thời đại ngày ngay, KH&CN đã trở thành<br /> xu thế phát triển nền kinh tế tri thức, công nghệ<br /> lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực thúc<br /> 4.0 và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên<br /> đẩy xã hội phát triển thì NCKH có vai trò đặc<br /> toàn cầu hiện nay.<br /> biệt quan trọng. Trong điều kiện đó, các trường<br /> đại học cần chú trọng hoạt động NCKH nhằm TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> trở thành trung tâm sáng tạo tri thức và công Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2014). Thông tư<br /> nghệ để thúc đẩy xã hội phát triển. Để đáp ứng 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 quy<br /> yêu cầu đó, đội ngũ giảng viên đại học phải là định chế độ làm việc đối với giảng viên.<br /> lực lượng nòng cốt trong hoạt động NCKH, góp Truy cập 18/11/2017 tại địa chỉ:<br /> phần nâng cao uy tín và thương hiệu của nhà http://vanban.chinhphu.vn<br /> trường. Chính phủ. (2015). Nghị định số 73/2015/NĐ-<br /> Bài nghiên cứu này dựa trên kết quả phân tích CP ngày 08/9/2015 của Chính phủ quy định<br /> nguồn dữ liệu thu thập bằng bảng hỏi đối với về tiêu chuẩn phân tầng; khung xếp hạng và<br /> 150 giảng viên nhằm làm rõ thực trạng NCKH tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học.<br /> của giảng viên tại Trường ĐHCT – trường đại Truy cập 18/11/2017 tại địa chỉ:<br /> học trọng điểm quốc gia ở vùng ĐBSCL. Kết http://www.chinhphu.vn<br /> quả khảo sát cho thấy, công tác NCKH của Ding, W.W., Muray, F., & Stuarrt, T.E. (2006).<br /> giảng viên còn nhiều vấn đề cần được quan tâm Gender differences in patenting in the<br /> giải quyết như tình trạng không đồng đều trong academic life sciences. Science, 313 (5787),<br /> NCKH của giảng viên, tình trạng giảng viên 665 - 667.<br /> giảng dạy quá nhiều mà chưa chú trọng NCKH<br /> Đại học Cần Thơ. (2015). Quy định chế độ làm<br /> (NCKH chỉ chiếm 10% - 15% khối lượng công<br /> việc đối với giảng viên Trường ĐHCT. Ban<br /> tác chuyên môn của giảng viên). Kết quả<br /> hành theo Quyết định 4412/QĐ-ĐHCT ngày<br /> nghiên cứu cũng phân tích động cơ NCKH của<br /> 25/11/2015 của Hiệu trưởng Trường ĐHCT.<br /> giảng viên và những khó khăn của giảng viên<br /> trong NCKH. Đại học Cần Thơ. (2016). Báo cáo thường niên<br /> năm 2016. Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ,<br /> Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị nhà trường cần<br /> 22 - 24.<br /> thực hiện các giải pháp thúc đẩy giảng viên<br /> NCKH như: (1) Nâng cao nhận thức của giảng Đặng Hùng Thắng. (2015). Bốn giải pháp thúc<br /> viên về NCKH; (2) Đổi mới cơ chế chính sách đẩy nghiên cứu khoa học. Truy cập<br /> về NCKH theo hướng chuyển sang cơ chế thị 20/10/2017 tại địa chỉ:<br /> trường, đẩy mạnh việc thương mại hóa sản https://www.vnu.edu.vn.<br /> phẩm nghiên cứu; (3) Gắn kết giữa NCKH với Lệ Thu. (2017). Giáo dục đại học: Sẽ phải<br /> đào tạo và chuyển giao công nghệ; (4) Tạo chuyển hướng sang đẩy mạnh nghiên cứu<br /> động lực
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2