ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ HIỀN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở LỢN NUÔI TẠI CÔNG TY
TNHH PHÁT ĐẠT, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K46 – TY – N02
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 – 2019
Thái Nguyên - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ HIỀN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở LỢN NUÔI TẠI CÔNG TY
TNHH PHÁT ĐẠT, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K46 – TY – N02
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 – 2019
Giảng viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thu Quyên
Thái Nguyên - 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp Đại học là một học phần cần thiết và rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, nhằm rèn luyện về kĩ năng, tay nghề, áp dụng được những kiến thức lý thuyết đã học vào trau dồi thêm kinh nghiệm cho công việc sau này.
Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình. Để có được kết quả này ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự động viên hướng dẫn chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Thông qua khóa luận này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô giáo TS. Nguyễn Thu Quyên đã luôn động viên giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty Phát Đạt và các anh, chị cán bộ kỹ thuật, các cán bộ công nhân viên của trại lợn đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, hướng dẫn kỹ thuật cho em trong thời gian thực tập.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình
và bạn bè trong suốt khóa học.
Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy cô giáo lời
chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Hiền
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả sản xuất của trại .................................................................... 7
Bảng 3.1. Lịch sát trùng chuồng trại của trại ................................................... 33
Bảng 3.2. Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại .................. 33
Bảng 4.1. Số lượng lợn nái chửa, nái nuôi con, lợn con và lợn thịt
trực tiếp chăm sóc trong 6 tháng thực tập ........................................................ 39
Bảng 4.2: Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn ............... 40
Bảng 4.3. Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại ..................................... 42
Bảng 4.4. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin ................ 44
Bảng 4.5. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái.............................. 45
Bảng 4.6. Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn ............................................... 46
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn .................................................... 47
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con ................................. 49
iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
: Cộng sự Cs.
: Kilogam Kg
: gam G
: Mililit Ml
: Nhà xuất bản Nxb
: Số thứ tự STT
: Thể trọng TT
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
: Sơ sinh SS
: Cai Sữa CS
: Xuất chuồng XC
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ............................................ iii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iv
Phần 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ....................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu ............................................................................................ 2
1.2.2. Yêu cầu ............................................................................................. 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ........................................................................ 3
2.1.1. Vị trí địa lý ........................................................................................ 3
2.1.2. Điều kiện khí hậu .............................................................................. 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại ..................................................................... 4
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại....................................................................... 4
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại ......................................................... 6
2.1.6. Đối tượng và các kết quả sản xuất của trang trại .............................. 6
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề .................................................. 8
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi ............................. 8
2.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ........................................... 12
2.2.3. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và
lợn nái nuôi con ......................................................................................... 16
2.2.4. Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời
gian thực tập .............................................................................................. 19
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước .................................. 27
2.3.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước ........................................... 27
v
2.3.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước ........................................... 29
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1. Đối tượng theo dõi ............................................................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ........................................................... 30
3.3. Nội dung tiến hành ............................................................................... 30
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành .................................. 30
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ....................................................................... 30
3.4.2. Phương pháp thực hiện ................................................................... 30
3.4.3. Quy trình xuất bán lợn .................................................................... 38
3.4.4. Một số các chỉ tiêu theo dõi công thức tính .................................... 38
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ........................................ 39
4.1 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại .... 39
4.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại .................................. 42
4.2.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ............... 42
4.2.2. Kết quả tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho lợn con ................ 44
4.3. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái .................................. 45
4.4. Công tác chẩn đoán bệnh cho đàn lợn ................................................. 46
4.5. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn ........................................................ 47
4.6. Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại ........ 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................. 50
5.1. Kết luận ................................................................................................ 50
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 52
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Công tác vệ sinh là cơ sở, nền tảng của biện pháp phòng bệnh trong chăn
nuôi. Khi môi trường sống bất lợi cho gia súc như chăm sóc nuôi dưỡng
không tốt, dinh dưỡng kém, chuồng trại thiết kế không đúng quy chuẩn, vấn
đề vệ sinh chuồng trại không được chú trọng,… sẽ trở thành nguyên nhân làm
cho vật nuôi giảm sức đề kháng (miễn dịch) và dễ bị các tác nhân vi khuẩn,
virus và ký sinh trùng xâm nhập có thể tạo thành dịch bệnh. Để phòng bệnh
cho vật nuôi, ngoài biện pháp tạo môi trường sống tốt, giảm các yếu tố gây
bất lợi cho vật nuôi, nâng cao được sức chống chịu và sự miễn dịch của vật
nuôi thì nhà chăn nuôi cũng cần phải giảm thiểu sự tiếp xúc các tác nhân gây
bệnh đối với vật nuôi, từ đó sẽ hạn chế được khả năng lan truyền của dịch
bệnh. Việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt và vệ sinh phòng bệnh là những yếu tố
quan trọng hàng đầu giúp người chăn nuôi có thể giảm bớt thiệt hại kinh tế do
dịch bệnh gây ra.
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam đã và đang cập nhật nhiều
quy trình, kỹ thuật mới trong chăn nuôi lợn, với mong muốn đem lại hiệu quả
kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi cũng như giúp cho khâu quản lý dịch
bệnh được thuận lợi hơn.
Là một sinh viên ngành Thú y, với mong muốn được rèn luyện thành
thạo các kỹ năng nghề trong chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho
lợn. Cập nhật những công nghệ mới trong quy trình, kỹ thuật nuôi lợn quy mô
công nghiệp, tạo tiền đề tốt cho sinh viên sau khi ra trường có thể làm việc
ngay, đáp ứng với nhu cầu của nhà tuyển dụng. Được sự phân công của Khoa
và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp
dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị một số bệnh thường
gặp cho lợn nuôi tại công ty TNHH Phát Đạt, Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
2
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu
- Rèn luyện thành thạo các kỹ năng trong quy trình chăm sóc, nuôi
dưỡng lợn.
- Rèn luyện và nâng cao kỹ năng chẩn đoán lâm sàng trên lợn bị bệnh.
- Tập kê đơn và điều trị bệnh cho đàn lợn mắc bệnh.
- Tìm hiểu cách quản lý, tổ chức của một trang trại chăn nuôi
1.2.2. Yêu cầu
- Nắm vững các nguyên tắc phòng trị bệnh cho vật nuôi nói chung.
- Thành thạo các kỹ năng nuôi dưỡng, chăm sóc chẩn đoán lâm sàng và
mổ khám bệnh tích trên lợn
- Đưa ra được phác đồ điều trị đối với một số bệnh thường gặp ở lợn.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt thuộc thôn Cao Quang, xã Cao Minh,
thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Thị xã Phúc Yên có địa hình đa dạng, có cả nông thôn và đô thị, có vùng
đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng. Trang trại nằm trên vùng bán sơn địa
thuộc xã Cao Minh.
+ Phía Đông giáp phường Xuân Hòa
+ Phía Tây giáp xã Nam Viêm.
+ Phía Nam giáp xã Bá Hiến.
+ Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh.
Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã,
huyện thành bên cạnh.
2.1.2. Điều kiện khí hậu
Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân
cũng như trong chăn nuôi. Nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông
nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu
hướng tăng mạnh.
Xã Cao Minh cũng như thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 230C, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa
nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông.
Nhiệt độ không khí có nét đặc trưng sau: cực đại trung bình năm 20,50C,
cực đại tuyệt đối là 41,60C, cực tiểu tuyệt đối là 3,10C.
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt
đối là 16%.
4
Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông -
Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4m/s. Khí hậu tương đối thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp đa dạng.
Nhìn chung điều kiện khí hậu của xã khá là thuận lợi cho nông
nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên, có những tháng
bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh
vật phát triển và gây bệnh. Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn
gia súc khá là quan trọng.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
+ 01 giám đốc công ty.
+ 01 trưởng trại.
+ 01 kĩ sư
+ 05 công nhân.
+ 06 sinh viên thực tập
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt là trại tư nhân bắt đầu hoạt động chăn
nuôi từ năm 2009 với quy mô là 120 nái sau đến năm 2013 công ty có mở
thêm quy mô lên 600 nái và 2000 lợn thịt trên diện tích là 3 ha.
Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ để phục vụ cho chăn nuôi như: hệ
thống nước, hệ thống điện, kho cám, kho thuốc, phòng pha tinh…
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống dàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ,
chuồng bầu, chuồng thịt, 2 quạt thông gió đối với chuồng cách ly và 2 quạt
thông gió đối với chuồng lợn đực và 2 quạt trần đối với chuồng lợn loại. Hai
bên tường có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền
1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 80cm. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng
bằng tôn lạnh.
5
- Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng. Đối
với chuồng bầu, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục
vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái bầu.
- Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước
uống cho lợn được cấp từ hai bể lớn, một bể xây dựng ở đầu chuồng thịt 1 và
một bể ở đầu chuồng đẻ 1. Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác
khác, được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa
ở giữa các chuồng.
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính
hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy
và một số thiết bị khác
- Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas
trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau
quạt hút gió, có hố xử lý lợn xa khu vực chăn nuôi.
- Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ
thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống
chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi.
- Trại có một nhà khách, một phòng họp, ba dãy nhà ở công nhân viên,
ba khu vệ sinh và nhà tắm cho công nhân viên cũng như khách thăm trại và
một nhà bếp ăn.
- Tổng trại có 10 chuồng nuôi, trong đó có: hai chuồng đẻ với 92 ô đẻ,
hai chuồng bầu với 246 ô bầu, một chuồng đực với 9 ô đực, một chuồng hậu
bị có ba ô quy mô là 50 con/ lứa, một chuồng cai sữa có 26 ô quy mô là 650
con/lứa và ba chuồng thịt có 16 ô quy mô là 2000 lợn thịt/lứa.
Hiện nay công ty có 24% là giống bố mẹ nhập từ công ty Greenfeed Việt
Nam, có 7% là giống ông bà nhập từ xí nghiệp Đồng Hiệp Hải Phòng để sản
xuất và gây nái. Còn lại 69% là giống bố mẹ nhập từ công ty CP Việt Nam.
Trại có 2 đực ông, 5 đực bố để phối giống và 2 đực làm đực thí tình.
6
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại
2.1.5.1. Thuận lợi
Qua thời gian thực tập tại tại trang trại lợn của công ty Phát Đạt đề tài có
một số nhận định như sau:
Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện
đường giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình
và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Trang trại công ty xây dựng theo hình thức công nghiệp, quy trình chăm
sóc nuôi dưỡng theo hình thức khép kín. Nguồn nước được xử lý sạch sẽ đáp
ứng đủ cho trang trại.
Trang trại nhập các giống lợn ông bà, bố mẹ từ công ty có uy tín như CP,
Greenfeed, Xí nghiệp Đồng Hiệp Hải Phòng nên việc phòng và trị bệnh cho
lợn nái dễ dàng hơn.
2.1.5.2. Khó khăn
Vốn đầu tư ban đầu bỏ ra xây dựng cơ sở vật chất khá lớn.
Do yêu cầu nghiêm ngặt của việc phòng bệnh cho đàn lợn vì vậy việc đi
lại ra vào khu chăn nuôi hạn chế nhiều vấn đề, nên công nhân thường xuyên
xin thôi việc dẫn đến thay đổi công nhân liên tục làm ảnh hưởng đến việc
chăm sóc đàn lợn.
Giá cả thịt trong ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
trong thời gian vừa qua có những biến động lớn, gây ảnh hưởng tới đầu ra của
lợn thịt, làm cho ngành chăn nuôi lợn gặp khó khăn.
2.1.6. Đối tượng và các kết quả sản xuất của trang trại
2.1.6.1. Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace -
Yorkshire và Duroc, lợn con sau khi cai sữa sẽ được chuyển sang chuồng lợn
7
thịt nuôi đến giai đoạn xuất chuồng. Toàn bộ số lợn thịt sẽ được công ty
TNHH Phát Đạt chuyển đến lò mổ của công ty để giết thịt, đóng gói sản phẩm
và xuất bán vào các siêu thị.
2.1.6.2. Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của công ty TNHH Phát Đạt là một trong những
trang trại có quy mô công nghiệp khép kín, với số vốn đầu tư lớn, áp dụng
khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao. Dưới
đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Bảng 2.1. Kết quả sản xuất của trại
Số lợn qua các năm
Chỉ tiêu
2016
2017
2018
Nái hậu bị (con)
14
12
36
Nái sinh sản (con)
480
302
195
Lợn đưc giống
11
9
9
Lợn con theo mẹ
5284
3599
1325
Lợn thịt
1832
1435
952
89,64
Tỷ lệ đậu thai (%)
86,63
87,58
2,34
2,33
2,32
Số lứa đẻ/nái/năm (con)
8,37
6,9
6,94
Lợn con chết và loại sau sinh (%)
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con)
23,01
23,42
25,04
Tổng số lợn con xuất (con)
25.844
16.479
11.328
(Nguồn: Cán bộ kỹ thuật trại)
Qua bảng trên ta có thể thấy, từ năm 2016 - 2018 kết quả sản xuất của
trại có xu hướng giảm dần: Số lợn nái sinh sản từ năm 2016 là 480 nái, tới
năm 2018 giảm xuống còn 195. Số lợn con xuất từ năm 2016 là 25.844, tới
năm 2018 giảm xuống còn 11.328 con.
8
Sở dĩ tình hình sản xuất của trại có xu hướng giảm là do số lượng lợn nái
loại tăng lên. Mặt khác, năm 2017 ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam rơi vào
khủng hoảng giá, giá lợn giảm xuống thấp và kéo dài, nhiều trang trại nuôi
lợn rơi vào tình trạng phá sản, một số trang trại phải giảm số đầu nái để duy
trì sản xuất, chính vì lý do đó mà số lượng lợn nái của trại cũng bị giảm mạnh.
Ngoài mô hình Chăn nuôi lợn khép kín, Công ty còn đầu tư thêm dây
truyền giết mổ đạt tiêu chuẩn, phục vụ cho nhu cầu của trại và một số tỉnh lân
cận. Số lợn thịt được nuôi tại trang trại, trước giai đoạn xuất chuồng 1 tháng,
trang trại chuyển sang chế độ nuôi với nguồn dinh dưỡng khác, cho lợn ăn
thức ăn tự trộn, chủ yếu là ngô, cám gạo, khô đỗ tương ... để cho thịt lợn ngon
hơn. Số lợn này sẽ được công ty chuyển về lò mổ và giết thịt, bao gói và đưa
vào hệ thống siêu thị lớn ở một số tỉnh.
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1. Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh
được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn
được bệnh xảy ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng
đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ. Do vậy, việc
phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2004) [17] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn
thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không
truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn. Phần
lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân
gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.
9
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [18], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ. Khi môi trường
quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi
khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm
E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn
trong phòng bệnh. Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là
điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ
mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại. Ô chuồng lợn nái phải
được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ. Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo
27 – 300C đối với lợn sơ sinh và 28 – 300C đối với lợn cai sữa. Chuồng phải
luôn khô ráo, không thấm ướt. Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp
vào mùa đông và đầu xuân. Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng
ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân
trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16] từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như
Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn
nái trước khi đẻ.
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng
mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.
Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó khử trùng chuồng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15
ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản. Với những
chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng
10
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các
dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa. Các chất thải rắn
trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa
chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường. Cần phun
sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30
ngày. Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa
vào kho bảo quản. Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi.
- Phòng bệnh bằng vắc xin :
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu
quả nhất.
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [9] vắc xin là một chế phẩm sinh
học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm
nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền
như ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân
vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ
mới – vắc xin công nghệ gen). Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh
cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp
ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây
bệnh của mầm bệnh tương ứng.
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.
2.2.1.2. Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9] nguyên tắc để điều trị bệnh là :
+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng
thuốc điều trị.
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn
chế lây lan.
11
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ
thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị
tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể
chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu quá trình chữa bệnh kéo
dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì
không nên chữa.
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9] các biện pháp chữa bệnh truyền
nhiễm là :
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ
sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh). Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,
phân, nước tiểu. Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối
phó. Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy
thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa bệnh
bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có
tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng ( huyết thanh kháng
độc tố).
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,
một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm
bệnh. Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi
khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và
tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau. Khi cần, có thể phối
hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn.
12
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng
ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên sử dụng
kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm
giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây
nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng
sinh. Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :
- Phải chẩn đoán đúng bệnh đúng thuốc, sai thuốc sẽ chữa không khỏi
bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn.
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác
định. Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để
phát huy tác dụng của kháng sinh.
- Phải phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính
của từng loại, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,
bổ sung thêm vitamin, truyền nước sinh lý… cho gia súc.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.2.1. Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã
phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Con
cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối.
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại ...
+ Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:
những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống
thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những
giống có tầm vóc lớn.
13
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [5] cho rằng: Tuổi động dục đầu
tiên ở lợn nội (ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 -
25kg. Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở
lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55kg. Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc
động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg. Tuỳ theo giống, điều
kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác
nhau. Lợn ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 -
158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần
đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi.
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [12],chỉ rõ: Chế độ dinh
dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái. Thường
những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm
hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi
trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày
(6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự
thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối
lượng cơ thể là 48,4 kg. Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là
do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh
dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung
quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của
chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và
progesterone trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt
mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục.
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs, (1992) [8] mùa vụ
và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục. Mùa hè lợn
nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh
hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong
14
các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục
sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày
(mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các
mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với
những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,
nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn
lên. Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi. Theo Phạm Hữu Doanh và
cs, (2003) [5] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì
ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh
dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh. Để đạt được hiệu quả
sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần
đầu rồi mới cho phối giống.
* Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, (2003) [11] tuổi thành thục về thể vóc là
tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính. Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu
tiên. Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong
giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,
nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương
chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ. Điều này ảnh hưởng đến năng
suất sinh sản của lợn nái sau này. Do đó không nên cho phối giống quá sớm.
Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên
cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -
110kg mới nên cho phối.
15
2.2.2.2. Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện
tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao,
noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng. Song song với quá trình thải
trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt
các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý. Tất cả các biến đổi đó
được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính.
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1993) [22], chu kỳ tính của lợn nái thường
diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày. Thời gian động dục thường kéo dài
khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia
làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực
(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc).
+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa
cho phối và lợn chưa chịu đực. Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên
đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h.
+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên
lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên
khi có đực đến gần và cho đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được
phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h.
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,
đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1993) [22] trứng rụng tồn tại trong tử cung
2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ. Thời điểm phối
giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều
ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục. Đối với lợn nái
nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động
16
dục ở lợn nái nội ngắn hơn. Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu
thai và số con. Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy
kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.
2.2.3. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và
lợn nái nuôi con
2.2.3.1.Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn
con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con.
Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con.
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ
phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa. Không cho lợn
nái ăn thức ăn có hệ số choáng cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó,
hoặc ép thai chết ngạt. Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng
sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn. Đối với
những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn. Đối với những lợn nái có sức
khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng
cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa. Những ngày lợn đẻ phải
căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ
dinh dưỡng cho hợp lý. Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh
(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do. Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn
cháo loãng. Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột
ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn. Thức ăn cần
chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn
cho lợn nái.
17
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con. Theo Trần Văn Phùng và cs,
(2004) [16] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú,
thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường
hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời. Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày
cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ. Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng,
nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải
khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng. Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để
trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ. Trước khi đẻ 1 tuần, cần
vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính
trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm
như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực
tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh sach sẽ cho lợn nái,
chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần
với chuồng mới.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan
trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Theo Trần Văn Phùng và cs,
(2004) [16] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa
lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,
mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục. Ô úm tạo điều
kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào
những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn
sớm cho lợn con ( để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi ) mà
không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con. Vào ngày dự kiến đẻ của
lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con. Kích thước ô úm : 1,2m x 1,5m.
Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi
đón lợn con sơ sinh.
18
2.2.3.2. Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16] thức ăn cho lợn nái nuôi con
phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa. Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ. Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin... Không cho
lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng. Thức ăn
hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo
đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu
chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Canxi từ 0,9 –
1,0 %, phospho 0,7 %.
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh
hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì
vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16] trong quá trình nuôi con, lợn nái
được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)
hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do.
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng.
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn
hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức
ăn/nái/ngày = 2kg +( số con x 0,35kg/con )
+ Số bữa ăn trên ngày : 2 ( sáng và chiều )
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg
thức ăn/ngày.
19
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (
nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước.
- Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [16] vận động tắm nắng là điều kiện
tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của
lợn mẹ. Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi
có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian
vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên. Trong
chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ,
không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của
thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin.
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm
bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh
chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ. Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)
[16] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con. Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 200C, độ ẩm 70 – 75%.
2.2.4. Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời gian
thực tập
2.2.4.1. Bệnh ở lợn nái sinh sản
* Bệnh viêm tử cung
Theo Đỗ Quốc Tuấn, ( 2005) [1] cho rằng: bệnh viêm tử cung xảy ra trên
các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi
con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh,
chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi gia súc sinh đẻ trong trường hợp đẻ khó phải can
thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vi
khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm
như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… cũng thường gây viêm
tử cung.
20
- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [21], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs,
(2002) [13], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi
phối giống
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,
Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm.
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ
không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gây viêm.
Theo Đoàn Kim Dung và cs, (2002) [6] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Theo Lê Văn Năm và cs, (1999) [15] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân
từ ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ
đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất
nhày có trong cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc
21
chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình
thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về
khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ). Đây là điều kiện tốt để
vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh. Biến chứng nhiễm trùng do vi
khuẩn xâm nhập vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung
mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật.
+ Bệnh còn xảy ra do sự bất hợp lý về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu
phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm
tử cung. Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây
xát. Thiếu khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.
- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt
tới 6 - 7 ngày. Sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang
vàng hay trắng và trong. Trong trường hợp bị viêm thì sản dịch có thể có màu
đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu .
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng
tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ.
+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch
nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần. Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả
hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai.
- Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh
dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh
hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển
của lợn con.
22
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [21], Trần Thị Dân (2004) [20], khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai.
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung
tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng
trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co
mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến
thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng
Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung
tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu.
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ
nên phát triển kém hoặc chết lưu.
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của
vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích
tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa. Lượng sữa
giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.
23
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở
lại được và không thải trứng được.
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi
sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong các
nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống
thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh
hưởng tới hoạt động của buồng trứng.
- Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện
vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên
dịch viêm có thể chảy ra ngoài. Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới
200 ml hoặc hơn nữa. Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu
trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá.
Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính,
viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa. Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung.
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có
những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết
tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra. Các chất đọng ở âm hộ lợn
nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra.
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang. Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì có
thể bị nhầm lẫn.
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.
Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ
nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục. Mặt
24
khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho
chính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối thiểu
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất.
* Bệnh sát nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết,
can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại.
- Nguyên nhân: Theo Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [21]: Sau khi đẻ tử
cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật
không được vận động . Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P.
hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều
thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức.
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác.
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh
truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo
của nhau.
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung. Khi mắc
thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn.
+ Sát nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau
còn dính lại trong tử cung con mẹ. Đối với động vật đa thai một số nhau ra
ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ.
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [20]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sát
nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản
dịch chảy ra màu nâu. Để dễ phát hiện có sát nhau hay không khi đỡ đẻ cho
25
lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số
nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn nái có sát nhau hay không.
- Điều trị: Theo Trịnh Đình Thâu và cs, ( 2010) [21], Can thiệp kịp thời
ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung,
can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương. Tiêm
Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra
ngoài hết. Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung
trong ba ngày liên tục.
2.2.4.2. Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Bệnh viêm phổi
Lứa tuổi bị bệnh: bệnh thường xảy ra ở lợn con giai đoạn sau cai sữa và
lợn choai, đặc biệt là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên
- Nguyên nhân: Theo Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [23]
bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có Mycoplasma
hyponeumoniae gây ra
- Triệu chứng và bệnh tích:
+ Cấp tính: thường gặp trong đàn lần đầu bị nhiễm bệnh, viêm phổi
nặng, ho râm ran, thở khó, sốt và tỉ lệ chết cao. Tuy nhiên những triệu chứng
này biến động và biến mất đi khi bệnh nhẹ đi.
+ Mãn tính: thường gặp trong đàn có mầm bệnh xuất hiện nhiều lần, ho
kéo dài và nhiều lần (ho theo kiểu chó ngồi). Một số con bị hô hấp nặng và
biểu hiện triệu chứng viêm phổi, sẽ có khoảng 30 - 70% số lợn có bệnh tích
tổn thương phổi khi mổ khám.
- Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và
phương pháp phòng thí nghiệm. Mổ khám thấy có bệnh tích phổi hóa gan trên thùy
phổi trước
- Phòng bệnh và điều trị:
26
+ Phòng bệnh: dùng kháng sinh amoxicillin 15% trộn với thức ăn với
liều lượng 2 - 3 kg/1 tấn thức ăn, hoặc dùng kháng sinh Dynamutilin 10%
trộn với thức ăn với tỷ lệ 2kg/1 tấn thức ăn. Kết hợp dùng vitamin, chất điện
giải…
+ Điều trị: kháng sinh Tylan 200 tiêm bắp với liều 0,5ml/10kg TT, kết
hợp với vitamin, thuốc bổ tăng sức khỏe cho lợn con.
* Bệnh Phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa.
Bệnh xảy ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, phát
triển. Bệnh thường phát sinh vào mùa mưa khi thời tiết ẩm thấp hay thay đổi
đột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1 - 21 ngày tuổi.
- Nguyên nhân:
+ Do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo. Quá
trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn lợn mẹ
mang thai bị thiếu chất dinh dưỡng, khoáng, nhất là sắt, côban, canxi, Vitamin
B12... làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con sơ sinh dễ bị bệnh phân
trắng. Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rối loạn trao đổi chất vì lợn
con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng, nhất là thiếu sắt lại
không bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho lợn con và cũng bởi trong giai đoạn
còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn dẫn đến
mắc các chứng về đường ruột.
+ Do đặc điểm sinh lý của lợn con. Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệt
của lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽ không thích nghi với sự thay đổi bất thường
của thời tiết, khí hậu và lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có
khoảng 1%. Bởi vậy, nếu khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá
trình sản nhiệt và thải nhiệt, khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường sẽ khiến lợn
mắc bệnh.
Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14 ngày tuổi (Nagy và Fekete , 2005) [25].
27
- Triệu trứng: + Lợn con bú ít, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo. + Tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh,
hậu môn thường dính bết phân.
+ Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh. Màu phân lúc đầu
trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, có mùi tanh, khắm đặc trưng. Phân
dính nhiều vào hậu môn.
* Viêm khớp
- Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus
suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh này thường gây
ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi. Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống
rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi
chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến.
- Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân
sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5
tuần tuổi. Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân. Lợn
ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm
tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết
về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái. Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến
năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn
nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm
khả năng sống sót của lợn con.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [18] thì: bệnh viêm tử cung do vi
khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang
lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng
gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo.
28
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [16], cho biết: ở những nái bị
viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ,
chiều sốt nặng).
Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [21], khi gia súc bị bệnh viêm
tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng
các chất sát trùng với thể tích lớn. Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co
bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh
nặng thêm. Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết
hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [5] cho biết: Trước khi đẻ lau, xoa
vú và tắm cho nái. Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn
con. Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt. Tiêm kháng sinh:
Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú. Nếu nhiều vú
bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các
vú viêm. Tiêm trong 3 ngày liên tục.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [21], bệnh viêm đường sinh dục ở
lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ
lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [21] cho biết: viêm tử cung là một
quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm hủy
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc
cáiTrong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc
bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis),
bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác
làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó
dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004 [14]).
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về
dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa
29
đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh. Từ những yếu
tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung. Do nhiễm vi
khuẩn Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân như lợn con có
răng nanh làm xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập. Lợn nái nhiều
sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh
sản gây viêm vú. Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa
quá nên viêm.
2.3.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thê giới đang rất phát triển, các nước
không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp
khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi. Tuy nhiên
vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc
biệt là bệnh viêm đường sinh dục. Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu
về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn
nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này. Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm
đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao.
Theo Bilken (1994) [2], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc gia súc đẻ
do nhiễm vi khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương. Theo
Urban (1983) [31], Bilken (1994) [2], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung
có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu
lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E.coli, Staphylococcus aureus,
Streptococcus spp. Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi
nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm
vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi
khuẩn xâm nhập và gây bệnh. Do đó theo Smith (1995) [28], Taylor (1995)
[30], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan
trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh.
30
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1. Đối tượng theo dõi
- Lợn nái mang thai, lợn đẻ, lợn con theo mẹ và lợn thịt.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm tiến hành: trang trại lợn của công ty TNHH Phát Đạt, Phúc
Yên, Vĩnh Phúc.
- Thời gian: Từ ngày 18/11/2017 đến ngày 18/05/2018.
3.3. Nội dung tiến hành
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trại
- Thực hiện công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn tại trại
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn
- Thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con
- Tham gia các công tác thú y khác như: thiến lợn đực, đỡ lợn đẻ,…
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi
- Cơ cấu đàn lợn tại thời điểm thực tập
- Khối lượng công việc nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại
- Số lượng tiêm vắc xin phòng bệnh
- Số lượng lợn nái được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Số lượng lợn con được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Số lượng lợn con được can thiệp thủ thuật
3.4.2. Phương pháp thực hiện
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại
Để đánh giá được tình hình chăn nuôi của trại, em đã sử dụng phương
pháp phỏng vấn, thu thập thông tin từ cán bộ quản lý của trại đồng thời tự tìm
hiểu và tìm kiếm số liệu từ các sổ sách ghi chép của trại trong 3 năm gần đây.
31
3.4.2.2 Quy trình vệ sinh phòng bệnh.
Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan
trọng. Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh
trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi
cao hơn. Do nhận thức rõ được điều này, nên trong suốt thời gian thực tập, em
đã thực hiện tốt các công việc như:
+ Hàng ngày, trước khi vào chuồng làm việc công nhân cũng như sinh
viên chúng em tất cả đều phải đi qua phòng sát trùng và tắm sạch sẽ mặc quần
áo lao động, đi ủng rồi mới vào chuồng.
+ Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn mẹ nằm đè phân
+ Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau sàn nhựa ( hoặc rắc vôi rồi quét)
+ Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng
+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ quanh chuồng.
Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và được tiêu độc bằng thuốc sát
trùng Ommicide 2 lần hàng ngày, pha với tỷ lệ 320ml/1000 lít nước.
Ở các chuồng nái đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái
chửa 1 (khu vực cai sữa). Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng này được
tháo ra mang ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1
ngày sau đó được cọ sạch, phơi khô. Khung chuồng cũng được cọ sạch, xịt
bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng, sau đó xịt lại bằng dung dịch
vôi xút. Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ tiêu độc khử trùng kỹ sau đó
rắc vôi bột. Để khô 1 ngày tiến hành lắp đan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ từ
chuồng nái chửa 2 xuống.
Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 3.1.
32
Bảng 3.1. Lịch sát trùng chuồng trại của trại
Trong chuồng
Thứ
Ngoài Chuồng
Chuồng nái chửa
Chuồng đẻ
Chuồng cách ly
Ngoài khu vực chăn nuôi
CN
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Thứ 2
Quét và rắc vôi đường đi
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 3
Phun sát trùng
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Thứ 4 Xả vôi xút gầm
Rắc vôi
Rắc vôi
Thứ 5
Phun ghẻ
Phun ghẻ
Thứ 6
Phun sát trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường đi Phun sát trùng Phun sát trùng + xả vôi xút gầm Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Thứ 7
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Phun sát trùng Vệ sinh tổng chuồng
Phun sát trùng Vệ sinh tổng khu
(Nguồn: do kĩ sư của trại cung cấp)
* Quy trình tiêm phòng cho đàn lợn của trại
Bảng 3.2. Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại
Loại lợn
Tuổi
1 - 3 ngày
Lợn con
Lợn nái hậu bị
Lợn nái mang thai
3 - 4 ngày 7- 10 ngày 14-16 ngày 26 tuần tuổi 27 tuần tuổi 27 tuần tuổi 28 tuần tuổi 29 tuần tuổi 30 tuần tuổi 31 tuần tuổi 31 tuần tuổi 10 tuần chửa 12 tuần chửa 14 tuần chửa
Phòng bệnh Thiếu sắt Tiêu chảy Cầu trùng Suyễn Còi cọc Tai xanh Khô thai Giả dại Dịch tả LMLM Tai xanh Khô thai Giả dại Dịch tả LMLM E. coli
Vắc xin - Thuốc intrafex-200 Alistin Bay – coc Mycoplasma vac Circo Prrs Pv Ad Sf FMD PRRS Pv Ad Sf Aftopor Neocolipor
Đường đưa thuốc Tiêm Tiêm Uống Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp Tiêm bắp
Liều lượng (ml/con) 2 0,5 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
(Nguồn kĩ sư trại cung cấp)
33
Định kỳ hàng năm vào tháng 3, 7, 11 tiêm phòng bệnh tai xanh; tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh giả dại begonia cho tổng đàn, tháng 1, 6 tiêm bắp 2 ml/con tẩy kí sinh trùng.
Bảng trên cho thấy, việc tiêm phòng bằng vắc xin thường xuyên được tiến hành trong trại để phòng bệnh cho lợn. Đồng thời việc tiêm phòng vắc xin cũng là biện pháp bắt buộc trong ngành chăn nuôi thú y, nhất là chăn nuôi trang trại với quy mô lớn tạo điều kiện ổn định số lợn trang trại. 3.4.2.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại
Để điều trị bệnh cho đàn lợn đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh kịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế. Vì vậy, hàng ngày em và cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm. Trong thời gian thực tập em đã được tham gia và điều trị một số bệnh sau:
Bệnh viêm tử cung lợn - Triệu chứng: lợn đẻ 2 - 3 ngày, sốt nhẹ, giảm ăn hay bỏ ăn, có dịch
nhầy chảy ra từ âm hộ, màu trắng đục hoặc màu phớt vàng.
- Chẩn đoán: Bệnh viêm tử cung ở lợn nái. - Điều trị: dùng các thuốc sau để điều trị: + Thuốc tím 1/1000 pha loãng với nước + Penicillin thụt rửa 2lần/ngày,
2 ngày liên tục.
+ Penicillin: 1 triệu UI/30kgTT
+ Oxytocine: 5ml/con
+ Analgin: 1ml/10kgTT
+ Vitamin B1: 5ml/30kgTT
Tiêm bắp, 2 lần/ngày, điều trị trong 3 ngày.
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
+ Nguyên nhân: Vệ sinh rốn khi cắt rốn không tốt cũng có thể làm cho
heo con bị viêm rốn, tạo điều kiện cho các vi khuẩn cơ hội như: E.Coli,
Salmolella, Clostridium, Staphylococcus, ... xâm nhập, dẫn đến tiêu chảy cho
34
heo con. Vệ sinh chuồng trại, đặc biệt là nước uống và thức ăn không tốt. Có
thể thức ăn bị nấm, mốc, đặc biệt là những ngày nồm ầm ướt; làm cho heo
con bị tiêu chảy do ngộ độc độc tốc nấm mốc.
+ Triệu chứng: Phân lỏng màu vàng hay màu trắng đục dính ở hậu môn, hậu
môn ướt đỏ, lợn sút cân nhanh chóng, mắt lờ đờ, dáng đi siêu vẹo, chán ăn.
+ Điều trị: Hội chứng tiêu chảy ở lợn con có thể điều trị bằng nhiều loại thuốc. Tại
trang trại điều trị bằng thuốc sau:
Nova - Amcoli: 1 ml/con/ngày sử dụng tiêm bắp đối với lợn con <10
ngày tuổi.
Nor - 100: 1 ml/con/ngày sử dụng tiêm bắp đối với lợn con >10 ngày tuổi. Điều trị liên tục trong 3 ngày – 5 ngày.
Bệnh viêm phổi
+ Nguyên nhân: Là một bệnh truyền nhiễm đa nguyên nhân mà trước
đây chúng ta quen gọi là bệnh suyễn hoặc viêm phổi địa phương.
Mycoplasma là tác nhân chính kết hợp với hệ vi khuẩn gây bệnh cộng phát
như: Pasteurella multocida, Bordetell, Chlamidi, Streptococcus,
Staphylococcus và một số siêu vi khuẩn khác. Mycoplasma thường cư trú tại
amidal hoặc xâm nhập từ ngoài vào cơ thể dưới tác động trực tiếp của các yếu
tố stress có hại và sức đề kháng của cơ thể yếu, chúng tăng cường độc lực
chui vào phế quản và phế nang, ký sinh và sinh sản ở đó gây bệnh.
Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gian mang thai.
+ Triệu chứng: Ở lợn con bệnh có thể xảy ra ngay sau khi sinh. Lợn gầy
còm lông xù, thở thể bụng có khi ngồi thở, bụng hóp lại. Lợn bị bệnh không
tranh bú với các con khác được nên ngày càng gầy yếu hơn, dễ mắc kế phát
bệnh viêm khớp. Nếu không điều trị kịp thời tỷ lệ chết rất cao.
+ Điều trị: Bệnh viêm phổi có thể sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để
điều trị, ở trong trại thường sử dụng phác đồ sau để điều trị:
Tylogenta: 1,5ml/con. Tiêm bắp ngày/lần
35
Gentamox LA: 1,5ml/con. Tiêm bắp ngày/lần.
Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine (HCl):
2ml/con.
Điều trị trong 3 - 6 ngày.
Công tác thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại:
- Đỡ lợn đẻ:
Để công tác đỡ lợn đẻ thành công cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ phục vụ
cho việc đỡ đẻ, dụng cụ bao gồm: lồng úm, bóng đèn hồng ngoại, khay đựng
cồn, kéo, chỉ buộc rốn, khăn khô và bột rắc lợn con (mistran), kéo và chỉ buộc
rốn phải được ngâm trong khay đựng nước sát trùng .
Thao tác đỡ đẻ : Trước khi đẻ lợn mẹ phải được vệ sinh ( tắm ) sạch sẽ,
bộ phận sinh dục và bầu vú cũng được lau chùi sạch sẽ. Khi lợn con được đẩy
ra ngoài nhanh chóng dùng tay vuốt mồm cho lợn dễ thở sau đó dùng khăn
khô lau sạch nhớt và lớp màng trên người lợn con, phải lau thật khô và sạch
lợn con thì nó mới nhanh khỏe. Sau đó dùng chỉ buộc dây rốn cách rốn 1
khoảng 3cm rồi cắt bên dưới nút buộc, chấm cồn vào rốn và thả lợn vào lồng
úm đã chải sẵn thảm và thắp đèn úm. Trường hợp lợn mẹ khó đẻ sau 15 -20
phút phải có biện pháp can thiệp. Sau khi lợn mẹ đẻ xong cần vệ sinh sạch sẽ
bầu vú, cơ quan sinh dục và cho lợn con vào bú sữa đầu. Trong khi lợn con bú
mẹ cần chú ý quan sát để tránh trường hợp lợn mẹ đè con.
- Thao tác mài nanh, bấm tai và tiêm sắt cho lợn con: Lợn con sau khi
bú mẹ sức khỏe tốt hơn, cứng cáp hơn sẽ được tiến hành mài nanh, bấm số tai,
cắt đuôi, tiêm kháng sinh và tiêm sắt. Thường thì sẽ tiến hành tiêm sắt vào
thời điểm 3 ngày tuổi sau khi lợn con sinh với liều lượng 1 - 2ml/con, nhưng
để tránh gây strees cho lợn con và tiện cho các thao tác kỹ thuật thì trại thực
hiện các công việc đó cùng một lúc. Sắt sẽ được tiêm bổ sung lần 2 vào 7 - 10
ngày tuổi nếu thấy cần thiết. Số tai của lợn con sẽ được bấm theo mã số của
trại là 91 và số tuần mà lợn con được sinh ra.
36
- Thiến lợn đực: Đối với lợn đực nuôi thịt ta cần thiến càng sớm càng tốt.
Thông thường trong chăn nuôi lợn nái sinh sản người ta thường thiến lợn vào
7 - 10 ngày tuổi. Nhung thực tế trại thực hiện thiến lợn đực vào ngày thứ 5
sau khi sinh
Trước khi thiến lợn đực cần chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm: Dao
thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông gòn, khăn vải sạch, xi – lanh tiêm và
thuốc kháng sinh.
Thao tác : Đầu tiên là tiêm cho lợn con 1ml/con kháng sinh ( Amcoli,
Amistin ). Sau đó người thiến ngồi ghế cao và kẹp lợn con vào giữa 2 đùi sao
cho đầu của lợn con hướng xuống dưới. Một tay nặn sao cho dịch hoàn nổi rõ,
tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch hoàn.
Dùng 2 tay nặn dịch hoàn ra ngoài rồi lấy panh kẹp vào giật dịch hoàn ra,
dùng khăn sạch lau vùng dịch hoàn và bôi cồn vào vị trí thiến.
3.4.2.4 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại
Trong quá trình thực tập tại trang trại, em đã tham gia chăm sóc nái
chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho lợn con theo mẹ đến cai sữa. Em
trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi trên đàn lợn. Quy trình chăm sóc nái
chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa được áp dụng
theo đúng quy trình của công ty GreenFeed như sau:
Quy trình chăm sóc nái chửa
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1, chuồng nái chửa
2. Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy
thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân,
lấy thức ăn cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm,
cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân. Lợn nái chửa được ăn loại
thức ăn hỗn hợp 9054/GF08 và 9044/GF07 của công ty Greenfeed với khẩu
phần ăn chia theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
Từ ngày phối giống đến 21 ngày mang thai cho ăn cám 9054/GF08, đối với
nái hậu bị ăn 1,6 - 1,8 kg/con/ngày, còn với nái dạ ăn 2,0 - 2,2 kg/con/ngày.
37
Từ ngày 22 đến ngày 84 mang thai cho ăn cám 9044 /GF07, đối với nái
hậu bị ăn từ 2,0 - 2,2 kg/con/ngày, còn nái dạ ăn 2,2 - 2,4 kg/con/ngày.
Từ ngày 85 đến 107 ngày mang thai cho ăn cám 9044/GF07, đối với nái hậu
bị cho ăn từ 2,2 - 2,4 kg/con/ngày và nái dạ cho ăn từ 2,5 - 2,8 kg/con/ngày.
Đối với nái chửa từ 108 đến 116 ngày cho ăn cám 9054/GF08 với tiêu
chuẩn 2,4 - 2,7 kg/con/ngày.
Quy trình chăm sóc nái đẻ( nái nuôi con )
Trước khi chuyển nái sang chuồng đẻ vệ sinh sát trùng chuồng đẻ sạch
sẽ, khô ráo.
Tắm nái sạch bằng xà phòng và chuyển nái qua chuồng đẻ trong khoảng
7 - 10 ngày trước đẻ.
Chuẩn bị dụng cụ trước khi lợn con ra đời: khăn lau, bột xoa, cồn iod,
cân, tải ni-lông, dầu bôi trơn, panh, kim tiêm, kìm cắt đuôi, máy mài nanh,
bấm tai, sổ ghi chép, thuốc oxytocin, kháng sinh, úm, bóng úm, thảm lót...
Khẩu phần ăn cho nái đẻ và nuôi con.
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày cho ăn cám GF08 giảm dần
0,5kg/ ngày. Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 -
1kg/ngày đến ngày thứ 6. Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con
có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên.
Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa
1 ngày sau khi đẻ cho uống kháng sinh colamox ap, mài nanh, cắt đuôi.
2 ngày sáng uống kháng sinh
3 ngày cho uống cầu trùng, tiêm sắt
5 ngày lắp máng tập ăn cám 9014
6 ngày thiến, khi thiến tiêm kháng sinh, sát trùng vị trí thiến
7 ngày làm vắc xin suyễn 1
14 ngày vắc xin circo
21 ngày vắc xin suyễn 2
22 đến 26 ngày cai sữa
38
3.4.3. Quy trình xuất bán lợn
Trong 6 tháng thực tập tại trại em còn được tham gia vào công tác xuất
lợn con của trại.
Lợn con thường được cai sữa ở 23 ngày tuổi, sau khi tách mẹ sẽ được
nuôi thêm 2 – 3 ngày rồi xuất bán. Trước khi xuất bán, cán bộ kỹ thuật của
trại sẽ tiến hành chọn lọc lợn, những lợn khỏe mạnh, đủ tiêu chuẩn xuất bán
sẽ được đánh dấu bằng mực xanh. Trong quá trình xuất bán, sẽ chọn những
lợn đã được đánh dấu và lùa lợn đi ra theo con đường dành riêng cho lợn xuất
bán. Ở đây lợn con được cân khối lượng, ghi chép số lượng và đưa lên xe tải
để vận chuyển đi.
3.4.4. Một số các chỉ tiêu theo dõi công thức tính
- Tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa:
∑ số con còn sống đến cai sữa Tỷ lệ nuôi sống đến = x 100 khi cai sữa ∑ số con đẻ
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:
∑ số lợn mắc bệnh Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100 ∑ số lợn theo dõi
- Tỷ lệ lợn khỏi:
∑ số con khỏi bệnh Tỷ lệ lợn khỏi (%) = x 100 ∑ số con điều trị
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý trên Excel với các tham số
+ Tính số trung bình mẫu:
+ Sai số trung bình:
39
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại
Việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn là một trong
những việc bắt buộc tại trang trại. Quy trình chăm sóc được thực hiện nghiêm
ngặt theo quy trình của công ty GreenFeed. Vì vậy, dù là sinh viên hay công
nhân khi tham gia làm việc trực tiếp tại trại, đều được kỹ sư trại hướng dẫn
cách chăm sóc, nuôi dưỡng theo đúng quy trình và theo từng đối tượng lợn.
Trong quá trình thực tập em đã tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn
nái chửa, lợn nái đẻ và lợn thịt. Kết quả làm việc được trình bày ở bảng 4.1.
và bảng 4.2.
Bảng 4.1. Số lượng lợn nái chửa, nái nuôi con, lợn con và lợn thịt trực tiếp
chăm sóc trong 6 tháng thực tập
Nái đẻ, nái Lợn con Lợn thịt Tháng Nái chửa nuôi con (SS – CS) (CS – XC)
11/2017 12 12 153 0
45 0 12/2017 45 549
116 0 1/2018 0 0
2/2018 128 0 0 0
3/2018 0 0 0 424
4/2018 0 0 0 223
18/5/2018 0 0 0 109
Tính chung 301 57 702 756
Trong quá trình thực tập em đã trực tiếp tham gia chăm sóc 301 lợn nái
chửa, 57 lợn nái đẻ và nuôi con và 702 lợn con, 756 lợn thịt. Số lợn nái đẻ
chăm sóc có sự biến động khác nhau sở dĩ là do: trong 1,5 tháng đầu mới
40
xuống thực tập tại trại, do chưa quen công việc kỹ thuật và do sự phân công
của trại em được phân công trực tiếp làm tại chuồng lợn nái đẻ và trực tiếp
làm các công việc như cho ăn, dọn vê sinh chuồng, tắm chải cho lợn ...., vì
vậy số lượng lợn nái đẻ chăm sóc ít hơn so với các tháng tiếp theo, tổng số
lợn nái đẻ em được chăm sóc giai đoạn trước khi đẻ 1 tuần đến khi cai sữa lợn
con là 57 lợn nái. Tương tự như vậy, tổng số lợn con em trực tiếp chăm sóc ở
1,5 tháng đầu là 702 lợn con.
Từ tháng 1 đến tháng 2 của năm 2018, em được làm việc trực tiếp tại
chuồng lợn nái mang thai, vì vậy số lượng lợn nái mang thai chăm sóc tăng so
với các tháng đầu. Từ Tháng 3 đến kết thúc đợt thực tập em được trực tiếp
làm tại chuồng lợn thịt. Tổng số lợn thịt em chăm sóc là 756 con.
Bảng 4.2: Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn
Số lượng Thực hiện Tỷ lệ STT Công việc (số lần) được (số lần ) ( % )
1 Cho lợn ăn hàng ngày 360 159 44,16
2 Tắm chải cho lợn mẹ 180 75 41,66
3 Xuất lợn con 48 11 22,92
Chăm sóc, nuôi dưỡng là một quy trình không thể thiếu của bất kỳ trại
chăn nuôi nào, chính vì vậy trong suốt 6 tháng thực tập tại trại em đã được
tham gia và làm các công việc về nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn tại trại
em đã được học hỏi và mở mang kiến thức rất nhiều về cách cho ăn, nhu cầu
thức ăn cho từng đối tượng lợn tại trại.
Như vậy em đã biết quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn
đến sức khỏe và khả năng sinh sản của lợn nái. Chính vì vậy, cần phải cho lợn
nái và lợn con ăn đúng bữa và đủ lượng thức ăn dinh dưỡng theo quy định.
Lợn nái đẻ và nuôi con được cho ăn 2 lần/ngày (bữa sáng và chiều), lợn nái
chửa ăn 1 lần/ngày vào buổi sáng.
41
Việc tắm, chải cho lợn nái sinh sản cũng vô cùng quan trọng và được thực
hiện thường xuyên (1lần/ngày) và trong 6 tháng thực tập em đã làm được 75 lần
( đạt tỷ lệ 41,66 % ) thấp hơn so với việc cho lợn ăn hàng ngày là 159 lần
(đạt tỷ lệ 44,16% ).
Việc xuất bán lợn con được thực hiện trung bình 2lần/tuần như vậy
trong 6 tháng thực tập tại trại có 48 lần xuất lợn con và em tham gia được
11lần ( đạt tỷ lệ 22,92% ), tỷ lệ này thấp sở dĩ trong trại có rất nhiều công việc
chuyên môn và công tác phục vụ sản xuất, do đó khi được phân công làm
công việc gì thì sinh viên sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.
Thông qua các nội dung công việc làm tại trại trong quá trình chăm sóc,
nuôi dưỡng cho các đối tượng lợn tại trại, em đã hoàn thiện được các kỹ năng
cũng như hiểu rõ hơn về nguyên lý của các thao tác kỹ thuật trong chăm sóc,
nuôi dưỡng lợn.
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc heo nái mang thai là thời kỳ rất quan trọng của
quá trình chăn nuôi nhằm đảm bảo cho bào thai con phát triển bình thường, lợn
nái đẻ được nhiều con, heo con khỏe mạnh, có trọng lượng sơ sinh cao. Vì vậy,
để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25 - 30% lượng thức ăn
cho lợn nái chửa. Thông thường, lợn nái chửa cần 14% tỉ lệ protein thô, 0,9% tỷ
lệ canxi và 0,45% tỉ lệ photpho trong khẩu phần ăn. Mùa hè có thể giảm mức ăn
nhưng phải tăng lượng protein từ 14% lên 16%, nâng mức khoáng và vitamin
trong khẩu phần. Tuy nhiên cũng cần tránh vỗ béo lợn nái quá mức trong giai
đoạn gần sinh. Cụ thể ở thời kỳ mang thai đầu tiên nên cho ăn từ 1,8 – 2
kg/con/ngày. Sang giai đoạn thứ 2 khi lợn nái mang thai khoảng 85 – 110 ngày,
cho ăn từ 2 – 2,5 kg/con/ngày. Đến giai đoạn từ 111 – 113 ngày, cho ăn 2
kg/con/ngày. Và trước khi đẻ 1 ngày – không nên cho ăn.
Trong quá trình chăm sóc cần tắm chải cho lợn nái, tăng cường xoa bóp
bầu vú để mạch máu dễ lưu thông, phát triển tuyến sữa, lợn dễ quen người và
dễ tiếp xúc khi đỡ đẻ, không tắm chải 5 ngày trước khi đẻ để tránh cho lợn đẻ
42
non trước ngày dự kiến. Trong quá trình tắm cho lợn nái mang thai tuyệt đối
không dùng vòi nước bơm phụt trực tiếp vào thành bụng của lợn nái hoặc
phụt vào cơ quan sinh dục của lợn nái mang thai, vì nếu làm như vậy sẽ kích
thích dễ gây đẻ non hoặc sẩy thai.
4.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại
4.2.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại
Việc vệ sinh sát trùng chuồng trại có vai trò rất quan trọng trong chăn
nuôi. Vê ̣sinh bao gồm nhiều yếu tố: vê ̣sinh môi trường xung quanh, vê ̣sinh
đất, nước, vê ̣sinh chuồng trại… Sau đây là kết quả thực hiện vệ sinh, sát
trùng trong 6 tháng thực tập tại trại
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại
Số lượng Kết quả Tỷ lệ Stt Công việc ( lần ) ( lần) (%)
Vệ sinh chuồng trại hàng ngày
180 165 91,66 1
( lần/ ngày)
Phun sát trùng định kỳ xung quanh
48 22 45,83 2
chuồng trại (2 lần/tuần)
Phun sát trùng trong chuồng
180 149 82,78 3
(1 lần/ngày)
Quét và rắc vôi đường đi chuồng
180 165 91,67 4
(lần/ngày)
5 Tắm sát trùng chuồng (1 lần/ngày) 180 180 100
Phát quang cây, khai thông cống
24 17 70,83 6
rãnh chuồng (1 lần/tuần)
Trong thời gian thực tập em đã thực hiện tốt quy trình vê ̣sinh trong chăn
nuôi. Hàng ngày em tiến hành thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi laị
giữa các dãy chuồng. Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun
thuốc diệt muỗi, quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào
chuồng, đường đi nhằm đảm bảo vệ sinh.
43
Kết quả bảng 4.3 cho thấy việc áp dụng quy trình vệ sinh, sát trùng
chuồng trại luôn được trại quan tâm và làm thường xuyên hàng ngày.
Theo quy trình của công ty thì khâu vệ sinh chuồng nuôi tại trại, phun sát
trùng chuồng nuôi được thực hiện 1lần/ngày. Vệ sinh tất cả phân, chất thải
hữu cơ trong chuồng, xịt gầm và đưa ra ngoài kho chứa phân, quét dọn đường
lấy phân và đường tra cám, quét mạng nhện xung quanh, lau sạch máng ăn
máng của lợn mẹ và lợn con. Trong thời gian thực tập 24 tuần tại cơ sở, em đã
trực tiếp tham gia làm công tác vệ sinh chuồng nuôi, phun sát trùng trong
chuồng được 149 lần.
Hàng ngày ngoài việc vệ sinh chuồng nuôi, em còn tiến hành rắc vôi và
quét đường đi: Dùng vôi bột lấy rồi rắc đường lấy phân và đường tra cám từ
phía dưới quạt gió ngược lên giàn mát sau đó lấy chổi quét sạch. Do cán bộ
kỹ thuật trại phân công em chịu trách nhiệm điều trị lợn nái là chủ yếu nên
trong thời gian thực tập tại cơ sở em đã trực tiếp tham gia rắc vôi và quét
đường đi 165 lần.
Vào ngày thứ 7 hàng tuần, trại thường quy định cán bộ, nhân viên, công
nhân của toàn trại phải tham gia vào công việc phát quang bụi rậm, khai thông
cống rãnh và phun sát trùng định kỳ toàn bộ khu vực chăn nuôi. Trong thời
gian thực tập em cũng đã tham gia thực hiện tổng số 17 lần. Trong trường hợp
nếu trại có dịch bệnh thì sẽ được tăng cường việc phun sát trùng lên hàng ngày.
Qua việc thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh sát trùng chuồng trại,
và vệ sinh sát trùng đối với người chăn nuôi trước khi vào chuồng lợn, em
nhận thức được tầm quan trọng của việc vệ sinh sát trùng chuồng trại. Nếu
người chăn nuôi thực hiện tốt công việc này sẽ hạn chế được dịch bệnh cũng
như nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi, đồng thời bảo vệ sức khỏe cho cộng
đồng. Tuy nhiên, hiệu quả của việc vệ sinh sát trùng chuồng trại đạt hiệu quả
hay không, còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức của người thực hiện, cũng như
việc lựa chọn phương pháp, cách thức thực hiện việc vệ sinh sát trùng chuồng trại.
44
4.2.2. Kết quả tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho lợn con
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trại được thực hiện
tích cực, thường xuyên và bắt buộc. Việc tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra
trong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi
khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Trong 6 tháng thực tập tại trại, em đã
được tham gia vào quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con và lợn nái tại trại,
kết quả của quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho đàn lợn tại trại
được trình bày qua bảng 4.4.
Bảng 4.4. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin
Số
lợn
Số lợn
Tỷ lệ
Ngày
Tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh
thực
an toàn
(%)
tuổi
hiện
(con)
(con)
601
601
100
Thiếu máu (Fe + B12)
1 - 3
487
487
100
Tiêu chảy (uống)
1 - 3
549
549
100
Cầu trùng (uống)
3 - 4
476
476
100
Suyễn
7 - 10
Circo
-
-
-
14 - 16
Qua kết quả bảng 4.4, ta có thể thấy được kết quả tổng quát về việc phòng bệnh cho đàn lợn con tại trại bằng vắc xin và thuốc. Lợn con sau 1 - 3 ngày tuổi được tiêm Fe + B12 để phòng thiếu sắt, thuốc phòng trị cầu trùng và nâng cao sức đề kháng cho lợn con, 100% lợn con sau khi sinh sẽ được tiêm phòng. Trong 6 tháng thực tập, em đã tiêm Fe + B12 cho 601 lợn con được 3 ngày tuổi (đạt an toàn 100%), nhỏ thuốc phòng trị tiêu chảy 487 lợn con (an toàn 100%), nhỏ thuốc phòng trị bệnh cầu trùng cho 549 lợn con (an toàn 100%), tiêm suyễn cho 476 lợn con (đạt an toàn 100%).
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, mặc dù được phân công làm trực tiếp ở chuồng lợn nái mang thai, tuy nhiên đối với sinh viên hầu hết trang trại đều
45
chưa giao cho công việc làm vác xin phòng bệnh cho lợn nái mang thai, vì đây là một trong những thao tác kỹ thuật không phải là khó nhưng đòi hỏi độ chính xác, vì vậy để đảm bảo không ảnh hưởng đến lợn mẹ và bào thai có thể phát triển bình thường thì công việc này phải do trực tiếp kỹ sư của trại thực hiện.
4.3. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái
Trong thời gian thực tập tại trại lợn, để giúp em có thể được thực hành trên mọi đối tượng lợn của trại, lãnh đạo trại đã tạo điều kiện cho em được thực hiện các kỹ thuật trên tất cả đối tượng lợn. Bản thân em được trực tiếp làm việc dưới chuồng lợn đẻ 1,5 tháng. Trong thời gian 1,5 tháng thực tập tại chuồng lợn đẻ em đã thống kê được một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái, kết quả được trình bày trong bảng 4.5.
Qua bảng 4.5 cho thấy, các chỉ tiêu về sinh sản là khá cao, trong tổng 57 con đẻ, số con đẻ ra trung bình là 12,26 con/lứa/, số con còn sống đến cai sữa là trung bình là 11,84 con/lứa tỷ lệ nuôi sống là 96,57%.
Nhìn chung số lượng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa đều giảm qua các tháng. Để giảm tỷ lệ chết trước cai sữa cần chú ý việc chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái, cho nái ăn đủ khẩu phần ăn, đủ dinh dưỡng, thay thế nái già, yếu. Sau khi sinh số lượng lợn con nhiều thì tiến hành ghép đàn hoặc chia ra 2 đợt bú
Bảng 4.5. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái
Số con còn sống Số con đẻ ra/lứa Tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa (%) đến cai sữa/lứa Số lợn nái đẻ (con) Tháng theo dõi
96,71 11 12 12,33±0,71 12,75 ± 0,94
96,53 12 45 12,13 ± 0,38 11,71±0,32
96,57 Tổng 57 12,26±0,35 11,84±0,29
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn con, kỹ năng nghề
mà em học được là: phải luôn có người trực đẻ để phòng trường hợp lợn khó
đẻ phải can thiệp kịp thời, tránh để lợn mẹ đè chết lợn con; lợn con phải được
46
bú sữa đầu và lợn phải được bú no; trong quá trình đỡ đẻ, thiến phải đảm bảo
khâu vệ sinh, sát trùng đúng kỹ thuật. Nếu tuân thủ đầy đủ các yêu cầu trên sẽ
làm giảm được tỷ lệ chết ở lợn con từ khi đẻ ra đến khi cai sữa từ đó nâng cao
được hiệu quả kinh tế.
4.4. Công tác chẩn đoán bệnh cho đàn lợn
Công tác chẩn đoán bệnh cho vật nuôi là một trong những khâu rất quan
trọng quyết định đến hiệu quả điều trị bệnh. Nếu chẩn đoán bệnh kịp thời,
chính xác sẽ làm cho hiệu quả điều trị bệnh cao, giảm được chi phí cho điều
trị. Trong thời gian thực tâp, ngoài thời gian vệ sinh chuồng trại, cho lợn ăn,
thì em còn được tham gia công tác chẩn đoán lâm sàng đối với lợn nghi bị
bệnh. Dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật trại, sau một thời gian thực tập
tại cơ sở, kỹ năng chẩn đoán bệnh cho lợn đã được nâng lên rất nhiều. Kết
quả cụ thể được trình bày ở bảng 4.6.
Bảng 4.6. Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn
Tên bệnh Số lợn theo dõi (con) Số lợn mắc bệnh (con) Tỷ lệ (%)
Viêm tử cung 57 5 8,77
Sát nhau 57 8 14,04
Tiêu chảy 1458 645 44,24
Viêm phổi 1458 491 33,67
Viêm khớp 1458 112 7,68
Phân trắng lợn con 702 96 13,67
Qua bảng 4.6 em nhận thấy:
+ Đối với bệnh lợn nái: Trong 57 lợn nái trực tiếp chăm sóc và nuôi
dưỡng có 5 con mắc bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau có 8 con. Tỷ lệ lợn nái
mắc bệnh viêm tử cung tại trại thấp nhất chiếm 8,77%. Sau đó là bệnh sót
nhau với tỷ lệ 14,04 %.
47
+ Đối với bệnh lợn con: Do sức đề kháng kém nên tỷ lệ mắc các bệnh
trên đàn lợn con khá cao. Theo dõi 1458 con có 645 con mắc bệnh tiêu chảy
chiếm tỷ lệ 44,24%, 491 con mắc bệnh viêm phổi chiếm tỷ lệ 33,67%, 112
con mắc bệnh viêm khớp chiếm tỷ lệ 7,68% và theo dõi 702 lợn theo mẹ có
96 con mắc bệnh phân trắng chiếm tỷ lệ 13,67%.
Qua theo dõi, chúng em nhận thấy rằng, đối với lợn nái sinh sản những
bệnh chủ yếu thường xuyên sảy ra trên lợn nái là các bệnh sinh sản, như viêm
tử cung, sót nhau. Do lợn nái trong quá trình thụ tinh nếu như kỹ thuật phối
giống không tốt, không đảm bảo cũng là nguyên nhân làm cho bệnh ở đường
sinh sản sẩy ra. Đối với lợn con theo mẹ, bệnh thường xuyên sẩy ra nhiều
nhất là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 7 – 12 ngày. Ngoài ra còn có
bệnh Viêm phổi. Bệnh này thường sẩy ra khi thời tiết thay đổi bất lợi đối với
cơ thể của lợn con, lợn con khi mới sinh ra cơ năng điều tiết thân nhiệt kém,
do đó dễ cảm nhiễm với một số bệnh.
4.5. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn
Sau khi phát hiện lợn bị bệnh, chúng tôi đã kịp thời tiến hành điều trị.
Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn được thể hiện ở bảng 4.7.
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn
Số lợn điều trị (con)
Tỷ lệ khỏi (%)
Tên bệnh
Số lợn khỏi bệnh (con)
Lợn nái
Viêm tử cung
5
5
100
Sát nhau
8
8
100
Lợn con theo mẹ
Tiêu chảy
645
607
94,11
Viêm phổi
491
491
100
Viêm khớp
112
103
91,96
Phân trắng lợn con
96
96
100
48
Qua bảng 4.7 cho thấy:
+ Đối với bệnh lợn nái: Trong 5 lợn mắc bệnh viêm tử cung mà em
điều trị có 5 con khỏi bệnh chiếm tỷ lệ 100 %. Bệnh sát nhau điều trị 8 con có
8 con khỏi bệnh đạt tỷ lệ 100%.
+ Đối với bệnh lợn con: Bệnh tiêu chảy điều trị 645 con có 607 con khỏi
bệnh đạt tỷ lệ 94,11%. Điều trị 491 con mắc bệnh viêm phổi có 491 con khỏi
bệnh đạt tỷ lệ 100%. Điều trị 112 con mắc bệnh viêm khớp có 103 con khỏi
bệnh đạt 91,96%. Điều trị 96 con mắc bệnh phân trắng có 96 con khỏi bệnh đạt
tỷ lệ 100%.
Qua việc chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn mắc bệnh tại trại, em rút ra
được những kỹ năng đó là: để việc điều trị bệnh cho lợn đạt hiệu quả cao thì
cần phải chẩn đoán được bệnh chính xác. Vì vậy, hàng ngày cần phải quan sát
đàn lợn, để nắm bắt tình trạng sức khỏe của đàn lợn, khi đàn lợn có một vài
con có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh thì cần phải cách ly lợn ốm theo tình
trạng mắc bệnh và tiến hành điều trị. Trong quá trình điều trị cũng phải lưu
tâm đến chăm sóc đặc biệt cho những lợn mắc bệnh để tăng sức đề kháng cho
lợn bị bệnh bằng cách cho lợn ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và bổ sung thêm các
thuốc trợ sức, trợ lực để lợn có thể vượt qua được giai đoạn điều trị bệnh.
4.6. Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi vừa tham gia chăm sóc, nuôi
dưỡng đàn lợn vừa được học và làm một số các thao tác trên lợn con như đỡ
lợn đẻ, mài nanh, bấm số tai, thiến lợn đực và mổ hecni:
Qua bảng 4.8 có thể thấy trong 6 tháng thực tập em thực hiện các công
việc về phẫu thuật và thủ thuật trên đàn lợn con. Em đã trực tiếp đỡ đẻ cho 57
con lợn nái. Công việc mài nanh là được thực hiện nhiều nhất với số con làm
được là 606 con ( đạt tỷ lệ 100 % ) . Vì lợn con sau khi sinh cần phải mài
nanh luôn nếu không sẽ làm tổn thương vú lợn mẹ khi bú cũng như tránh việc
lợn con cắn nhau. Công việc bấm số tai được thực hiện với số con làm được
là 348 con, bấm số tai sớm để vết thương nhanh liền, ít chảy máu và giảm
49
stress cho lợn con. Công việc thiến lợn đực được thực hiện với số con làm
được là 360 con.
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con
Kết quả (an toàn )
STT Số lượng Thực hiện Tỷ lệ Công việc (con) ( con ) ( %)
1 Đỡ lợn đẻ 57 57 100
2 Mài nanh 606 606 100
3 Bấm số tai 348 348 100
4 Thiến lợn đực 360 360 100
4 Mổ hecni 26 5 19,23
Công việc mổ hecni chiếm tỷ lệ thấp do số lượng lợn con bị hecni thấp,
trong 6 tháng thực tập em có theo dõi và phát hiện được 26 con lợn con bị
hecni và tiến hành mổ được 5 con ( đạt tỷ lệ 19,23% ). Nguyên nhân dẫn đến
lợn con bị hecni chủ yếu là do di truyền khi đẻ ra lợn con đã bị, một phần là
do trong quá trình thao tác kỹ thuật thiến lợn không đúng làm sa ruột bẹn.
Qua những công việc trên đã giúp em học hỏi thêm được nhiều kinh
nghiệm trong chăm sóc lợn con cũng như nâng cao tay nghề về các thao tác
kỹ thuật trên lợn con, đồng thời giúp em mạnh dạn hơn, tự tin hơn vào khả
năng của mình, hoàn thành tốt công việc được giao.
50
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
Qua 6 tháng thực tập tại trại lợn của công ty TNHH Phát Đạt, thị xã
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, em có một số kết luận như sau:
- Hiệu quả chăn nuôi của trại khá tốt: Tỷ lệ lợn sơ sinh/ lứa đạt trung bình
là 12,26 con và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt trung bình là 11,84 con/nái/lứa.
- Về công tác thú y của trại
+ Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn thực hiện
nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật.
+ Công tác vệ sinh: hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông.
+ Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa
các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc
vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại
cổng vào.
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin được trại thực hiện nghiêm túc,
đầy đủ và đúng kỹ thuật. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn đạt 100%.
- Những chuyên môn đã được học tại trại
Qua 6 tháng thực tập tại trại em đã được học hỏi và được chỉ dạy rất
nhiều điều về kiến thức cũng như các thao tác kỹ thuật trong chăm sóc
nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn. Những công việc em đã được học và
làm như:
+ Đỡ lợn đẻ
+ Mài nanh, bấm số tai, bấm đuôi, tiêm chế phẩm Fe - dextran cho lợn con
+ Thiến lợn đực, mổ hecni cho lợn đực.
+ Tham gia vào công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn con
51
+ Tham gia vào quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con, lợn mẹ
và lợn thịt của trại (cho lợn ăn, tắm chải cho lợn mẹ, dọn vệ sinh
chuồng,…).
5.2. Đề nghị
Xuất phát từ thực tế của trại, qua phân tích đánh giá bằng những hiểu biết
của mình, em có một số ý kiến nhằm nâng cao hoạt động của trại như sau:
- Trại lợn cần thực hiện tốt hơn nữa quy trình vệ sinh phòng bệnh và quy
trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái để giảm tỷ lệ lợn nái mắc các bệnh về
sinh sản nói riêng và bệnh tật nói chung.
- Thực hiện tốt công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ, có thao tác đỡ
đẻ khoa học để giảm bớt tỷ lệ mắc các bệnh về đường sinh sản ở lợn nái.
- Trại cần tiếp tục phát triển đàn lợn giống ngoại để cung cấp lợn giống
và lợn thương phẩm cho thị trường.
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. A.V.Trekaxova, L.M. Đaninko, M.I. Ponomareva, N.P. Gladon (1983),
Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
2. Bilken và cs (1994), Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu
quả.
3. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt,
Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, Trang 29 - 35.
4. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông
nghiệp TpHCM.
5. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
6. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản
xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội.
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản
gia súc, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội.
8. Dwane R.Zimmernan Edepurkhiser (1992), Quản lý lợn nái, lợn hậu bị để
có hiệu quả, Nxb. Bản đồ.
9. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ ( 2012 ), Giáo trình bệnh truyền
nhiễm thú y, Nhà xuất bản đại học nông nghiệp, Hà Nội
10. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán ( 2001 ), Giáo trình thức
ăn và dinh dưỡng học gia súc – gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
11. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn
Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi, Nxb. Nông
nghiệp, Hà Nội.
53
12. John Nichl, (1992), Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Hà
Nội.
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến
ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Trang 44 - 52.
14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở
lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
15. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh
lợn cao sản. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004),
Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội..
17. Nguyễn Ngọc Phục (2004) , Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn,
Nxb lao động xã hội, Hà Nội.
18. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
(1993), “Nghiên cứu chế tạo vacxin E. coli uống phòng bệnh phân trắng lợn
con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, Trang 324 - 325.
19. Nguyễn Tất Toàn, Đỗ Tiến Duy (2013), “Một số yếu tố liên quan và đặc
điểm bệnh học của dịch tiêu chảy cấp trên lợn con theo mẹ tại một số tỉnh
miền nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XX (số 2), tr. 5 - 11.
20. Đỗ Quốc Tuấn (2005), Bài giảng sản khoa và bệnh sản khoa gia súc,
Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên.
21. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010), Tình hình bệnh viêm tử
cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị, Tạp chí KHKY
thú y tập 17.
22. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt
Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội
23. Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010), Một số bệnh trên heo và
cách điều trị tập 2, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
54
II. Tài liệu tiếng nước ngoài
24. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia”, in Pig production in Autralia. Butterworths, Sydney, pp. Hughes, P.E. (2000), “Feed sows by their backfat”, Feed international, Kotowski, K. (1990), “The efficacy of wisol-T in pig production”, Medycyna weterynaryjna, 46(10).
25. Nagy B., Fekete PZS (2005), “Enterotoxigenic Escherichia coli in
veterinary medicine”, Int J Med Microbiol,p 295, tr. 443 - 454.
26. Olanratmanee, E., AnnopKunavongkrit, Padet Tummaruk (2010), “Impact of epidemic virus infection at different periods of pregnamcy on subsequent reproductive performance in gilts and sows, Ani Rep Sci, tr. 1 - 26.
27. Pierre brouillt và Bernarrd farouilt (2003), Điều trị viêm vú lâm sàng,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
28. Smith B.B, Martineau G., Bisaillon A. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7th edition, Iowa state university press, pp. 40- 57.
29. Sun, R. Q, Cai, R. J., Song, C. X., Chen, D. K., Chen, Y. Q., Liang P. S. (2012), Outbreak of porcine epidemic diarrhea in suckling piglets China, Emerging infectious diseases, Vol 18.No. 1, tr. 161 – 163.
30. Taylor D.J. (1995), Pig diseases 6th edition, Glasgow university, U.K.Urban, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N. (1983), “The metritis mastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”, Vestnik sel,skhozyaistvennoinauki
31. Urban V.P., Schnur V.I., Grechukhin A.N. (1983), “The metritis, mastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”, Vestnik selskhozyaistvennoinauki, 6, pp. 69 – 7
III. Tài liệu internet 32.Nguyễn Ánh Tuyết (2015), Bệnh viêm khớp trên lợn con,
http://nguoichannuoi.com/benh-viem-khop-tren-heo-con-fm471.html 33. VietDVM team (2014), Dịch tiêu chảy cấp trên lợn (Porcine Epidemic Diarrhoea - PED), http://www.vietdvm.com/heo/benh-tren-heo/dich- tieu-chay-cap-tren-heo-porcine-epidemic-diarrhorea-ped.html
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHO CHUYÊN ĐỀ
1. Một số hình ảnh thuốc được sử dụng
Hình 1: Thuốc kháng sinh Gentamox AP Hình 2: Thuốc kích thích co bóp cơ trơn tử cung
Hình 3 : Thuốc Dexa Hình 4: Thuốc Analgine + C
Hình 5: Fer B12 AP Hình 6: Thuốc phòng cầu trùng
Hình 7: Thuốc điều trị tiêu chảy Hình 8: Thuốc Tylogen AP
2. Hình ảnh về công tác sản xuất
Hình 9: Đỡ lợn đẻ
Hình 10: Bấm tai cho lợn con
Hình 11: Mài nanh cho lợn con
Hình 12: Cắt đuôi cho lợn con
Hình 13:Thiến Lợn Hình 14: cho lợn ăn
Hình 15: Điều trị lợn Hình 16: lợn con viêm khớp
Hình 17: Viêm tử cung Hình 18 : tiêu chảy lợn con

