ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
TRẦN NGỌC BÍCH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NUÔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG, QUẢNG NINH” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
TRẦN NGỌC BÍCH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NUÔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC KHOÁNG SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG, QUẢNG NINH” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K46 – Thú y N02
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 – 2018
Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Từ Quang Hiển
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Để bản khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành, trước tiên, em xin
chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn
nuôi thú y cùng tập thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt và tạo
điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian
thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn
GS.TS. Từ Quang Hiển đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tận tình để
em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp và khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân tại Công ty cổ
phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh đã tạo điều
kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã
luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
cũng như thơi gian thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập tại trại, vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế,
chỉ dựa vào các kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên khóa luận
không tránh khỏi sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý
thầy cô để giúp cho bản khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội
đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2018
Sinh viên
Trần Ngọc Bích
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. i
MỤC LỤC ....................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................... v
Phần 1 MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................. 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề ........................................................ 2
1.2.1. Mục đích ................................................................................................ 2
1.2.2. Yêu cầu .................................................................................................. 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ........................................................ 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ........................................................................... 3
2.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 3
2.1.2. Điều kiện khí hậu .................................................................................. 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại .......................................................................... 4
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại ........................................................................... 4
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại .............................................................. 6
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề ............................................................ 6
2.2.1. Đối với lợn nái ...................................................................................... 6
2.2.1.1. Đặc điểm của một số giống lợn ngoại nuôi tại trại ............................ 6
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái ............................................... 7
2.2.1.3. Chăm sóc lợn nái thời gian chửa đến cai sữa ................................... 12
2.2.1.4. Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái ..................................................... 13
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con .............................................................. 20
2.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con ................................... 20
2.2.2.2. Một số bệnh thường gặp ở lợn con .................................................. 23
iii
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ..... 27
3.1. Đối tượng tiến hành ................................................................................ 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................. 27
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................. 27
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện .................................... 27
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ............................................................................ 27
3.4.2. Phương pháp theo dõi ......................................................................... 27
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................... 28
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN........................................................ 29
4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại........................................................................... 29
4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại
trại .................................................................................................................. 29
4.2.1. Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại ... 29
4.2.2. Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn con tại trại ..... 31
4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn ............................ 32
4.3.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ................... 32
4.3.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin ......... 33
4.4. Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại .......... 35
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................ 38
5.1. Kết luận .................................................................................................. 38
5.2. Đề nghị ................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 40
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của công ty từ năm 2017 đến tháng 05/2018 ..... 29
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn ........ 30
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con .................... 31
Bảng 4.4. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ............ 33
Bảng 4.5. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại ........................ 34
Bảng 4.6. Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn con ....................... 35
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn nái ........................ 36
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP: Cổ phần
Cs: Cộng sự
GS: Giáo sư
Kg: Kilogam
Nxb: Nhà xuất bản
TS: Tiến sĩ
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò rất quan
trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Hiện nay, bên
cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ
lẻ, hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy mô lớn như trang trại ngày
càng được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước
ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn
chăn nuôi tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn đã trở thành một trong
những ngành chính mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hộ chăn nuôi nói
riêng và cho xã hội nói chung. Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn
nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp
cũng có thể gây nên thiệt hại đáng kể. Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và
lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn
đến năng suất và chất lượng đàn lợn. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra
là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để
giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất.
Xuất phát từ những đòi hỏi trên, chúng em tiến hành đề tài:
“Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho đàn
lợn nuôi tại Công ty cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường,
Quảng Ninh”.
2
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích
- Nắm được tình hình chăn nuôi của trại.
- Nắm vững quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái.
- Nắm vững quy trình phòng bệnh cho lợn nái và lợn con.
- Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp trên lợn nái
và lợn con.
1.2.2. Yêu cầu
- Biết được cơ cấu đàn lợn của trại.
- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi
tại Công ty đạt hiệu quả cao.
- Thực hiện được quy trình phòng bệnh cho đàn lợn của trại.
- Thực hiện được việc chẩn đoán và điều trị được một số bệnh
thường gặp trên đàn lợn nái của trại.
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
Trại lợn nái sinh sản của công ty Cp khai thác khoáng sản Thiên
Thuận Tường nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Phường Cửa Ông có địa hình khá phức tạp,
phía Bắc là những dải núi cao. Độ cao trung bình 600m, thuộc cánh cung
bình phong Đông Triều – Móng Cái.
Phía đông giáp sông Mông Dương, huyện Vân Đồn.
Phía tây giáp phường Cẩm Phú, xã Dương Huy.
Phía nam giáp biển.
Phía bắc giáp phường Mông Dương
2.1.2. Điều kiện khí hậu
Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó, trại lợn của
Công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường cũng chịu ảnh hưởng
chung của khí hậu vùng.
- Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là
390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 120C.
- Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm là 2.567,8 mm/năm.
Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần
như tập trung vào mùa mưa, chiếm 80% - 90% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỈ chiếm khoảng 10% - 20% tổng lượng
mưa cả năm.
4
- Độ ẩm: độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình tháng
thấp nhất đạt 78% (tháng 10) và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất
đạt 88% (tháng 3).
- Bão, giông: mỗi năm tỉnh Quảng Ninh (trong đó có thành phố Cẩm
Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 - 6 cơn bão, năm nhiều có thể lên tới 9
- 10 cơn bão. Bão thường tới cấp 8 - 9, đặc biệt đã có những cơn bão mạnh
cấp 12. Tháng 7, tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh.
Các cơn giông thường xảy ra trong mùa hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày.
- Chế độ gió mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm
sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 - 4 đợt.
Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam. Tốc độ gió
trung bình năm là 3 - 3,4 m/s.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 21 người, trong đó có:
+ 01 quản lý trại là giám đốc công ty.
+ 01 trưởng trại.
+ 01 kĩ thuật hỗ trợ của thức ăn chăn nuôi De Heur.
+ 02 bảo vệ
+ 12 công nhân
+ 01 cấp dưỡng
+ 03 sinh viên thực tập.
2.1.4. Cơ sở vật chất của trại
- Trại lợn của Công ty khai thác khoảng sản Thiên Thuận Tường có
khoảng 6,5 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công
nhân, bếp ăn, vườn ổi, vườn rau và các công trình phục vụ cho công nhân
và các hoạt động khác của trại.
5
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được
lợp ngói đỏ; có một dãy nhà ở là nhà hai tầng rất khang trang và sạch sẽ.
- Khu nhà ăn xây dựng sạch sẽ. Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh,
bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn.
- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và
chăn nuôi gà. Trong đó, khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng
trại cho gần 600 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorshire, Duroc
được nhập từ nước ngoài về. Về chăn nuôi gà chủ yếu nuôi các giống gà đẻ
trứng như: gà Ai Cập, gà Lương Phượng.
- Trại được chia làm hai khu: khu điều hành và khu sản xuất. Khu
điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân.
Khu sản xuất gồm: 2 chuồng nái đẻ, 1 chuồng nái chửa, 1 chuồng đực
giống, 1 chuồng hậu bị và 1 chuồng cai sữa và 2 chuồng lợn thương phẩm.
Một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho
thuốc, phòng pha tinh, phòng sát trùng.
- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và tự động hoàn toàn.
Trang thiết bị trong chuồng hiện đại, được nhập từ Đan Mạch. Đầu mỗi
chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió.
Riêng đối với chuồng nái đẻ thì cuối chuồng còn có hệ thống xử lý mùi và
trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ.
- Hệ thống chăn nuôi có silo thức ăn tự động từ chuồng nái chửa,
chuồng nái đẻ, chuồng cai sữa đến chuồng hậu bị nên tiết kiệm được nhân
lực và mang lại hiệu quả sản xuất cao.
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống
cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác.
- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều
được đổ bê tông và có hố sát trùng.
6
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ
thống thoát nước ngầm.
- Xung quanh trại còn trồng rau, cây ăn quả, đào ao thả cá tạo môi
trường thông thoáng.
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của trại
* Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường
giao thông.
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có
tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách
nhiệm với công việc.
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện
đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
* Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa
bệnh cao.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn
tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại.
- Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi với khí hậu Việt
Nam kém, đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc đặc biệt.
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước
có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1. Đối với lợn nái
2.2.1.1. Đặc điểm của một số giống lợn ngoại nuôi tại trại
*Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], nguồn gốc của giống lợn
này được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh. Lợn Yorkshire có
lông trắng ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai
7
to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lung hơi cong, bụng gọn 4
chân dài chắc chắn, có 14 vú. Da của lợn Yorkshire có màu trắng, tuy nhiên
thỉnh thoảng có một số nốt đen.
Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng
thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 650 - 750
g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng,
tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 55% - 59%.
Lợn có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ trung bình 10 - 11
con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 - 1,2 kg/con.
* Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], giống lợn nổi tiếng
Landrace được tạo ra ở Đan Mạch năm 1895.
Giống lợn có năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức
ăn /kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng bình quân
750 g/con/ngày. Tỷ lệ nạc 59%. Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới
320 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao, nuôi con khéo.
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế.
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [27] cho biết, một
trong những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống
lợn lai tạo với nhau. Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại
Landrace và Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về
nhiều tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
*Sự thành thục về tính:
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ
thể phát triển căn bản đã hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố
(các phản xạ về sinh dục). Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng.
8
Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục
về tính là khác nhau.
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới
tuổi động dục. Mùa thu - đông lợn thành thục nhanh hơn so với mùa hè.
Điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với
mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả
tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng
14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng
trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm
chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên
hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày.
+ Mật độ nuôi nhốt: đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian
phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Cần tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt
đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu của Hughes và James
(1996) [34] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm
chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm. Ngoài
những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng
đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu lợn cái hậu bị thường xuyên tiếp
xúc với lợn đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn cái hậu bị không tiếp xúc
với lợn đực giống. Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với
lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn hậu bị động dục lần
đầu (Muirhead M., Alexander T., 2010) [42].
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác
nhau. Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], tuổi thành thục tính dục ở
lợn cái nội (Ỉ, Móng Cái) vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các
giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire ) tuổi thành thục về tính muộn hơn từ
6 - 7 tháng tuổi.
9
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục
của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ. Do trứng rụng có tính chu kỳ
nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [8].
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên. Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng. Noãn
bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin dưới tác
dụng của thần kinh, hormone, áp suất. Lợn thường rụng 20 - 30 tế bào
trứng 1 lần.
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra. Màng trên bị xẹp
xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng. Tạo nên những nếp nhăn
trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng. Xoang
chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra. Dịch và máu đọng
lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng. Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn
sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số
lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh. Trong các tế bào hạt
có chứa lipoit và sắc tố màu vàng. Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy
tế bào hạt (gọi là tế bào lutein). Sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã
hình thành nên thể vàng. Thể vàng tiết ra progesterone. Thời gian tồn tại
của thể vàng từ 3 - 15 ngày. Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh
chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần. Nếu gia súc có thai, nó tồn tại
trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ.
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là
do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng. Do sự thay đổi hàm lượng các
kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm
dịch. Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra.
10
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở
trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường,
đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng,
sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh. Gặp con đực không kháng
cự, tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi
về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém
ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ
nhất là lúc tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn
giảm đi rõ rệt.
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [26], chu kỳ động dục của
gia súc thường chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn
bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số
lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử
cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng
phấn chưa cao.
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp
mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều
lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.
- Giai đoạn động dục:
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], giai đoạn này dài hay ngắn
tùy theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3 - 4 ngày, lợn ngoại và lợn
lai thường kéo dài 4 - 5 ngày.
11
Phạm Khánh Từ và cs. (2014) [29] cho biết, thời gian của giai đoạn
này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ
quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng
rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính
hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống
giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn
nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần
đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong
lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống, sẵn sàng
chịu đực.
- Giai đoạn sau động dục:
Lúc này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo
lại, đuôi cụp không cho con đực phối, ăn uống tốt hơn.
- Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất trong cả chu kỳ sinh dục, con vật không có
biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho
chu kỳ động dục tiếp theo.
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng,
hợp tử bắt đầuc di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ,
hình thành bào thai. Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian
có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh,
cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm nhẹ ở 3 tuần đầu, sau đó, duy trì ổn
định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục. Trước khi đẻ 1 - 2
ngày, Progesterone giảm đột ngột. Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy
trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần,
12
đế n khi đẻ thì tăng cao nhất. Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là
114 ngày (Jose Bento S. và cs., 2013) [37].
2.2.1.3. Chăm sóc lợn nái thời gian chửa đến cai sữa
*Quy trình chăm sóc nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi ở chuồng nái chửa 1 và chuồng nái chửa 2.
Hàng ngày vào chuồng kiểm tra lợn để phát hiện: lợn phối giống
không đạt, lợn bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để
lợn nằm đè lợn phân, tra cám cho lợn, rửa máng, xịt gầm, phun thuốc sát
trùng hàng ngày, chở phân ra khu xử lý phân. Cho lợn nái chửa ăn các loại
thức ăn GF07,GF08 với khẩu phần ăn như sau:
- Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn GF08 với
tiêu chuẩn 1,8 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn GF07 với
tiêu chuẩn 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
- Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn GF07 với tiêu chuẩn 2,2
- 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
* Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10
ngày. Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, cần chuẩn bị chuồng đẻ. Tẩy rửa
vệ sinh, khừ trùng toàn bộ chuồng và để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi
chuyển lợn vào. Chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát, có đầy
đủ ánh sáng. Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu
mỗi ô chuồng và mỗi nái chửa có một phiếu theo dõi về tình hình chửa được
kẹp vào bảng. Lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:
- Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn GF07 với tiêu chuẩn 2,2 kg/ngày/con,
cho ăn 2 lần trong ngày.
13
- Đối với lợn nái từ lứa 2 đến lứa 4, ăn thức ăn GF07 với tiêu chuẩn
3,5 kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Đối với lợn nái từ lứa 5 trở đi, ăn thức ăn GF07 với tiêu chuẩn 5
kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày.
- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn
xuống 0,5 kg/con/bữa.
- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 6
kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, 10 giờ, chiều lúc 17 giờ, mỗi
bữa tăng lên 0,5kg.
Chuẩn bị ô úm lợn con: ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có
tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới
sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa
hồi phục. Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con,
đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều
kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho
lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của
lợn con. Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn
con. Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m. Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử
trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
2.2.1.4. Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái
* Bệnh sót nhau
- Nguyên nhân:
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], do đẻ nhiều lứa, hoặc
nhiều con/lứa nên tử cung co bóp yếu không đẩy thai và nhau ra được. Do
viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung. Do nhau
chưa ra hết, người đỡ đã kéo đứt còn một ít sót lại trong tử cung. Do lợn
con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau.
14
- Triệu chứng: sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không ra
hết là bị sót nhau. Thấy lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40
- 41 độ C trong vòng 1 - 2 ngày, cắn con, không cho con bú, niêm dịch
chảy ra có màu đục, lẫn máu.
Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta
thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và
số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không.
* Hiện tượng đẻ khó:
Theo Lê Minh và cs. (2017) [18], hiện tượng đẻ khó xuất hiện dưới
nhiều hình thức và do nhiều nguyên nhân gây ra.
Trường hợp đẻ khó do nguyên nhân từ cơ thể mẹ có thể liên quan đến
một số vấn đề sau: do tử cung co bóp và sức rặn đẻ của mẹ yếu; hoặc các phần
mềm như cổ tử cung, âm đạo, âm hộ giãn nở không bình thường; hoặc hệ
thống khung xoang chậu hẹp hay biến dạng; hoặc tử cung bị xoắn, hay bị vặn.
Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của
gia súc mẹ vừa yếu vừa ngắn. Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:
- Cơ co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra
trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát.
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ
mạnh nhưng không có kết quả.
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di
chuyển được. Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường,
quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và
thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ.
Cần can thiệp để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [40].
15
Trường hợp gia súc đẻ khó có nguyên nhân do bào thai, đó là: thai
quá to không phù hợp với xoang chậu; hoặc chiều, hướng, tư thế của thai
không bình thường; hoặc thai dị hình hay quái thai.
* Bệnh viêm tử cung:
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [9], thì viêm tử cung là một quá
trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm
hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh
sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở
gia súc cái. Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%,
trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm
tử cung.
Qua khảo sát của Trần Ngọc Bích và cs. (2016) [3], về tình hình
viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của
một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con
tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%.
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái. Nếu không
được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc
cái (Lê Thị Tài và cs., 2000) [22].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs.(2002) [15], Lê Minh và cs. (2017) [18],
Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung ở lợn
nái thường do:
- Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối trực tiếp hoặc gia súc đực bị viêm
cơ quan sinh dục.
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ
hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình
thường...
16
- Trong trường hợp đẻ khó, nuôi dưỡng kém thời kỳ hồi phục tử cung
sau khi đẻ không đảm bảo vệ sinh, sát nhau, giãn cổ tử cung, âm đạo tích
chất bẩn, tích nước tiểu, những thao tác kỹ thuật lúc đỡ đẻ không đảm bảo
vệ sinh gây sát niêm mạc tử cung.
- Kế phát do sót nhau hoặc từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo,
tiền đình, bàng quang, các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao... thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng
viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%,
mùa thu 43,70% (Nguyễn Thị Hồng Minh, 2014) [17].
Kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Thanh (2007) [24], tình hình mắc
bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc
Bộ cho thấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động
từ 36,57% tới 61,07%. Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến
lứa thứ 8.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [9], Trần Thị Dân (2004) [5], khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy
thai, bào tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất
sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục
trở lại.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức
năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di
chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như:
Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng). Các độc tố của vi khuẩn, vi
trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có
thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết
non (Lê Văn Năm, 1999) [19].
17
Triệu chứng:
Theo Đặng Đình Tín (1986) [28], Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [9],
cho biết triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng
hoặc xám và có mùi tanh. Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp
tử cung giảm nhẹ.
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu
nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm. Con vật rất đau kèm lợn triệu chứng viêm
phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn.
Điều trị bệnh:
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [10], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều
trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7
ngày. Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ. Đây
là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao.
Đối với lợn nái sau khi đẻ, sảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung
bằng dung dịch iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong
2 ngày đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ.
Sau khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml
nước sinh lý) hay 4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong
3 ngày liên tiếp vào tử cung. Đồng thời, tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2
ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra
ngoài. Tiêm kháng sinh phổ rộng chống viêm như: terramycin LA,
amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ. Ngoài ra, tiêm
các loại thuốc bổ trợ như: urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc
hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng
viêm: Ketovet,…
18
Theo Smith và cs. (1995) [38], Popkov (1999) [21], chữa bệnh viêm
tử cung bằng cách sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ
tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: streptomycin
0,25 g, penicillin 500.000 UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml + VTM C.
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch
nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000.
* Bệnh viêm vú
Nguyên nhân:
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi
khuẩn, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú. Do
kế phát từ môt số bệnh: bại liệt sau khi đẻ, sốt sữa, hóa mủ...
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm
cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và
Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs., 2007) [32].
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho
lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc
sữa. Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt
cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E. coli, streptococus, staphylococus,
klebsiella… (Duy Hùng, 2011)[41].
+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú
mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú.
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm.
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn
khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng.
Triệu chứng:
Tại vú bị viêm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn,
không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn con lẫn máu; sau
19
1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C. Tùy
số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau. Nếu do nhiễm
trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm.
Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi
bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn
con bị tiêu chảy (White, 2013) [39].
Các nghiên cứu của Trekaxova A. V. và cs. (1983) [31] về chữa trị
bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết
hợp. Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho
kết quả tốt.
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [14], trước khi đẻ cần lau vú, xoa
vú, tắm cho nái. Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con. Tiêm
kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm
liên tục trong 3 ngày.
Dùng Novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và
phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày.
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin…
liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2
lần/ngày trong 3 - 5 ngày.
Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng
ngày bằng dung dịch sát trùng. Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên
cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn. Tăng
cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất
đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa. Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho
lợn con bú ở những vùng bị viêm. Dùng các phương pháp nhân tạo như
chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011) [41].
20
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
* Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng
thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong
cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống và
tăng trọng lượng theo tuổi giảm (Pensaet MB de Bouck P. A., 1978) [36].
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [23], lợn con giai đoạn bú sữa có
khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh. So với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng
đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự
giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt
đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời
gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn
khủng hoảng của lợn con. Lợn con sinh trưởng nhanh nên khả năng tích lũy
các chất dinh dưỡng rất mạnh. Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này
bằng cách tập cho lợn con ăn sớm.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa:
Cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về
cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa.
Trọng lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột
non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần,
chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần. Lúc đầu, trọng lượng dạ dày chỉ là
6 - 8g và chứa được 35 - 50 g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và
21
đến lúc lợn con dạt 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 - 1.000 g
sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [16].
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl
trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự
nhiên. Nhờ vậy, nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong
sữa đầu của lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân
giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh
chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày
không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm
có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm
hoàn thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ
sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng
tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác
với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Enzyme trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên
lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có
enzyme, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn
các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn
nữa, dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự
tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho
việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con.
* Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó, việc điều tiết thân nhiệt và
năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).
22
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh
dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó, sản lượng sữa của lợn mẹ tăng
dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng. Đây là
mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa
của lợn mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu
dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc
bệnh. Vì vậy, nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng
khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa.
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen
dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt
khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối
cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con
chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng
tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào
cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt
theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây
là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [22], lợn con mới đẻ ra trong cơ
thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn
con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con
là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều
hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
23
Trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao. Những ngày
đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng
- globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%). Nó có tác dụng tạo sức đề
kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của
lợn con. Lợn con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào. Quá
trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời
gian. Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24
giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitrypsin làm mất
hoạt lực của men trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột
của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng
- globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu. Sau 24 giờ,
lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào
vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng
- globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt
khoảng 24 mg/100 ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có
khoảng 65 mg/100 ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm
càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới
có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu
thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
2.2.2.2. Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Tiêu chảy
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [25], tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng
của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh,
nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa,
ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay
đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong
24
khẩu phần ăn. Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là
bệnh đặc thù (Archie H., 2000) [1].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng (2013) [7], ở các tháng có
nhiệt độ thấp và ẩm độ cao, tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy cao (26,98% - 38,18%)
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đức Hạnh (2013) [12], lợn con ở
1 số tỉnh phía bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và
5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn
con giai đoạn từ 21 - 40 ngày (30,97% và 4,93%) và giảm ở giai đoạn 41 -
46 ngày.
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm
thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp
đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, chưa kịp
thích nghi với điều kiện sống (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [6].
Theo Sa Đình Chiến và Cù Hữu Phú (2016) [4], phương thức chăn
nuôi truyền thống có tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy là 31,1% và tỷ lệ chết chiếm
23,4%. Phương thức chăn nuôi công nghiệp tỷ lệ mắc là 33,8% và tỷ lệ
chết chiếm 21,5%.
Nguyễn Anh Tuấn và cs. (2013) [30] đã nghiên cứu và cho biết: vi
khuẩn E. coli và Salmonella là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp.
Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E. coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 -
14 ngày tuổi (Nagy B, Fekete PZS, 2005) [35].
Glawisschning E. và Bacher H. (1992) [33] cho biết, nguyên nhân
gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn
thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt.
25
Triệu chứng:
Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng. Hậu môn
ướt đỏ, lợn sút cân nhanh chóng. Dáng đi siêu vẹo. Người lợn con bị bẩn
do dính phân. Vú lợn mẹ dính phân lợn con.
* Viêm phổi
Nguyên nhân: do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô
hấp. Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời
tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm. Bệnh thường lây lan do nhốt
chung với con nhiễm bệnh.
Triệu chứng: lợn con gầy còm, lông xù, thở thể bụng, lợn không
tranh bú được nên ngày càng gầy yếu.
Đến nay, chưa có phương pháp gì đặc biệt thông dụng để chẩn đoán
bệnh viêm phổi truyền nhiễm khi lợn đang sống. Bởi vậy, cần dựa vào kết
quả nghiên cứu dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, kết quả mổ khám và chẩn
đoán cơ sở chuyên ngành (Lê Văn Năm, 2013) [20].
* Viêm khớp
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+),
Streptococcus suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh
này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi. Vi khuẩn xâm nhập qua
đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết
thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến.Ở các tổ
chức cư trú, chúng sống và nhân lên trong tế bào monocoyte, rồi di chuyển
vào xoang dịch não tủy gây nên vên viêm màng não, hoặc có thể thông qua
con đường nhiễm trùng huyết để xâm nhập vào màng não, khớp xương và
các mô khác (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2012) [13].
Triệu chứng: lợn con bị viêm khớp đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi,
khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy
ra lúc 2 - 5 tuần tuổi. Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp
26
bàn chân. Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn,
chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh
Tuyết, 2015) [43].
Trương Quang Khải và cs. (2012) [11] đã xác định khả năng mẫn
cảm với kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S. suis phân lập được ở lợn mắc
bệnh viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho kết quả các chủng vi khuẩn mẫn
cảm cao với ceftiofur (90,2%), florfenicol (88,0%), amoxillin (88,0%) …
27
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1. Đối tượng tiến hành
- Đàn lợn nuôi tại Công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận
Tường, Quảng Ninh.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường,
Quảng Ninh.
- Thời gian: Từ ngày 18/11/2017 đến ngày 24/05/2018.
3.3. Nội dung thực hiện
- Điều tra cơ cấu đàn lợn của Công ty.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại
Công ty.
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn.
- Phát hiện và điều trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái.
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng Công ty.
- Số lượng lợn được chẩn đoán và điều trị bệnh.
- Tỷ lệ khỏi:
số con khỏi bệnh Tỷ lệ khỏi (%) = x 100 số con điều trị
3.4.2. Phương pháp theo dõi
* Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại
Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, chúng em tiến hành thu thập
thông tin từ trại, kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi của bản thân.
28
* Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn
nái và lợn con nuôi tại trại
Chúng em sử dụng quy trình đang được áp dụng cho đàn lợn nuôi tại
trại và theo dõi, đánh giá hiệu quả.
* Phương pháp xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu
quả quy trình phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con nuôi tại trại
Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái, lợn con. Chúng
em tiến hành theo dõi hàng ngày thông qua phương pháp chẩn đoán lâm
sàng. Bằng mắt thường đánh giá qua biểu hiện lâm sàng như trạng thái cơ
thể, bộ phận sinh dục ngoài, các dịch rỉ viêm (màu sắc, mùi...), tình trạng
sức khỏe lợn con, khả năng vận động,..
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 2007.
29
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại
Hiện nay, theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam Công ty
Thiên Thuận Tường được đánh giá vào mức khá, lợn nái của trại có số lứa
đẻ trung bình/năm là 2,45 - 2,5, số con sơ sinh là 11,23 con/lứa, số con cai
sữa: 9,86 con/lứa.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là
26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn khác của công ty.
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của công ty từ năm 2017 đến tháng
05/2018
Số lượng (con) STT Loại lợn 01-05/2018 2017
1 Lợn đực giống 34 22
2 Lợn nái hậu bị 296 186
3 Lợn nái sinh sản 492 365
4 Lợn con 10.994 5.443
Qua bảng 4.1 ta có thể thấy, tình hình chăn nuôi của trại năm 2018
giảm so với năm 2017 do giá lợn thịt giảm đã kéo theo giá lợn con giảm,
trại phải giảm số đầu lợn nái để tránh thua lỗ.
4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn
nuôi tại trại
4.2.1. Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
Một trong những quy trình không thể thiếu của bất kỳ trại chăn nuôi là
chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, trong suốt quá trình thực tập tại trại, em đã
30
thường xuyên được tham gia các công việc về nuôi dưỡng, chăm sóc cho
đàn lợn tại trại. Em đã được học hỏi và mở mang kiến thức rất nhiều về cách
cho ăn, thức ăn nào dành cho những loại lợn nào, các thao tác kỹ thuật để
chăm sóc lợn mẹ tốt... Kết quả thực hiện cụ thể được trình bày ở bảng 4.2.
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn
Khối lượng Tỷ lệ hoàn Số lợn công việc thực thành so với STT Công việc phải thực hiện hiện được nhiệm vụ được (số lần) (số lần) giao (%)
1 Cho lợn ăn hàng ngày 130 100 130
2 Tắm chải cho lợn mẹ 60 100 60
Trong quy trình chăn nuôi, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng là yếu tố
ảnh hưởng chủ yếu đến sức khỏe và khả năng sinh sản của lợn nái (đặc biệt
là chất lượng và sản lượng sữa). Vì vậy, cần phải cho lợn nái và lợn con ăn
hàng ngày đúng giờ và đúng tiêu chuẩn, đủ dinh dưỡng theo quy định. Lợn
nái đẻ và nuôi con được cho ăn 3 lần/ngày (bữa sáng, chiều và đêm), lợn
nái chửa ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều.
Việc tắm chải cho lợn nái chửa là rất cần thiết, có tác dụng làm sạch
da, tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, phòng chống bệnh ký sinh trùng
ngoài da. Việc tắm cho lợn chửa cần thực hiện hàng ngày (1 lần/ ngày), đặc
biệt trong mùa hè nóng bức. Trong 2 tháng của đợt thực tập em đã làm được
60 lần (đạt 33,33%) thấp hơn so với việc cho lợn ăn hàng ngày là 130 lần.
Ngoài ra, trong quá trình thực tập, em còn được tham gia vào công
tác xuất lợn con của trại. Thường thì lợn con tại trại sau 21 ngày sẽ được
tách mẹ và nuôi thêm 2 - 3 ngày nữa rồi xuất bán. Lợn con thường được
xuất vào thứ 7 hoặc chủ nhật hàng tuần và thường xuất vào buổi chiều.
31
Trước khi xuất lợn kỹ sư của trại sẽ đi đánh dấu những con lợn nào khỏe
mạnh, đủ tiêu chuẩn xuất bán bằng xanh methylen để thuận tiện cho công
nhân lúc bắt. Công nhân sẽ bắt những con lợn nào được đánh dấu thả ra
ngoài ô chuồng, sau đó tất cả lợn con đủ tiêu chuẩn sẽ được đuổi chạy theo
đường hành lang của khu chuồng nuôi và đi ra khu vực xuất lợn ở bên
ngoài cách xa khu chuồng nuôi. Ở đây lợn con được cân, ghi chép số lượng
và đưa lên xe tải để vận chuyển đi. Việc xuất bán lợn con được thực hiện
trung bình 2 lần/tuần, như vậy trong 6 tháng thực tập tại trại có 48 lần xuất
lợn con và em tham gia được 21 lần (đạt 43,75%).
4.2.2. Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn con tại trại
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, chúng em vừa được tham gia
chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn vừa được học và làm một số các thao tác
trên lợn con như đỡ lợn đẻ, mài nanh, bấm số tai, thiến lợn đực và mổ
hecni. Kết quả được trình bày ở bảng 4.3.
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn con
Kết quả (an toàn) Số lượng STT Công việc Thực hiện Tỷ lệ (con) (con) (%)
1 Đỡ lợn mẹ đẻ 65 65 100
3 Mài nanh 730 730 100
4 Bấm số tai 730 730 100
5 Thiến lợn đực 234 225 95,15
6 Mổ hecni 23 20 86,95
Bảng 4.3 cho thấy, trong suốt thời gian thực tập, em đã thực hiện
được các công việc như sau.
Em đã đỡ đẻ cho 65 lợn mẹ sinh con ra đời an toàn và đúng kỹ thuật.
32
Vì lợn con sau khi sinh cần phải mài nanh luôn nếu không trong quá
trình lợn con bú sữa sẽ làm tổn thương vú lợn mẹ cũng như tránh việc lợn
con cắn nhau tranh bú. Em cũng đã thực hiện mài nanh cho 730 lợn con
được em đỡ đẻ, đạt tỷ lệ an toàn 100%.
Bấm tai sớm để vết thương nhanh liền, ít chảy máu và giảm stress
cho lợn con nên công việc bấm tai cũng hết sức quan trọng. Em đã tham gia
bấm tai cho 100% số lợn được đỡ đẻ và an toàn 100%.
Số lượng lợn con bị hecni tại trại thấp. Trong 2 tháng cuả đợt thực
tập, em đã theo dõi và phát hiện được 23 con lợn con bị hecni và tiến hành
mổ được 20 con (đạt tỷ lệ 86,95 %). Nguyên nhân dẫn đến lợn con bị hecni
chủ yếu là do di truyền khi đẻ ra lợn con đã bị, một phần là do trong quá
trình thao tác kỹ thuật thiến lợn không đúng làm sa ruột bẹn.
Qua những công việc trên, em học hỏi được thêm rất nhiều kinh
nghiệm trong chăm sóc lợn con, đặc biệt là có thể nâng cao tay nghề về các
thao tác kỹ thuật trên lợn con, đồng thời giúp em mạnh dạn hơn, tự tin hơn
vào khả năng của mình, hoàn thành tốt công việc được giao
4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn
4.3.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại
Trong các biện pháp phòng chống dịch bệnh, việc vệ sinh, sát trùng
nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng trại và tiêu diệt mầm bệnh là một trong
những biện pháp hữu hiệu và được thực hiện ở tất cả các trại chăn nuôi.
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng.
Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng
và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao
hơn.Vì vậy, để góp phần bảo vệ đàn lợn, trong 6 tháng thực tập, chúng em
đã thường xuyên tiến hành vệ sinh, sát trùng chuồng trại, khử trùng dụng
cụ chăn nuôi và tắm sát trùng trước và sau khi vào khu chăn nuôi.
33
Kết quả được trình bày cụ thể ở bảng 4.4.
Bảng 4.4. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại
Kết quả so với Số STT Công việc Đơn vị tính nhiệm vụ được giao lượng (%)
Vệ sinh chuồng trại hàng 1 Lượt/ngày 2 100 ngày
Sát trùng định kỳ xung 2 Lượt/tuần 2 100 quanh chuồng trại
Phun thuốc sát trùng trong 3 Lượt/ngày 1 100 chuồng
4 Quét và rắc vôi đường đi Lượt/ngày 2 100
5 Tắm sát trùng Lượt/ngày 2 100
Bảng 4.4 cho thấy, trong 6 tháng thực tập, chúng em luôn nỗ lực
hoàn thành tốt tất cả các công việc do quản lý, kỹ sư và các cán bộ kỹ thuật
của trang trại giao cho. Vệ sinh sát trùng được xem là một khâu hết sức
quan trọng, nhận thức được điều này, chúng em đã cố gắng thực hiện, mặc
dù đây cũng là một trong những công việc vất vả, với một khối lượng công
việc lớn như vậy mà trước khi vào trang trại, chúng em chưa từng phải thực
hiện. Qua đó, em đã biết được cách thực hiện việc vệ sinh, sát trùng trong
chăn nuôi như thế nào cho hợp lý nhằm hạn chế được dịch bệnh cũng như
nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.
4.3.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin
Kết quả của việc áp dụng quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc
xin cho đàn lợn con tại trại được trình bày qua bảng 4.5.
34
Bảng 4.5. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại
Vắc xin/ Số lợn Tuần tuổi Phòng Đường Liều lượng Thuốc/chế con thực phòng bệnh Đưa thuốc (ml/con) phẩm hiện được
2 - 3 ngày Thiếu sắt Fe + B12 Tiêm 730 1
Totrazil, 3 - 6 ngày Cầu trùng Uống 730 1 Diacoxin 5%
10 – 14 Viêm phổi Myco-pac Tiêm bắp 730 1 ngày
16 – 18 Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 730 2 ngày
Qua bảng 4.5 có thể thấy được kết quả tổng quát về việc phòng và trị
bệnh cho đàn lợn con tại công ty bằng thuốc và vắc xin. Lợn con sau 2 - 3
ngày tuổi được tiêm Fe + B12 phòng bệnh thiếu sắt, thuốc phòng trị cầu
trùng và nâng cao sức đề kháng cho lợn con, 100% lợn con sau khi sinh sẽ
được tiêm. Trong 6 tháng thực tập, em đã tiêm Fe + B12 cho 730 lợn con
được 3 ngày tuổi và đạt an toàn 100%, uống thuốc phòng trị bệnh cầu trùng
cho 730 lợn con và an toàn 100%.
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được
thực hiện thường xuyên, tích cực và bắt buộc. Tiêm phòng cho đàn lợn
nhằm tạo ra trong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động, chống lại sự
xâm nhập của vi khuẩn, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể vật nuôi.
Trong 2 tháng của đợt thực tập tại công ty, em đã được tham gia vào quy
trình phòng bệnh cho đàn lợn con.
35
Ngoài ra, tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả lợn cho 730 lợn con từ 16
- 18 ngày tuổi và tiêm vắc xin phòng bệnh viêm phổi cho 730 lợn con từ 10
- 14 ngày tuổi, đạt an toàn 100%.
4.4. Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại
Trong thời gian 6 tháng thực tập tại trại, em đã được tham gia vào
công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn cùng với các anh kỹ sư
công ty. Qua đó, em đã được trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm về chẩn
đoán một số bệnh thường gặp, nguyên nhân gây ra bệnh và cách khắc phục,
điều trị bệnh. Sau đây là kết quả của công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
em đã thực hiện trên đàn lợn nuôi công ty.
Bảng 4.6. Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn con
STT Tên bệnh
Phác đồ điều trị
Số lợn mắc và điều trị (con)
Số lợn điều trị khỏi (con)
Tỷ lệ khỏi (%)
Tylogenta: 1,5ml/con.
1 Viêm phổi
245
Tiêm bắp, ngày/lần.
237
96,73
Điều trị từ 3 - 6 ngày
Tiêm Mycocin-100:
2
Tiêu chảy
175
1ml/con/ngày, Tiêm bắp
170
97,14
Điều trị 3 - 5 ngày
Tiêm Amlistin:
3 Viêm khớp
27
1ml/con/ngày Tiêm bắp.
23
85,19
Điều trị trong 3 - 5 ngày
Kết quả bảng 4.6 cho thấy:
Lợn con ở trại mắc bệnh viêm phổi là cao nhất (245 con) và tỷ lệ
điều trị khỏi bệnh là 96,73%, nguyên nhân là do lợn con mới đẻ ra sức đề
kháng yếu dễ chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh bên ngoài, hệ hô hấp
chưa hoàn thiện nên khả năng khỏi bệnh không cao, đặc biệt vào những ngày
36
mùa đông nhiệt độ xuống thấp cần phải có ô úm và bóng điện sưởi cho lợn
con. Cách khắc phục tốt nhất để hạn chế lợn con mắc bệnh viêm phổi là cho
lợn con bú sữa đầu ngay sau khi đẻ và giữ ấm cơ thể cho lợn con.
Trong 2 tháng của đợt thực tập, em cũng đã tham gia điều trị cho 175
lợn con bị tiêu chảy, điều trị khỏi 170 con, hiệu quả điều trị đạt 97,14%.
Thuốc điều trị tiêu chảy được dùng nhiều tại trại là mycocin-100.
Ngoài ra, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của kỹ sư của trại, em
đã trực tiếp điều trị cho 27 con bị viêm khớp, trong đó điều trị khỏi 23con,
đạt tỷ lệ 85,19%.
Qua việc tham gia chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại
trại, em đã thấy tự tin hơn và có thêm nhiều kinh nghiệm hữu ích cho công
việc của em sau khi ra trường.
Ngoài việc, chẩn đoán và điều trị cho đàn lợn con, em còn được
tham gia thực hiện đối với đàn lợn nái.
Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái được trình bày ở
bảng 4.7.
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn nái
STT Tên bệnh
Phác đồ điều trị
Số lợn mắc (số con điều trị) (con)
Số lợn điều trị khỏi (con)
Tỷ lệ khỏi (%)
Oxytocin; cồn Iod 10% làm
Bệnh viêm
sạch tử cung, đồng thời tiêm
1
56
53
94,64
tử cung
Amoxinject LA
10ml/con/ngày
Chườm nước đá lạnh, tiêm
Bệnh viêm
2
7
Analgin kết hợp vớitiêm
7
100
vú
Vetrimoxin LA
Hiện tượng
Lutalyse 2 ml/con;
3
4
4
100
đẻ khó
Oxytocin
37
Kết quả bảng 4.7 cho thấy, số lợn mắc bệnh viêm tử cung là cao nhất
(56con). Nguyên nhân do đàn lợn nái thuộc các dòng nái giống ngoại có
năng suất sinh sản cao, nhưng lại chưa thích nghi cao độ với điều kiện của
nước ta, thời tiết không thuận lợi, nuôi dưỡng, chăm sóc chưa thật tốt. Mặt
khác, do trong quá trình phối giống cho lợn nái bằng phương pháp thụ tinh
nhân tạo không đúng kỹ thuật đã làm sây sát niêm mạc tử cung, tạo điều
kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển và gây bệnh. Do quá trình can thiệp
khi lợn đẻ khó phải sử dụng thủ thuật để móc lấy thai làm cho vi khuẩn từ
bên ngoài dễ dàng xâm nhập vào gây viêm.
Theo kết quả bảng trên, trong số 7 nái bị viêm vú, theo em thấy nguyên
nhân gây nên bệnh này có thể do kế phát từ các ca lợn nái mắc bệnh viêm tử
cung ở thể nặng, vi khuẩn theo máu đến vú gây viêm vú, ngoài ra còn có thể
do trong quá trình mài nanh ở lợn con sơ sinh chưa tốt, trong quá trình lợn con
bú sữa gây tổn thương đầu núm vú lợn mẹ. Em đã tham gia và điều trị khỏi 7
lợn nái, đạt 100%. Biện pháp điều trị được áp dụng là: phong bế giảm đau bầu
vú bằng cách chườm nước đá lạnh (cục bộ), tiêm analgin kết hợp với tiêm
vetrimoxin LA (toàn thân). Kết quả điều trị như trên là do có trường hợp lợn
nái bị viêm vú quá lâu hoặc nái nhiều lứa nên điều trị không khỏi.
Số lợn nái xảy ra hiện tượng đẻ khó là 4 con cũng khá cao, chúng em
đã can thiệp thành công 4 ca đẻ khó, đạt 100%. Biện pháp can thiệp em đã
áp dụng là: khi phát hiện có những biểu hiện chuẩn bị cho việc sinh sản,
thường dùng thuốc lutalyse 2 ml/con và theo dõi trong khoảng 3 - 4 giờ mà
không thấy lợn con ra, lúc đó chúng em tiến hành bằng phương pháp ngoại
khoa là dùng tay móc thai ra. Sau khi móc thai ra ngoài hết, tiêm oxytocin
có thành phần oxytetracylin có tác dụng chống viêm nhiễm sau đẻ. Số ca
can thiệp an toàn đạt 100%. Do thời gian đầu em chưa thành thạo công
việc, kỹ thuật can thiệp chưa tốt, một số trường hợp do thai đã chết ngạt từ
trước khi lợn mẹ có biểu hiện đẻ nên không can thiệp được, hoặc thai quá
to và không lấy ra được khỏi tử cung của con mẹ.
38
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận
Về hiệu quả chăn nuôi của Công ty:
Hiệu quả chăn nuôi của Công ty khá tốt. Trung bình lợn nái của trại
sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm, số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con
cai sữa: 9,86 con/đàn.
Những chuyên môn đã được học tại Công ty:
Qua 6 tháng thực tập tại trại, em đã được học hỏi và được chỉ bảo rất
nhiều điều về kiến thức thực tế cũng như các thao tác kỹ thuật trong chăm
sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn. Những công việc em đã
được học và được làm trực tiếp tại Công ty như:
Đỡ lợn nái đẻ được 65 con.
Mài nanh,bấm số tai, cắt đuôi, tiêm chế phẩm Fe - Dextran - B12
10% cho lợn con được 730 con.
Thiến lợn đực được 225 con, mổ hecni cho lợn đực được 20 con.
Tham gia vào công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn con.
Tham gia vào quy trình vệ sinh sát trùng , chăm sóc, nuôi dưỡng đàn
lợn con và lợn mẹ của trại (cho lợn ăn, tắm chải cho lợn mẹ, dọn vệ sinh
chuồng…) đạt hiệu quả cao và hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao.
Tham gia vào công tác chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn con và
đàn lợn nái đạt kết quả cũng khá cao.
5.2. Đề nghị
Công ty cần thực hiện tốt hơn nữa quy trình vệ sinh phòng bệnh và
quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái để giảm tỷ lệ lợn nái mắc các
bệnh về sinh sản.
39
Thực hiện tốt công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ, có thao tác đỡ
đẻ khoa học để giảm bớt tỷ lệ mắc các bệnh về đường sinh sản ở lợn nái.
Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y tiếp tục cho các
sinh viên khóa sau về các trại thực tập để có được nhiều kiến thức thực tế
và nâng cao tay nghề trước khi ra trường.
40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Archie Hunter (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh,
Nguyễn Đức Tâm dịch), Nxb Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 204 - 207.
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thiṭ,
Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, tr. 29 - 35.
3. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016),
“Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh
và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ
thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56.
4. Sa Đình Chiến, Cù Hữu Phú (2016), “Một số đặc điểm bệnh tiêu chảy
của lợn con dưới 2 tháng tuổi ở Sơn La”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật
Thú y, tập XXIII (số 2), tr. 40 - 44.
5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản lợn nái và sinh lý lợn con, Nxb Nông
nghiệp, TP Hồ Chí Minh.
6. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí
đường ruột, vai trò của e.coli trong hội chứng têu chảy của lợn con ,
các phác đồ điều trị, Luận án tiến sỹ Nông Nghiệp,Hà Nội.
7. Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn
E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và
biện pháp phòng trị, Luận án thạc sỹ khoa học Nông nghiệp.
8. Khuất Văn Dũng (2005), Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối
loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một
vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái nuôi tại nông trường
Hữu Nghị Việt Nam - Mông Cổ, Ba Vì, Hà Tây, Luận văn thạc sĩ
Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
41
9. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo
trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
10. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn
nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ.
11. Trương Quang Khải, Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Quang Tuyên, Cù
Hữu Phú, Lê Văn Dương (2012), “ Kết quả phân lập và xác định một
số dặc tính sinh học của các chủng Streptococcus suis và Pasteurella
multocida ở lợn mắc bệnh viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí
KHKT thú y, 19 (4), tr. 42 - 46.
12. Trần Đức Hạnh (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia
coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn nái tại
3 tình phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp.
13. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Bệnh truyền nhiễm thú y,
Nxb Nông nghiệp, tr. 398 - 407.
14. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
15. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), “Bệnh phổ
biến ở lợn và biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Công nghệ
Chăn nuôi tập 4 – 52.
16. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu
lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng
MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội.
18. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn,
La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
19. Lê Văn Năm (1999), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.
42
20. Lê Văn Năm (2013), Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn, Nxb Lao
động - Xã hội, Nông nghiệp.
21. Popkov (1999), “Điều tri viêṃ tử cung”, Tạp chí Khoa học Thú y, tập
XII (số5), tr. 9 - 15.
22. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
(2004), Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
23. Lê Thị Tài, Đoàn Thị Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và
trị một số bệnh thường gặp trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
24. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử
cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc
Bộ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV (số 3), tr. 38 - 43.
25. Phạm Ngọc Thạch (1996), Một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng ở gia
súc, viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông
nghiệp, Hà Nội, tr. 20 – 32.
26. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 196.
27. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Thị Xuân (2016), N), “Năng suất sinh sản
của hai tổ hợp lợn nái giữa lợn nái Landrace phối hp với đực giống
Yorkshire và lợn nái Yorkshilre phối hợp với đực giống Landrace”,
Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, số 65, tr. 54 – 61.
28. Đặng Đình Tín (1986),Sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Nxb Nông
nghiệp Hà Nội.
29. Phạm Khánh Từ, Hoàng Nghĩa Duyệt, Dư Thanh Hằng, Đào Thị
Phượng, Nguyễn Văn Chào, Nguyễn Thị Lộc (2014), “Khả năng sinh
trưởng và sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi ở vùng gò
đồi huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế.
43
30. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Bá Hiệp (2013), “ Vai trò của Escherichia
coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau
cai sữa nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp”, Tạp chí khoa
học và phát triển 2013, tập 11 (3), 318 – 327.
31. Trekaxova A.V., Daninko L. M., Ponomareva M. I., Gladon N. P.
(1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, Nguyễn Đình Chi dịch,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
II. Tài liệu tiếng Anh
32. Christensen R. V., Aalbaek B., Jensen H. E. (2007), “Pathology of
udder lesions in sows”, J. Vet. Med. A Physiol. Patho.l Clin. Med.,
54(9), tr. 491.
33. Glawisschning E., Bacher H. (1992), “The Efficacy of Costat on E. coli
infectedweaning pigs”, 12th IPVS congress, August 17 - 22, tr. 182.
34. Hughes, James (1996), Maximising pigs production and reproduction,
Compus, Hue University of Agriculture and Forestry, September.
35. Nagy B., Fekete P. Z. S. (2005), “Enterotoxigenic Escherichia coli in
veterinary medicine”, Int. J. Med. Microbiol., p. 443 - 454.
36. Pensaet MB de Bouck P. A. (1978), “New coronavirus - like
particleassociated with diarrhea in swine”, Arch. Virol., p. 243 - 247.
37. Jose Bento S., Ferraz and Rodger K., Johnson (2013), Animal Model
Estimation of Genetic Parameters and Respones to Selection for Litter
Size and Weight, Growth and Backfat in Closed Seedstock
Populaions of Large White and Landrace Swine, Department of
Animal Science, University of Nebraska, Lincoln 68583 – 0908.
38. Smith, Martineau B. B. G, Bisaillon, A. (1995), Mammary gland and
lactaion problems in disease of swine, 7th edition, Iowa state
university press, p. 40 - 57.
44
39. White B. R., G. Dzink P. J., Wheeler M. B. (2013), “Attain ment of
puberty and the mechanism of large litter size in Chinese Meishan
females verus Yorkshire females”, Biology of Reproduction, 44, p. 160.
III. Tài liệu internet
40. Trần Văn Bình (2010), http://pharmavet.vn/?tab=forum&id=1350, truy
cập ngày 16/9/2018.
41. Duy Hùng (2011), Bệnh viêm vú ở lợn nái, http://nongnghiep.vn/benh-
viem-vu-o-lon-nai-post65605.html/NongNghiep.vn, truy cập ngày
1/10/2018.
42. Muirhead. M., Alexander. T. (2010), Reproductive System, Managing
Pig Health and the Treat of Disease, http://www.thepigsite.com, truy
cập ngày 26/9/2018.
43. Nguyễn Ánh Tuyết (2015), Bệnh viêm khớp trên lợn
con,http://nguoichannuoi.com/benh-viem-khop-tren-heo-con-
fm471.html, truy cập ngày 11/10/2018.
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Hình 1. Thuốc oxytocin cho nái Hình 2. Làm vaccin cho lợn con
Hình 3. Thuốc mycocin chữa bệnh Hình 4. Mài nanh,cắt đuôi, tiêm tiêu chảy ở lợn con sắt cho lợn con
Hình 5. Lợn nái bị viêm tử cung Hình 6. Thụt rửa cho nái bị viên tử cung
Hình 7. Thuốc phòng trị bện Hình 8. Vệ sinh máng ăn cầu trùng cho lợn con

