Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC ........................................................................................................................i

DANH MỤC VIẾT TẮT................................................................................................iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU.............................................................................................v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ...................................................................................vi

TÓM TẮT KHÓA LUẬN.............................................................................................vii

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................1

1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1

2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................................2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................................2

4. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................2

PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...............................................3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .............................................3

1.1. Những vấn đề cơ bản về DAĐT...........................................................................3

1.1.1. Khái niệm về DAĐT.....................................................................................3

1.1.2. Các nội dung chính của DAĐT ....................................................................4

1.1.3. Phân loại DAĐT ...........................................................................................4

1.1.4. Vai trò của DAĐT.........................................................................................5

1.2. Cho vay DAĐT tại NHTM ..................................................................................6

1.2.1. Khái quát hoạt động tín dụng tại NHTM......................................................6

1.2.1.1. Khái niệm tín dụng NH .........................................................................6

1.2.1.2. Các loại tín dụng NH.............................................................................6

1.2.2. Khái niệm cho vay DAĐT tại NHTM ..........................................................7

1.2.3. Đặc điểm của cho vay DAĐT.......................................................................7

1.3. Hiệu quả cho vay DAĐT....................................................................................11

1.3.1. Quan điểm về hiệu quả cho vay DAĐT......................................................11

1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tại NHTM................12

1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT ..........................................13

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH i

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính...........................................................................13

1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng .......................................................................14

1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay DAĐT của NHTM. .............19

1.3.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về NH.................................................................19

1.3.4.2. Nhóm nhân tố thuộc về KH.................................................................22

1.3.4.3. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường ....................................................24

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DỰ ÁN

ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT

TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NAM ..................................................26

2.1. Khái quát về NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ......................26

2.1.1 Sự ra đời và phát triển..................................................................................26

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh BIDV Quảng Nam ...........................27

2.1.2.1. Chức năng............................................................................................27

2.1.2.2. Nhiệm vụ .............................................................................................28

2.1.2.3. Sản phẩm và dịch vụ tại BIDV Quảng Nam .......................................28

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và quy mô hoạt động của chi nhánh .........30

2.2. Đánh giá tình hình hoạt động nói chung của chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013 33

2.2.1. Khái quát tình hình huy động vốn của chi nhánh .......................................33

2.2.2. Khái quát tình hình tín dụng của chi nhánh................................................35

2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh.............................................38

2.3. Đánh giá chung về hiệu quả cho vay DAĐT tại BIDV Quảng Nam .................39

2.3.1. Khái quát về cho vay DAĐT tại BIDV ......................................................39

2.3.2. Quy trình nghiệp vụ cho vay DAĐT tại chi nhánh BIDV Quảng Nam .....40

2.3.3. Thực trạng hoạt động cho vay DAĐT giai đoạn 2011-2013 ......................41

2.3.3.1. Dư nợ cho vay DAĐT .........................................................................41

2.3.3.2. Doanh số cho vay và doanh số thu nợ DAĐT qua các năm................42

2.3.3.3. Nợ xấu cho vay DAĐT........................................................................43

2.3.4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT tại chi nhánh43

2.3.4.1. Chỉ tiêu về dư nợ .................................................................................43

2.3.4.2. Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn .......................................................45

2.3.4.3. Chỉ tiêu về doanh số cho vay DAĐT ..................................................45

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH ii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.3.4.4. Chỉ tiêu quay vòng vốn .......................................................................46

2.3.4.5. Chỉ tiêu nợ xấu ....................................................................................48

2.4.1. Kết quả đạt được của hoạt động cho vay DAĐT........................................49

2.4.2. Những hạn chế của hoạt động cho vay DAĐT...........................................50

2.4.3. Nguyên nhân ...............................................................................................53

2.4.3.1. Nguyên nhân từ phía NH.....................................................................53

2.4.3.2. Nguyên nhân từ phía KH.....................................................................54

2.4.3.3. Nguyên nhân từ nền kinh tế ................................................................54

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NAM................................................................57

3.1. Định hướng phát triển trong thời gian tới của Ngân hàng. ................................57

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tại chi nhánh ...................58

PHẦN 3. KẾT LUẬN ..................................................................................................65

TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................69

PHỤ LỤC

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH iii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

DANH MỤC VIẾT TẮT

NH : Ngân hàng

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

DAĐT : Dự án đầu tư

: Doanh nghiệp DN

: Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV

: Tài sản đảm bảo TSĐB

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

DSCV : Doanh số cho vay

CSTD : Chính sách tín dụng

DSTN : Doanh số thu nợ

HĐ : Hợp đồng

KH : Khách hàng

NSNN : Ngân sách nhà nước

L/C : Thư tín dụng

PGD : Phòng giao dịch

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH iv

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Biến động dư nợ cho vay DAĐT tại chi nhánh. ...........................................43

Bảng 2.2. Tỷ trọng cho vay DAĐT trong cơ cấu tín dụng. ...........................................44

Bảng 2.3. Hiệu suất sử dụng vốn trong cho vay DAĐT tại chi nhánh..........................45

Bảng 2.4. Vòng quay vốn tín dụng hoạt động cho vay DAĐT .....................................47

Bảng 2.5. Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT tại chi nhánh giai

đoạn 2011 – 2013 ..........................................................................................................49

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH v

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Số dư vốn huy động thời điểm 31/12 giai đoạn 2011 – 2013 tại chi nhánh ...33

Biểu đồ 2.2. Huy động vốn theo thành phần kinh tế giai đoạn 2011 – 2013. ...............34

Biểu đồ 2.3. Biến động dư nợ tín dụng tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013...............36

Biểu đồ 2.4. Nợ xấu tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013. ...........................................38

Biểu đồ 2.5. Dư nợ cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013 ....................41

Biểu đồ 2.6. DSCV và DSTN cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013 ...42

Biểu đồ 2.7. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013 ..........43

Biểu đồ 2.8. Tốc độ tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013...........44

Biểu đồ 2.9. Biến động DSCV DAĐT tại chi nhánh. ...................................................46

Biểu đồ 2.10. DSTN cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013..................46

Biểu đồ 2.11. Biến động nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu cho vay DAĐT tại chi nhánh giai

đoạn 2011 – 2013 ..........................................................................................................48

Biểu đồ 2.12. Tỷ trọng nợ xấu cho vay DAĐT trong tổng nợ xấu trung dài hạn và

trong tổng dư nợ ............................................................................................................51

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức các phòng ban tại chi nhánh................................................30

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH vi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Những năm gần đây, việc tìm đầu ra cho dòng vốn tín dụng ngân hàng, nhất là

trong lĩnh vực cho vay dự án đầu tư gặp nhiều khó khăn do nhu cầu đầu tư giảm và

việc siết chặt các điều kiện vay của ngân hàng. Với nhiều chính sách của nhà nước, tín

dụng đã dần có sự cải thiện song những trở ngại vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn. Do

đó, khóa luận đi vào tìm hiểu cho vay dự án đầu tư tại một ngân hàng thương mại có

bề dày uy tín trong nước, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt

Nam, trên cơ sở những lý luận cơ bản về nghiệp vụ tín dụng này, khái niệm hiệu quả

cùng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả. Qua đây, người thực hiện nghiên cứu thực

trạng của nghiệp vụ cho vay dự án đầu tư và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả cho hoạt động mang vai trò to lớn trong sự phát triển của cả ngân hàng,

doanh nghiệp và nền kinh tế.

Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp bao gồm:

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1. Tổng quan về dự án đầu tư và hoạt động cho vay dự án đầu tư tại

ngân hàng thương mại.

Chương 2. Thực trạng và hiệu quả hoạt động cho vay dự án đầu tư tại Ngân

hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quảng Nam.

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng

Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quảng Nam.

PHẦN 3. KẾT LUẬN

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH vii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nếu coi nền kinh tế là một thực thể sống thì đầu tư chính là tế bào trong cơ thể

đó. Không có đầu tư, kinh tế không thể phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và

dần rơi vào lạc hậu. Đầu tư là nền tảng cho mỗi nước vươn lên và hội nhập cùng xu

thế chung toàn cầu.

Tầm quan trọng của đầu tư đã được chứng minh chính trong thực tiễn kinh tế

Việt Nam qua hơn hai mươi lăm năm đổi mới. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu với

nền sản xuất manh mún và đình trệ sau chiến tranh, kinh tế Việt Nam dần thay da đổi

thịt từng ngày với những thành công bước đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện

đại hóa (CNH-HĐH), tốc độ tăng trưởng ở mức khá và ổn định, phần nào khẳng định

vị thế trên trường quốc tế. Những bước tiến đáng kể này là kết quả sự chuyển hướng

sang kinh tế thị trường với những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tạo

điều kiện cho cá nhân, tổ chức hình thành nên những dự án và tiến hành đầu tư vào các

lĩnh vực, mang lại hiệu quả cho bản thân và toàn xã hội.

Tuy nhiên, tìm kiếm nguồn vốn để biến dự án đầu tư (DAĐT) trở thành những

hoạt động đầu tư thực tế không hề đơn giản. Thực hiện DAĐT đòi hỏi nguồn vốn lớn

và trong một thời gian dài. Do đó, các doanh nghiệp (DN) Việt Nam với nguồn lực

còn hạn chế, đồng thời không thể bỏ qua ích lợi mà đòn bẩy tài chính mang lại, rất

cần sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài. Các DN cũng không thể tự mình huy động vốn nhàn

rỗi trong dân cư, nguồn vốn tuy dồi dào nhưng lại phân tán. Trong khi đó, kênh cung

ứng từ thị trường chứng khoán mới bắt đầu phát triển từ năm 2006 và có sự biến

động khó lường do xu hướng đầu tư đám đông nên chưa thể hoàn thành vai trò cung

vốn cho DN. Vì thế, các DN Việt Nam, đa phần là DN vừa và nhỏ, vẫn chủ yếu dựa

vào nguồn vốn từ NH, định chế đóng vai trò cầu nối giữa cung và cầu vốn. Hoạt

động tín dụng, trong đó có cho vay DAĐT mà NH thực hiện là nghiệp vụ quan trọng

giúp bản thân định chế này sinh lợi nhuận cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã

hội cho đất nước.

Những năm trở lại đây, kinh tế thế giới và trong nước tăng trưởng chậm, hàm

chứa nhiều bất ổn khiến các DN gặp trở ngại trong xây dựng và tiến hành dự án cũng

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 1

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

như tiếp cận với vốn giá rẻ từ NH. Về phía NH, ngành đang ở trong giai đoạn đầu của

tái cơ cấu và vừa trải qua nhiều biến động lớn do hệ lụy từ một thời kỳ tăng trưởng

nóng. Tất cả đòi hỏi DN phải có được dự án thật sự hiệu quả để đầu tư nhằm vượt qua

khó khăn hiện tại, củng cố và phát triển nội lực trước sức ép của hội nhập. Song song

với đó, NH cần có những biện pháp cải thiện quy trình nghiệp vụ, quản lý rủi ro, mở

rộng tín dụng phải đi đôi với chú trọng chất lượng để phát huy vai trò cung ứng vốn

cho nền kinh tế và tài trợ thực hiện dự án. Đặc biệt, trong bối khó khăn hiện tại các

ngân hàng thương mại nhà nước (NHTM) với bề dày hoạt động và uy tín, mà một

trong những ví dụ điển hình là Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và

Phát triển Việt Nam (BIDV), càng cần phải trở thành đầu tàu cho hệ thống ngân hàng,

không ngừng nâng cao chất lượng quản trị, chất lượng tín dụng để đưa dòng vốn chảy

vào nền kinh tế và giúp đỡ DN tháo gỡ khó khăn, khôi phục đầu tư.

Từ những lý do trên, tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “Hiệu quả

cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

Nam chi nhánh Quảng Nam” để có một cái nhìn cụ thể và thực tế hơn về lĩnh vực cho

vay quan trọng tại một trong những NH lớn ở Việt Nam, xuyên suốt giai đoạn 2011 –

2013 đầy khó khăn và thách thức.

2. Mục đích nghiên cứu

- Khái quát hóa và làm rõ một số lý luận cơ bản về DAĐT và cho vay DAĐT

tại NHTM.

- Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT tại chi nhánh BIDV Quảng Nam.

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tại NH.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

NH BIDV chi nhánh Quảng Nam trong giai đoạn 2011 – 2013.

4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu.

- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 2

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Những vấn đề cơ bản về DAĐT

1.1.1. Khái niệm về DAĐT

Đầu tư là quá trình sử dụng tổng hợp các nguồn lực như tài chính, lao động, tài

nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản

xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành, của địa

phương hay của nền kinh tế. Đầu tư được tiến hành xuyên suốt một thời gian dài với

số vốn nằm khê đọng trong quá trình thực hiện nên hàm chứa sự đánh đổi lớn giữa lợi

ích của sử dụng vốn trong hiện tại và kết quả sẽ thu được trong tương lai với nhiều rủi

ro. Do đó, thành quả của đầu tư cần được sử dụng trong nhiều năm để lợi ích thu được

tương ứng và lớn hơn chi phí đã bỏ ra. Thậm chí nhiều dự án còn đem lại hiệu quả rất

lâu sau khi đầu tư, nhất là các hoạt động đầu tư mang ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội

mà nhà nước thực hiện.

Trước khi mọi công cuộc đầu tư được tiến hành, để đảm bảo thuận lợi trong

thực thi và đạt mục tiêu đã đặt thì công tác chuẩn bị cần phải nghiêm túc và cẩn trọng.

Điều này đồng nghĩa với việc xem xét, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ

thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường pháp lý... có liên quan, dự báo những yếu tố bất

định sẽ xảy ra trong thời gian đầu tư. Những chuẩn bị này được thể hiện trong DAĐT,

vì thế, một DAĐT tốt sẽ là kim chỉ nam giúp đầu tư đạt hiệu quả như mong đợi. Dự án

không phải là một ý định được phác thảo sơ sài để dự đoán triển vọng của hoạt động

trong tương lai mà mang tính cụ thể cao và có mục tiêu xác định đáp ứng các nhu cầu

nhất định nhằm thuyết phục sự tài trợ của các tổ chức tài chính hay chính phủ. Theo

nghĩa khái quát, DAĐT là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với những mục tiêu,

phương pháp và phương tiện để đạt được trạng thái mong muốn song cũng có những

khái niệm khác nhau khi xem xét trên nhiều góc độ.

Xét về mặt hình thức, DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày chi tiết và có hệ

thống các hoạt động, chi phí theo kế hoạch để đạt được những kết quả và mục tiêu cụ

thể ở tương lai.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 3

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Xét về nội dung, DAĐT là tổng thể các hoạt động có liên quan với nhau được

hoạch định với lịch thời gian và địa điểm cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định trong

thời gian xác định.

Xét trên góc độ quản lý, DAĐT là công cụ để quản lý các nguồn lực như vốn,

vật tư, lao động để đạt được kết quả về tài chính, kinh tế, xã hội trong thời gian dài.

Theo Luật đầu tư Việt Nam năm 2005, “DAĐT là một tập hợp đề xuất bỏ vốn

trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ

sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến,

nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định”.

1.1.2. Các nội dung chính của DAĐT

DAĐT gồm các nội dung chính sau:

Mục tiêu: Là những điều cần đạt khi thực hiện dự án, dự án sẽ mang lại lợi ích

gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ đầu tư nói riêng.

Kết quả: Những kết quả cụ thể, có thể định lượng, được tạo ra từ các hoạt động

của dự án, là điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu của dự án. Kết quả biểu hiện

dưới dạng kết quả tài chính, kinh tế hay xã hội và đánh dấu tiến độ thực hiện dự án.

Các hoạt động của dự án: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện

trong dự án để tạo ra kết quả. Những nhiệm vụ này cùng với lịch biểu và trách nhiệm

cụ thể của các bộ phận tạo nên kế hoạch làm việc cho dự án.

Các nguồn lực: Nguồn lực của dự án gồm có vật chất, tài chính và con người

cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí cho các nguồn lực

chính là vốn đầu tư cần thiết ban đầu của mỗi dự án.

1.1.3. Phân loại DAĐT

Đầu tư là một hoạt động đa dạng và được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực. Do

vậy, DAĐT cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.

Theo cơ cấu tái sản xuất, DAĐT được phân thành DAĐT theo chiều rộng và

DAĐT theo chiều sâu. Trong đó DAĐT theo chiều rộng nhằm mục đích mở rộng quy

mô sản xuất hiện tại nên đòi hỏi số vốn lớn, thời gian đầu tư và thời gian thu hồi vốn

cao. DAĐT theo chiều sâu lại nhằm nâng cao chất lượng công nghệ, dây chuyền sản

xuất để cải thiện chất lượng sản phẩm nên có độ mạo hiểm thấp hơn tương đối so với

đầu tư chiều rộng.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 4

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Theo lĩnh vực hoạt động, có thể chia thành DAĐT xây dựng cơ sở hạ tầng, xây

dựng cơ bản, DAĐT dịch vụ và kinh doanh, dự án hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật...

Các dự án này có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện cho các dự án khác tiến

hành thuận lợi trong một môi trường xây dựng đồng bộ và hiện đại.

Theo nguồn vốn, DAĐT được chia thành dự án có vốn huy động trong nước

như từ vốn ngân sách, vốn của DN, tiết kiệm dân cư; dự án có vốn huy động từ nước

ngoài như vốn đầu tư trực tiếp, viện trợ, đầu tư gián tiếp.

Ngoài ra, các dự án quan trọng quốc gia với mức đầu tư theo Nghị quyết của

Quốc hội còn được chia thành dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C.

1.1.4. Vai trò của DAĐT

DAĐT giữ vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà còn với cả NH

cho vay và toàn xã hội.

Đối với chủ đầu tư, dự án là căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định

có nên tiến hành dự án hay không. Đây cũng là công cụ để tìm kiếm đối tác trong và

ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư. DAĐT là phương tiện thuyết phục các tổ chức

tài chính tiền tệ cho vay vốn, là cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư cũng như theo dõi,

đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện. Dựa vào đây, người ta sẽ có căn cứ đánh giá

và điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc xảy ra khi tiến hành dự án. Ngoài ra,

trong soạn thảo hợp đồng (HĐ) liên doanh cũng như giải quyết các mối quan hệ tranh

chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện, dự án là một công cụ hết sức cần thiết.

Đối với nhà tài trợ hay NHTM cho vay, DAĐT là phương tiện để xem xét tính

khả thi, giúp NH đưa ra quyết định có tài trợ hay không và tài trợ ở mức độ nào để

đảm bảo lợi nhuận và hạn chế rủi ro.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, dự án là tài liệu quan trọng để các cấp có

thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư, đặc biệt với những dự án có ảnh hưởng

tới sự phát triển chung của xã hội. Nó còn là căn cứ pháp lý để tòa án xem xét, giải

quyết khi có tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 5

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

1.2. Cho vay DAĐT tại NHTM

1.2.1. Khái quát hoạt động tín dụng tại NHTM

1.2.1.1. Khái niệm tín dụng NH

Tín dụng (credit) có nguồn gốc từ chữ Credo trong tiếng Latinh với nghĩa tin

tưởng hay tín nhiệm. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa

khác nhau. Tuy nhiên, tín dụng mang nghĩa phổ biến nhất là việc NH cho KH chiếm

dụng vốn trong một thời gian thông qua chuyển giao vốn tín dụng dưới hình thức tiền

hay tài sản với cam kết KH phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.

Như vậy, khi tiếp cận theo chức năng NH, tín dụng được định nghĩa như sau:

“Tín dụng là một giao dịch tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi

vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời

gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán"[9].

1.2.1.2. Các loại tín dụng NH

Tín dụng NH có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo từng tiêu thức

phân loại.

a) Căn cứ mục đích của tín dụng

Tín dụng NH bao gồm tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh công thương

nghiệp, tín dụng cho tiêu dùng cá nhân, cho bất động sản, tín dụng nông nghiệp, tín

dụng tài trợ kinh doanh xuất nhập khẩu…

b) Căn cứ thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thông thường giúp

bổ sung nhu cầu vốn lưu động, vốn sản xuất kinh doanh mang tính mùa vụ.

Tín dụng trung dài hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm nhằm tài trợ cho mua sắm,

sữa chữa tài sản cố định, xây dựng công trình quy mô nhỏ, thời gian hoàn vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn có thời hạn trên 5 năm tài trợ cho các DAĐT có quy mô vốn

lớn, thời gian xây dựng dài như xây dựng nhà máy, xí nghiệp, công trình giao thông

vận tải, phúc lợi công cộng hay cơ sở vật chất cho nền kinh tế.

c) Căn cứ mức độ tín nhiệm của KH

Theo tiêu thức này, tín dụng phân thành tín dụng không có đảm bảo – loại tín

dụng không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 6

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

uy tín của bản thân KH vay vốn và tín dụng có đảm bảo, loại tín dụng dựa trên cơ sở

các bảo đảm như cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba.

c) Căn cứ phương thức cho vay

Cho vay bao gồm cho vay theo món và cho vay theo hạn mức tín dụng.

d) Căn cứ hình thái giá trị của tín dụng

Tín dụng được chia thành tín dụng bằng tiền là tín dụng dưới hình thức bằng

tiền, nội tệ hoặc ngoại tệ trong khi tín dụng bằng tài sản là loại tín dụng có hình thức

chuyển giao hiện vật, cho thuê tài chính là ví dụ điển hình của loại này.

1.2.2. Khái niệm cho vay DAĐT tại NHTM

Cho vay DAĐT là một hoạt động nằm trong lĩnh vực tín dụng trung dài hạn của

NHTM. Theo đó, NH đồng ý cấp tín dụng với một hạn mức nhất định cho chủ đầu tư

thực hiện dự án trong một thời gian, theo những điều kiện cụ thể trong HĐ tín dụng.

Chủ đầu tư hay DN có DAĐT xin vay phải có trách nhiệm thực hiện đúng, đầy đủ các

điều khoản đã cam kết trong HĐ, hoàn trả gốc và lãi cho NH đúng hạn. DAĐT là yếu

tố rất quan trọng trong loại hình tín dụng này nên trước khi quyết định cho vay, NH

cần thẩm định kỹ càng tính khả thi và hiệu quả của DAĐT xin vay.

1.2.3. Đặc điểm của cho vay DAĐT

Một là, cho vay dự án đầu tư có rủi ro cao.

Dự án từ khi thực hiện cho tới lúc bắt đầu hoạt động và mang lại thu nhập hàm

chứa rủi ro cao do chịu ảnh hưởng từ các nhân tố biến động không thể kiểm soát như

cơ chế chính sách, thị trường, thiên tai, tình hình kinh tế vĩ mô... Các yếu tố này khiến

thu nhập của dự án không phải luôn chắc chắn và ổn định, từ đó làm biến động nguồn

trả nợ cho NH. Do vậy, thời hạn dài chính là một nhân tố làm gia tăng rủi ro của cho

vay DAĐT so với tín dụng ngắn hạn. Thời hạn tín dụng này được tính từ ngày nhận

khoản vay nợ đầu tiên cho đến khi KH hoàn trả hết nợ gốc và lãi cho NH, gồm thời

gian ân hạn và thời gian thu nợ. Đối với cho vay DAĐT, thời hạn thu nợ phụ thuộc vào

tính chất, đặc điểm của DAĐT, đặc điểm sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của

KH. Thông thường, thời gian này tương đối dài do NH chỉ tiến hành thu nợ sau khi

DAĐT đi vào hoạt động và tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, thời gian trả nợ cũng có thể rút

ngắn nếu dự án có hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh và DN có ý định trả nợ sớm. Song

trả nợ trước hạn có thể ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn của NH.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 7

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Yếu tố thứ hai đặt nghiệp vụ cho vay dự án trước nhiều nguy cơ hơn chính là

khoản tiền cho vay lớn để đáp ứng vốn KH cần cho đầu tư. Mức cho vay mà NH chấp

nhận được tính toán một cách chặt chẽ dựa trên nhu cầu của KH và các điều kiện về

giới hạn cấp tín dụng theo quy định. Trong đó, nhu cầu vay của KH xác định qua tổng

vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư thực hiện dự án và vốn lưu động ban đầu; vốn tham gia

của KH; vốn đầu tư khác theo công thức:

Nhu cầu vay = Tổng vốn đầu tư dự án – Vốn của khách hàng – Vốn đầu tư khác

Rủi ro cao chính là lý do buộc các NH luôn phải cẩn trọng trong khâu thẩm

định để đánh giá, lường trước rủi ro và không bị động khi xảy ra các tình huống xấu.

Hai là, DAĐT phải có sự tham gia của vốn KH

Cho vay trung dài hạn với thời gian dài, rủi ro cao hơn cho vay ngắn hạn. Do

đó, để giảm thiểu rủi ro thì ngoài yêu cầu về tài sản đảm bảo (TSĐB), NH còn quy

định tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhất định tham gia vào dự án. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hay

thấp tuỳ thuộc vào từng NH với một mức độ tối thiểu và có thể điều chỉnh tương ứng

với rủi ro, hiệu quả của dự án cũng như mối quan hệ của NH với KH.

Ba là, nguồn trả nợ chủ yếu từ lợi nhuận của dự án và khấu hao.

Nguồn trả nợ đối với khoản cho vay DAĐT nói riêng và cho vay trung dài hạn

nói chung khác với cho vay ngắn hạn. Các khoản cho vay này được dùng chủ yếu cho

nhu cầu mua sắm tài sản cố định, xây dựng công trình nên nguồn trả nợ chính là từ

khấu hao và lợi nhuận do DAĐT mang lại.

Bốn là, giải ngân trong cho vay DAĐT.

Khoản vay có thể giải ngân một hoặc nhiều lần nhằm đảm bảo KH sử dụng tiền

vay đúng mục đích. NH sẽ không đồng ý cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan

đến dự án chưa phát sinh hoặc chi phí đưa ra không hợp lý, không thuộc các hạng mục

dự án. Thông thường, NH và KH sẽ thoả thuận giải ngân một lần trong trường hợp vay

mua sắm máy móc, thiết bị còn đối với tài sản hay công trình hình thành trong thời

gian dài, giải ngân sẽ thực hiện theo tiến độ công việc.

Năm là, lãi suất cho vay DAĐT thường cao hơn lãi suất ngắn hạn.

Lãi suất cho vay DAĐT thường cao hơn lãi suất vay ngắn hạn theo xu hướng

dốc lên của đường cong lãi suất và tương quan giữa rủi ro với lợi nhuận. Lãi suất có

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 8

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

thể cố định trong suốt kỳ vay, hoặc thay đổi theo biến động thị trường tùy vào thỏa

thuận trong HĐ. Sự biến đổi lãi suất có thể dựa trên lãi suất cơ bản hay căn cứ vào lãi

suất liên NH ở một số thị trường tài chính lớn và sôi động như: LIBOR, SIBOR…

Sáu là, cho vay DAĐT tuân theo quy trình chặt chẽ.

Cho vay DAĐT tuân theo quy trình tín dụng của mỗi NH, bắt đầu bằng việc

xem xét và quyết định cho vay, kế đến là giải ngân, theo dõi nợ vay, thu nợ gốc và lãi,

kết thúc bằng thanh lý HĐ tín dụng.

Đầu tiên, NH tiếp nhận hồ sơ, xem xét và quyết định cấp tín dụng. Đề xuất vay

vốn theo DAĐT được hợp thức hoá bằng các tài liệu như: đơn xin vay, hồ sơ pháp lý

chứng minh tư cách pháp nhân, vốn điều lệ ban đầu, hồ sơ tài chính những năm trước

khi vay, luận chứng kinh tế – kỹ thuật; bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của

cấp có thẩm quyền; văn bản liên quan đến cung ứng vật tư thiết bị, nguyên vật liệu, tiêu

thụ sản phẩm; các giấy tờ về tài sản thế chấp hoặc cầm cố... Việc chấp nhận hay từ chối

cho vay DAĐT cần dựa vào thẩm định tài chính dự án, tư cách pháp nhân; mức vốn

tham gia; tình hình sản xuất kinh doanh; tình hình công nợ… Ngoài ra, cần xem xét

những yếu tố khác như mục đích kinh tế xã hội, nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn

nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm… để đánh giá triển vọng của dự án. Khi xem xét,

thẩm định và đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay cần tuân theo các nguyên

tắc như: phù hợp với nguồn vốn của NH, tức là không vượt quá khả năng đáp ứng của

nguồn vốn hiện có và sẽ huy động, dùng để cho vay trung dài hạn; phù hợp với quyền

phán quyết cho vay; phù hợp với chính sách ưu tiên trong đầu tư của nhà nước, của NH.

Trong trường hợp chấp nhận hay từ chối cho vay, NH đều phải thông báo bằng văn bản

để KH biết và kịp thời lập hồ sơ nhận nợ hay tìm kiếm nguồn vốn khác.

Tiếp đến NH giải ngân. Dựa vào mức cho vay ghi trên HĐ, NH phát tiền vay

cho KH. Quá trình giải ngân thực hiện theo tiến độ DAĐT, tiền đã giải ngân phải được

phản ánh kịp thời, chính xác vào tài khoản cho vay, khế ước vay nợ và các chứng từ

hợp lệ khác.

Sau giải ngân, NH tiếp tục theo dõi quá trình thực hiện dự án và thu hồi nợ.

Trong khoảng thời gian này, NH phải theo dõi chặt chẽ tiến độ cho đến khi dự án kết

thúc, các máy móc thiết bị hay công trình đưa vào vận hành có hiệu quả, đảm bảo KH

trả hết nợ cả gốc và lãi.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 9

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Bảy là, thẩm định DAĐT đóng vai trò quan trọng trong cho vay DAĐT.

Thẩm định DAĐT là nhân tố ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả tín dụng trung

dài hạn, là mắt xích rất quan trọng trong quy trình cho vay DAĐT bởi bản thân mỗi dự

án đều mang tính phỏng định và hàm chứa một mức độ bất định. Khác với các hoạt

động thương mại hay chi tiêu tài chính thông thường khác, đầu tư mang tính lâu dài và

nhiều rủi ro nên sự trù liệu ban đầu trên dự án chỉ là dự tính và chịu xác suất biến đổi

nhất định do nhiều nhân tố gây nên. Hơn nữa, các dự án thường do chủ dự án lập hoặc

thuê tư vấn độc lập trên cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của mình. Do đó dù

muốn hay không các dự án đều được nhìn nhận dưới góc nhìn mang tính chủ quan và

thiếu bao quát. Thẩm định, vì vậy, cần phải thực hiện được mục tiêu phân tích, đánh

giá khách quan và khoa học các nội dung cơ bản ảnh hưởng tới tính khả thi của dự án.

Thực chất của công việc này là dùng một số kỹ thuật để phân tích, đánh giá các

phương diện trình bày trong dự án theo tiêu chuẩn và trình tự chặt chẽ nhằm rút ra kết

luận tương đối chính xác về hiệu quả dự án xét trên khía cạnh tài chính, kinh tế, xã hội,

môi trường, pháp lý, thị trường, nhân lực, tổ chức quản lý.... Dựa vào những phân tích

này cùng các thông tin khác về KH, NH quyết định có cho vay hay không và cho vay

bao nhiêu để dung hòa lợi ích cho mình và KH. Việc thẩm định DAĐT có thể dựa vào

kết quả thẩm định của các tổ chức thẩm định chuyên nghiệp. Trường hợp này, NH

phải có khả năng đánh giá kết quả chất lượng thẩm định mà tổ chức này đưa ra. Hoặc

NH cũng có thể tự thẩm định những dự án vừa và nhỏ, có thời gian thu hồi vốn tương

đối. Tuy nhiên, dù tự thẩm định hay tái thẩm định, NH đều cần đội ngũ cán bộ tín

dụng có đủ năng lực để đánh giá và đưa ra kết luận xác đáng về dự án.

Thẩm định DAĐT tuân theo quy trình cụ thể, bắt đầu từ khâu thu thập thông tin

cần thiết, xử lý thông tin bằng những phương pháp nhất định và đi đến kết quả ghi

trong tờ trình thẩm định. Thông thường, một dự án được thẩm định theo ba khía cạnh

cơ bản là kỹ thuật, kinh tế và tài chính. NH sẽ thiên về đánh giá hiệu quả tài chính, một

số nhân tố kỹ thuật và kỹ năng tổ chức quản lý, thị trường cho sản phẩm từ dự án.

Trong đó, thẩm định kỹ thuật đi sâu phân tích các yếu tố kỹ thuật - công nghệ, thiết bị

chủ yếu đảm bảo tính khả thi của dự án khi thi công, vận hành. Thẩm định kinh tế - xã

hội là xét đến hiệu quả dự án trên quan điểm vĩ mô, dựa vào một số chỉ số sinh lời xã

hội như mức đóng góp cho nền kinh tế do tiết kiệm chi phí nhập khẩu các sản phẩm

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 10

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

tuơng tự, mức gia tăng công ăn việc làm, đóng góp vào ngân sách nhà nước (NSNN)...

Ngoài ra, người thẩm định còn xem xét ảnh hưởng của dự án đến môi trường, văn hoá

và sự phát triển kinh tế địa phương. Thẩm định về tài chính là phân tích, đánh giá, kết

luận việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong tài trợ, khả năng sinh lời, khả năng

hoàn trả nợ, rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Đánh giá hiệu quả tài chính dự án

thường dựa trên các chỉ tiêu như : giá trị hiện tại ròng (NPV), suất sinh lời nội bộ

(IRR), thời gian hoàn vốn, tỷ suất sinh lợi (PI)...

Tám là, nguồn vốn dùng để cho vay DAĐT chủ yếu là vốn trung dài hạn.

Đảm bảo thanh khoản luôn là vấn đề được NHTM quan tâm bởi rủi ro thanh

khoản một khi xảy ra sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, hoạt động cho vay phải gắn

bó chặt chẽ và dựa trên nền tảng nguồn vốn mà NH có được. Điều này đồng nghĩa với

sự phù hợp của cơ cấu cho vay với cơ cấu nguồn vốn, tức là các khoản cho vay trung

dài hạn nói chung và cho vay DAĐT nói riêng cần được hình thành từ những nguồn

vốn ổn định và có thời hạn tương ứng.

Theo nguyên tắc đó, nguồn vốn dùng trong cho vay DAĐT bao gồm: Vốn tự có

do góp vốn hoặc tích lũy được trong quá trình kinh doanh, vốn huy động dưới hình

thức tiền gửi trung dài hạn, vốn ủy thác của Chính phủ và các tổ chức trong và ngoài

nước, vay nước ngoài, vay từ NHNN. Ngoài ra, do các nguồn vốn ngắn hạn của NH có

sự gối đầu nhất định nên NH cũng có tận dụng nguồn vốn này để cho vay dự án nhưng

phải tuân thủ theo quy định an toàn (tối đa là 30% trên tổng nguồn vốn ngắn hạn sử

dụng trong tài trợ cho tín dụng trung dài hạn đối với NHTM theo TT 15/2009/TT-

NHNN). Mỗi nguồn vốn trên có những ưu nhược điểm nên tuỳ điều kiện cụ thể NH sẽ

phải quyết định sử dụng nguồn vốn nào là thích hợp nhất.

1.3. Hiệu quả cho vay DAĐT

1.3.1. Quan điểm về hiệu quả cho vay DAĐT

Hiệu quả là vấn đề rất được quan tâm đối với không chỉ tổ chức kinh tế mà còn

với tất cả các tổ chức, chỉ khác nhau về lĩnh vực mà mỗi chủ thể hướng đến. Đây là

mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt được bằng việc không ngừng cải tiến và nâng cao

chất lượng hoạt động. Có nhiều quan điểm về hiệu quả song theo khái niệm tổng quát

nhất, hiệu quả là mối quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để đạt

được kết quả đó.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 11

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Xét trên quan điểm của NH, hiệu quả tín dụng là một vấn đề quan trọng bởi tín

dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho định chế này. Theo đó, hiệu quả tín

dụng gồm 2 yếu tố: “Mức độ an toàn và khả năng sinh lời của NH mà hoạt động tín

dụng mang lại”. Như thế, cho vay DAĐT có hiệu quả khi dư nợ cho vay DAĐT có sự

tăng trưởng, NH tạo ra được thu nhập đủ để bù đắp chi phí và có lợi nhuận, tỷ lệ nợ

quá hạn, nợ xấu ở mức an toàn và có xu hướng giảm. Phân tích và đánh giá đúng hiệu

quả cho vay DAĐT, xác định nguyên nhân những tồn tại trong lĩnh vực này sẽ giúp

NH tìm được những biện pháp quản lý thích hợp.

Cho vay DAĐT của NHTM còn đóng một vai trò quan trọng với cả nền kinh tế

nói chung chứ không chỉ riêng NH. Do đó hiệu quả cho vay còn được đánh giá dựa

trên hai quan điểm có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau đó là: hiệu quả cho vay thể

hiện ở chỗ nó đã góp phần thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh

phát triển như thế nào; nó còn thể hiện trực tiếp ở lợi nhuận dự án mang lại cho nhà

đầu tư và cho NH khi cho vay tài trợ dự án.

1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tại NHTM

Nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT là vấn đề đặt ra với tất cả chủ thể có liên

quan, bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT là cơ sở cho NHTM gia tăng lợi

nhuận và mở rộng hoạt động của mình.

Cho vay DAĐT đạt hiệu quả cao làm tăng vòng quay vốn, từ đó tăng khả năng

cung cấp dịch vụ của NH, thu hút thêm KH. Là một trong các hoạt động mang lại

nhiều lợi nhuận, cho vay DAĐT với kết quả khả quan còn góp phần đảm bảo lợi nhuận

cũng như khả năng thanh toán cho NH, tạo thế mạnh trong cuộc chiến cạnh tranh ngày

càng khốc liệt hiện nay.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tạo điều kiện để phát triển kinh tế.

Cho vay DAĐT là tiền đề để kinh tế phát triển bởi DAĐT đi vào hiện thực sẽ

góp phần mở rộng quy mô sản xuất, hiện đại hóa máy móc, công nghệ, tăng hiệu suất

sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm cả về số lượng và chất lượng; cải thiện hạ tầng kỹ

thuật để thu hút thêm đầu tư; kinh tế trong nước phát triển bao quát thêm nhiều ngành

nghề, lĩnh vực, nhờ đó tiết kiệm được số ngoại tệ từ nhập khẩu các sản phẩm trước đây

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 12

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

chưa sản xuất được. Như vậy, hiệu quả cho vay DAĐT ngày càng được quan tâm

không chỉ đối với từng DN đơn lẻ mà cả trên bình diện kinh tế rộng lớn.

Đảm bảo hiệu quả cho vay DAĐT cũng là điều kiện để NH làm tốt vai trò trung

gian thanh toán. Hiệu quả cho vay DAĐT nói riêng và cho vay trung dài hạn nói chung

được nâng cao sẽ tăng vòng quay vốn. Như vậy, với một lượng tiền không đổi NH có

thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông,

củng cố sức mua đồng tiền. Ngoài ra, thông qua cho vay chuyển khoản, thanh toán

không dùng tiền mặt cho đối tác của KH, nghiệp vụ này còn giúp giảm sử dụng tiền

mặt, hạn chế nguy cơ lạm phát. Đây cũng là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và

Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực theo định hướng

CNH-HĐH, tạo thêm nguồn thu cho NSNN, đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng,

các ngành trong nước.

1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT

1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính

Về mặt định tính, cho vay DAĐT được đánh giá là hiệu quả khi nó mang lại

cho NH nguồn thu nhập đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi cũng như tối

thiểu hóa rủi ro. Như vậy, một khoản cho vay là hiệu quả khi nó được sử dụng đúng

mục đích; tuân thủ các điều kiện về TSĐB, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn theo cam

kết tại HĐ tín dụng và được thực hiện theo đúng quy trình tín dụng.

Lợi ích của cho vay dự án cũng đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của

địa phương và cả nước. Đây là hệ quả tất yếu khi cả nhà đầu tư và NH cùng đạt được

hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Nó biểu hiện ở sự ổn định của nền tài

chính tiền tệ, sự phát triển năng lực sản xuất, tăng công ăn việc làm, nâng cao thu nhập

và mức sống dân cư. Vậy nên, hiệu quả cho vay dự án còn được xem xét trên cả góc

độ các DN và toàn nền kinh tế.

Tuy nhiên, chỉ tiêu định tính về hiệu quả cho vay DAĐT thường khó xác định

và mang nhiều yếu tố chủ quan, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người đánh giá và

là căn cứ để đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT một cách khái quát. Do đó, để có những

kết luận chính xác hơn cần dựa vào hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể. Ngoài ra,

hiệu quả xét trên góc độ cả nền kinh tế rất khó đo lường và rộng lớn, hiệu quả theo

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 13

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

quan điểm DN thực hiện DAĐT cũng khó thu thập nên luận văn không đề cập tới mà

chỉ xét hiệu quả trên góc nhìn của NHTM.

1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng

Để đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT đối với mỗi NH, có thể dựa vào xem xét

tổng hợp các chỉ tiêu định lượng dưới đây:

a) Tốc độ tăng doanh số, tốc độ tăng dư nợ cho vay DAĐT

* Doanh số cho vay (DSCV) là chỉ tiêu phản ánh số tiền NH cho KH vay trên

cơ sở các hoạt động tín dụng trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này thể hiện quy mô

đầu tư vốn cho nền kinh tế của NH trong thời kỳ đó và được tính toán như sau:

DSCV trong kỳ = Dư nợ cuối kỳ - Dư nợ đầu kỳ + Doanh số thu nợ (DSTN) trong kỳ

* Dư nợ cho vay DAĐT là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà NH đã giải ngân cho

KH vay nhưng chưa thu lại được. Trong đó, dư nợ cuối kỳ được tính toán:

Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + DSCV trong kỳ - DSTN trong kỳ

Thông thường các chỉ tiêu DSCV, DSTN thường bị nhầm lẫn là những chỉ tiêu

quan trọng trong đánh giá quy mô tín dụng do đánh đồng hoạt động NH như hoạt động

của DN thông thường. Tuy nhiên, mở rộng tín dụng phải được hiểu là NH cho vay ra

thêm được bao nhiêu tức là dư nợ thay đổi như thế nào chứ không phải DSCV tăng

được bao nhiêu như mở rộng thị trường tiêu thụ hay năng lực sản xuất của DN. Tương

tự, số dư huy động vốn bình quân mới có ý nghĩa và là tiền đề để ngân hàng tổ chức

hoạt động chứ không phải doanh số huy động. Doanh số chỉ thực sự mang ý nghĩa đối

với lợi nhuận và quy mô khi nói về các loại hình dịch vụ khác của NH như bảo lãnh,

chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ... bởi đặc trưng của nó là phí phát sinh trên cơ sở

doanh số thực hiện.

* Tốc độ tăng trưởng dư nợ

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ =

Chỉ tiêu này dùng để so sánh tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm nhằm

đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm KH và tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 14

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

NH. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ càng cao thì mức độ phát triển tín dụng của NH càng ổn

định và có hiệu quả. Ngược lại, NH đang gặp khó khăn nhất là trong tìm kiếm KH và

thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.

* Tỷ lệ tăng trưởng DSCV

Tốc độ tăng trưởng DSCV= – 1

Chỉ tiêu này cũng giúp đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm KH và tình hình

thực hiện kế hoạch tín dụng của NH tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ. Tuy

nhiên, để đánh giá khả năng mở rộng tín dụng cần dựa vào dư nợ tín dụng chứ không

phải DSCV hay DSTN.

b) Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn =

Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay

DAĐT của các NHTM. Nó cho biết cứ mỗi đồng vốn huy động trung dài hạn thì có

bao nhiêu đồng sử dụng để cho vay DAĐT. Tỷ lệ trên càng gần 1 cho thấy khoản vay

tài trợ dự án chủ yếu được lấy từ nguồn vốn trung dài hạn, như thế NH có cơ sở để

đảm bảo an toàn trong sử dụng vốn, tránh được rủi ro do có sự phù hợp kỳ hạn. Tuy

vậy, không phải lúc nào NH cũng có đủ nguồn vốn tương thích để đầu tư vào khoản

mục tài sản có này mà còn sử dụng thêm nguồn vốn ngắn hạn, nhưng phải đảm bảo

các quy định an toàn vốn. Thông qua chỉ tiêu này, NH sẽ kịp thời đưa ra các giải pháp

nhằm cân đối cơ cấu nguồn vốn cho vay trung và dài hạn để đáp ứng những điều kiện

về an toàn. Đặc biệt, khi xem xét chỉ tiêu này, cần thiết phải xét lại quy mô dư nợ để

có thể đưa ra kết luận xác đáng hơn bởi không phải lúc nào tỷ lệ nằm ở con số xấp xỉ 1

cũng tốt. Đôi khi, nguồn vốn huy động được ít cũng như dư nợ NH nhỏ bé và không

tăng trưởng cũng làm tỷ lệ xấp xỉ 1.

c) Chỉ tiêu về dư nợ

Tỷ trọng cho vay DAĐT =

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 15

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Dựa vào chỉ tiêu này, NH biết được dư nợ cho vay DAĐT chiếm bao nhiêu %

so với tổng dư nợ NH trong từng thời kỳ nhất định. Tỷ lệ này càng cao thể hiện sự chú

ý phát triển cho vay DAĐT của NH cho các DN trong nền kinh tế. Nhìn chung NH

mong muốn tỷ lệ này cao bởi tín dụng trung dài hạn mang lại thu nhập cao. Không

những thế, tín dụng trung dài hạn còn giúp mở rộng tín dụng ngắn hạn thông qua uy

tín, sự gắn kết với các DN trong thời gian dài khiến DN có ý định trở lại hợp tác với

NH đã có giao dịch trong quá khứ. Tuy nhiên, cũng cần phải thận trọng bởi lợi nhuận

cao luôn đi kèm với rủi ro lớn, NH cần căn cứ vào quy mô vốn, khả năng và cơ cấu

huy động vốn cũng như trình độ quản lý các khoản vay dài hạn để xác định tỷ lệ này

phù hợp.

Nếu chỉ tiêu trên tăng liên tục qua nhiều thời kỳ có thể nói rằng dư nợ cho vay

DAĐT đang có xu hướng tăng. Dù vậy, khi đánh giá cần xem xét cả số tương đối và số

tuyệt đối để có được cái nhìn toàn diện.

d) Chỉ tiêu quay vòng vốn

Trong tài chính DN, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu vòng quay

để đánh giá hiệu quả hoạt động. Tương tự như thế, NH cũng đánh giá chỉ tiêu này để

xem xét hiệu quả tín dụng. Cụ thể:

Vòng quay vốn =

Hoặc:

Vòng quay vốn =

Trong đó, DSTN bao gồm tất cả các khoản thu vốn gốc mà KH trả trong năm

tài chính kể cả vốn thanh toán kết thúc HĐ hay vốn gốc thanh toán một phần.

Chỉ tiêu trên phản ánh tỷ lệ giữa DSTN DAĐT với dư nợ bình quân, đo lường

tốc độ luân chuyển vốn tín dụng. Qua đó có thể thấy được khả năng mở rộng cho vay

và hiệu quả công tác thu nợ của NH. Vòng quay vốn tín dụng càng lớn thì việc đưa

vốn vào hoạt động kinh doanh của NH càng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, khác với cho vay

ngắn hạn, thông thường tỷ lệ này ở cho vay trung dài hạn thường nhỏ hơn 1 bởi cho

vay trung dài hạn có thời gian dài nên dư nợ bình quân thường lớn hơn DSTN trong

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 16

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

năm đó. Khi vòng quay càng lớn hoạt động cho vay và công tác thu nợ của NH đối với

các khoản cho vay dự án có chất lượng tốt, bởi lẽ điều này đạt được khi quy mô cho

vay được mở rộng và hầu hết các khoản vay đến hạn trong năm đó được thu hồi đầy

đủ. Ngược lại, tỷ lệ càng thấp cho thấy cả cho vay và thu nợ đều đang gặp khó khăn.

e) Chỉ tiêu nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Theo thông tư 02/2013-NHNN, “nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc

toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn theo quy định trên HĐ tín dụng”. Tỷ lệ nợ quá

hạn là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả cho vay DAĐT, nó cho biết khái quát về

nợ quá hạn của NH trong cho vay DAĐT. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ việc sử dụng

nguồn vốn trong cho vay DAĐT là có hiệu quả, thu nợ diễn ra thuận lợi và các DN có

khả năng trả nợ đúng hạn cho NH. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các nguyên nhân cả

khách quan lẫn chủ quan ảnh hưởng tới nợ quá hạn căn cứ tình hình cụ thể từng địa

phương cũng như toàn nền kinh tế. Thông thường, trong điều kiện kinh tế suy thoái,

hầu hết DN đều bị ảnh hưởng nên việc thanh toán nợ đúng hạn khá khó khăn. Khi đó,

gần như các NH đều có tỷ lệ nợ quá hạn tăng so với thông thường. Nguyên nhân phát

sinh nợ quá hạn trong cho vay DAĐT còn có thể do định kỳ trả nợ không hợp lý, hay

các nhân tố khách quan khiến dự án không đúng tiến độ. Tuy nhiên, đây không phải là

một chỉ tiêu đánh giá hoàn hảo bởi trong nợ quá hạn còn bao gồm cả nợ nhóm 1, nhóm

2, nhóm nợ vẫn được xem là an toàn. Do vậy, để đánh giá chính xác hơn cần xem xét

cả chỉ tiêu nợ xấu.

f) Chỉ tiêu nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu =

Nợ xấu hay nợ phân loại là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo quyết định

493/2005/QĐ-NHNN gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất

vốn. Đối với các khoản nợ xấu này, NH cần phải trích lập dự phòng theo tỷ lệ nhất

định nên làm sụt giảm lợi nhuận do phải đội thêm một khoản chi phí tín dụng. Nhìn

vào nợ xấu còn có thể đánh giá khả năng quản lý, hiệu quả tín dụng của mỗi NH. Do

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 17

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

vậy, duy trì một tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp luôn là một nhiệm vụ mà bất cứ định chế nào

hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đều quan tâm.

Chỉ tiêu này cho biết nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm dư nợ hiện tại của hoạt

động cho vay DAĐT. Tỷ lệ nợ xấu cao thì việc thu hồi vốn của NH khó khăn ảnh

hưởng đến hiệu quả cho vay và ngược lại.

Ngoài ra, có thể xem xét thêm chỉ tiêu về tỷ trọng nợ xấu cho vay DAĐT trong

tổng nợ xấu của NH. Qua đó có thể nhận biết nợ xấu của hoạt động cho vay DAĐT

chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng số nợ xấu của toàn bộ hoạt động tín dụng. Nhờ

vậy, NH phát hiện hoạt động tín dụng nào đang gặp nhiều khó khăn trong thu hồi nợ

và nguyên nhân do đâu để tập trung đưa ra những biện pháp xử lý phù hợp.

g) Chỉ tiêu lợi nhuận

Tỷ trọng lợi nhuận từ cho vay DAĐT =

Lợi nhuận là mục tiêu mà bất cứ tổ chức kinh tế nào cũng hướng đến. NH với

vai trò là một trung gian chuyển giao vốn để dòng chảy kinh tế được thông suốt đồng

thời cũng hướng đến mục tiêu lợi nhuận như bao DN thông thường khác để có thể tồn

tại và phát triển hoạt động của mình. Lợi nhuận của NH được tạo ra trên cơ sở số dư

tín dụng, mức lãi suất và thời gian. Nếu lãi suất cho vay là không thay đổi thì lợi

nhuận tín dụng thu được nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào các yếu tố là dư nợ bình quân

và thời hạn cho vay.

Chỉ tiêu trên cho biết trong 1 đồng lợi nhuận của NH có bao nhiêu đồng do cho

vay DAĐT tạo ra, nó thể hiện vị trí của cho vay DAĐT trong hoạt động NH. Liệu cho

vay DAĐT có tạo ra lợi nhuận tương xứng với vị trí của nó trong toàn bộ các hoạt

động hay không? Tỷ lệ này cao chứng tỏ hầu hết lợi nhuận của NH đạt được là từ hoạt

động cho vay dự án, diễn ra khi quy mô cho vay DAĐT chiếm một tỷ trọng lớn trong

cơ cấu tài sản và hoạt động được thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên, khi tỷ trọng cho vay

DAĐT lớn lại đồng nghĩa với rủi ro cao, thực tế này đòi hỏi ngân hàng phải quản lý

nghiệp vụ cho vay dự án một cách chặt chẽ và khoa học.

Ngoài ra còn có thể xem xét những chỉ tiêu như:

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 18

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

: Phản ánh khả năng sinh lời của cho vay

DAĐT. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ hiệu quả cho vay càng cao.

: Phản ánh hiệu quả của cho vay DAĐT và vai trò của

nó trong toàn bộ hoạt động tín dụng NH.

: Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời trên tổng tài

sản của NH đối với cho vay DAĐT.

1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay DAĐT của NHTM.

Hiệu quả cho vay DAĐT là một khái niệm tổng hợp có liên quan đến nhiều

chủ thể, nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, cho vay đầu tư có mang lại hiệu quả như

mong đợi hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó có thể phân chia thành:

nhóm nhân tố thuộc KH, nhóm nhân tố chủ quan thuộc mỗi NH và nhóm nhân tố

thuộc môi trường.

1.3.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về NH

a) Quy mô và cơ cấu nguồn vốn của NH theo kỳ hạn

Muốn thỏa mãn nhu cầu vay vốn của KH, NH trước hết cần có nguồn vốn

với quy mô thích hợp dùng trong cho vay. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, duy trì

thanh khoản an toàn luôn là vấn đề sống còn đối với mỗi NH, do vậy, có được

nguồn vốn mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là NH phải cân đối nguồn vốn

dùng trong từng khoản mục cho vay theo sự phù hợp kỳ hạn. Như vậy, cho vay

DAĐT của NH phải được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn trung và dài hạn. Đây là

nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên hoặc các nguồn vốn có thời hạn dưới một

năm nhưng tính ổn định cao.

Nếu NH có được nguồn vốn dồi dào, nhưng lại chủ yếu là ngắn hạn thì hiển

nhiên, NH sẽ không đủ khả năng cũng như không nên mở rộng tín dụng trung dài hạn,

trong đó có tài trợ DAĐT. Quy mô các nguồn vốn trung dài hạn càng lớn sẽ tạo điều

kiện cho NH tăng trưởng dư nợ và doanh số mà vẫn đảm bảo cân đối kỳ hạn trong

nguồn vốn sử dụng để tài trợ tín dụng trung dài hạn.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 19

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

b) Năng lực thẩm định DAĐT, thẩm định KH.

Một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT của NH là vốn gốc

và lãi vay phải được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Điều này không thể thực hiện nếu

dự án không đem lại hiệu quả như mong đợi, DN không có thiện chí trả nợ hoặc có ý

định lừa đảo. Để hạn chế nguy cơ này, NH cần thực hiện tốt công tác thẩm định dự án,

thẩm định KH. Thông thường thẩm định KH sẽ được tiến hành trước và chủ yếu tập

trung vào: khả năng quản lý, tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, mức độ

tín nhiệm... Những KH đáp ứng được yêu cầu NH đưa ra thì DAĐT của DN sẽ được

xem xét.

Đây là một vấn đề được các NH rất quan tâm và đều có quy định hướng dẫn cụ

thể cho cán bộ nhân viên. Điều quan trọng đặt ra là các thủ tục, điều kiện, tiêu chuẩn

sử dụng làm căn cứ đánh giá KH và DAĐT phải hợp lý. Nếu thủ tục quá rườm rà, các

điều kiện tiêu chuẩn quá khắt khe, không phù hợp với thực tế sẽ làm nản lòng KH

hoặc có ít KH thoả mãn được yêu cầu dẫn tới mất KH vào tay đối thủ cạnh tranh, hạn

chế mở rộng tín dụng. Ngược lại, nếu quy trình, điều kiện đặt ra không chặt chẽ có thể

khiến NH gặp sai lầm đáng tiếc trong việc ra quyết định cho vay, tiềm ẩn rủi ro tín

dụng cao. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động các NH phải không ngừng nâng cao

trình độ thẩm định để chọn lọc được những KH “tốt”, những dự án khả thi làm tiền đề

nâng cao hiệu quả cho vay dự án nói riêng và tín dụng nói chung, góp phần nâng cao

lợi nhuận.

c) Năng lực giám sát, xử lý các tình huống xảy ra trong thời gian cho vay

DADĐT.

Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định KH được thực hiện tốt, giúp NH

lựa chọn được những KH đáng tin cậy, những dự án khả thi có khả năng sinh lời cao

thì rủi ro vẫn chưa hoàn toàn được loại bỏ bởi thời gian kéo dài khiến các tình huống

xấu ngoài dự kiến dễ dàng phát sinh. Chính vì vậy, công tác giám sát, xử lý các tình

huống tín dụng sau khi giải ngân rất cần thiết.

Hoạt động giám sát bao gồm: đảm bảo KH sử dụng vốn đúng mục đích; dự án

thực hiện đúng tiến độ, tài sản được sử dụng, bảo quản đúng mục đích... Thông qua sát

sao theo dõi, NH có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực từ

phía KH như sử dụng vốn sai mục đích, hành vi lừa đảo. Ngoài ra, NH cũng có thể

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 20

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

nhận biết khó khăn trong quá trình thực hiện dự án của DN để có biện pháp phù hợp

giúp đỡ KH như gia hạn nợ hay cho vay thêm...

d) Chính sách tín dụng (CSTD)

“CSTD là hệ thống các quan điểm, chủ trương, định hướng quy định chỉ đạo

hoạt động tín dụng và đầu tư của NH, phù hợp với chiến lược phát triển của NH và những quy định pháp lý hiện hành”[1].

Với ý nghĩa như vậy, CSTD có tác động lớn đến hiệu quả tín dụng của NH nói

chung và cho vay DAĐT nói riêng. CSTD với các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn

tín dụng với từng KH; từng lĩnh vực tài trợ; biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình

quản lý tín dụng; lãi suất... đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả cho

vay DAĐT. Trong từng thời kỳ với bối cảnh kinh doanh khác nhau NH sẽ đưa ra

CSTD cụ thể nhằm hạn chế hay khuếch trương tín dụng trung dài hạn nhưng nhìn

chung, mọi NH đều hướng đến xây dựng một CSTD đạt mục tiêu cân bằng giữa lợi

nhuận và rủi ro.

e) Thông tin tín dụng

Để quản lý hoạt động có hiệu quả, thông tin luôn là căn cứ cần thiết. Tuy nhiên,

quan trọng là nguồn thông tin thu thập được không chỉ phong phú mà còn phải đảm

bảo tính chính xác và kịp thời. Sử dụng thông tin trong tín dụng đóng vai trò không

nhỏ trong thành công của nghiệp vụ NH quan trọng này.

Thông tin dùng trong nghiệp vụ tài trợ DAĐT có thể kể đến như thông tin về dự

án, về KH, về tình hình kinh tế,... thu thập từ hồ sơ KH, phỏng vấn trực tiếp KH, trung

tâm thông tin tín dụng CIC hay từ các phương tiện thông tin đại chúng... Đây là căn cứ

giúp NH đưa ra các quyết định trong cho vay, theo dõi sử dụng vốn vay, tiến độ dự án,

quá trình trả nợ hay xây dựng, sửa đổi kế hoạch kinh doanh, CSTD linh hoạt và phù

hợp với tình hình thực tế từng giai đoạn.

f) Công nghệ NH

Công nghệ NH và trang thiết bị kỹ thuật cũng là một trong những nhân tố tác

động đến hiệu quả cho vay DAĐT, đặc biệt trong bối cảnh khoa học công nghệ phát

triển mạnh mẽ như hiện nay. Một NH sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị các

phương tiện kỹ thuật cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao

dịch, đem lại tiện ích tối đa cho KH vay vốn. Đó là tiền đề để thu hút thêm KH và mở

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 21

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

rộng tín dụng. Sự hỗ trợ của công nghệ cũng giúp thu thập thông tin, lập kế hoạch, xây

dựng CSTD và chương trình chấm điểm, xếp hạng tín dụng các DN nhanh chóng và

chính xác.

1.3.4.2. Nhóm nhân tố thuộc về KH

a) Nhu cầu đầu tư

Bất kỳ hàng hoá, dịch vụ nào muốn tiêu thụ trên thị trường đều cần nhu cầu của

mọi người với hàng hóa hay dịch vụ đó. Tín dụng NH, mặc dù là một hàng hóa đặc

biệt, cũng không loại trừ thuộc tính này bởi NH không thể đưa ra các sản phẩm tín

dụng trong khi nhu cầu về loại hình tín dụng đó không hiện hữu.

Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển luôn

luôn cần thiết nhưng với từng NH riêng biệt, nhu cầu này không phải lúc nào cũng

hiện hữu. Điều này phụ thuộc vào nhóm KH mà NH hướng tới, đối tượng đó có nhu

cầu đầu tư và điều kiện để đầu tư hay không. Ví như trong bối cảnh kinh tế sa sút, đầu

ra không đảm bảo, mãi lực lưu thông yếu, môi trường chính trị không ổn định, DN đã

rất chật vật trong duy trì hoạt động hiện tại chứ chưa thể nói tới phát sinh hay gia tăng

nhu cầu đầu tư.

b) Khả năng của KH trong đáp ứng điều kiện NH đưa ra.

Để đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro trong kinh doanh NH luôn đặt ra những điều

kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại và lựa chọn những đối tượng KH phù hợp.

Chỉ những KH đáp ứng được các yêu cầu đưa ra mới được xem xét tài trợ. Những điều

kiện, tiêu chuẩn này có thể khác nhau tuỳ theo đặc thù của từng NH, song nhìn chung

các NH đều quan tâm đến những vấn đề như:

Mục đích sử dụng vốn phải hợp lý, hợp pháp và có hiệu quả. Vốn vay phải được

sử dụng đúng pháp luật, phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế và dùng để phục

vụ cho nhu cầu đầu tư cho dự án.

Năng lực tài chính của DN phải được chứng minh là đảm bảo. Yêu cầu này

thường đề cập tới tỷ trọng và quy mô vốn tự có của DN tham gia vào dự án. Quy mô

và tỷ trọng càng cao cho thấy tiềm lực tài chính càng lớn mạnh của DN, kích thích DN

nâng cao trách nhiệm trong thực hiện dự án. Các báo cáo tài chính của DN, tình hình

sản xuất kinh doanh hiện tại cũng được thẩm tra để xem xét khả năng duy trì tài chính

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 22

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

ổn định trước khi đầu tư cũng như khả năng đầu tư và tìm kiếm lợi nhuận từ dự án

nhằm hoàn trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho NH.

NH còn đưa ra quy định về năng lực sản xuất kinh doanh thể hiện ở quy mô,

năng suất, khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng, giá cả và hay triển vọng

mở rộng sản xuất.

Tiếp đến, dự án phải có tính khả thi, tức là dự án được thực hiện để đáp ứng

nhu cầu thị trường, nhu cầu phát triển của DN, phù hợp với phương hướng phát triển

kinh tế. DN huy động được nguồn tài lực, vật lực có đủ khả năng thực hiện, quản lý dự

án. Đây được xem là nhân tố bắt buộc đối với mỗi DAĐT.

Cuối cùng là yêu cầu về tài sản bảo đảm tiền vay. Mục đích của yêu cầu này là

nhằm hạn chế một phần tổn thất khi rủi ro xảy ra mà KH không còn nguồn trả nợ nào

khác. Hình thức bảo đảm thường là cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh. Thẩm định giá trị

TSĐB cũng là một trong những căn cứ giúp NH xác định mức cho vay phù hợp. Song

cần lưu ý, TSĐB đóng vai trò không nhỏ để nâng cao thiện chí, hiệu quả điều hành

hoạt động dự án của DN nhưng không phải là điều kiện tiên quyết trong quyết định

cho vay của NH. Lý do là bởi về nguyên tắc, các NH đều thẩm định và đánh giá đầy

đủ các yếu tố khách quan và nội tại của KH và dự án để đi tới quyết định cho vay,

đồng thời mong muốn KH trả nợ nhờ lợi nhuận dự án tạo ra chứ không hề trông mong

vào việc xử lý TSĐB để thu hồi vốn cho vay. Vì thế, nếu chỉ coi trọng thẩm định

TSĐB mà xem nhẹ các điều kiện khác thì NH đã tự biến mình thành “tiệm cầm đồ”.

Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường bất động sản trầm lắng, thanh khoản thấp những

năm trở lại đây, các NH đang có xu hướng thắt chặt điều kiện TSĐB như một hàng rào

sàng lọc KH xấu và là một trong những biện pháp cần được coi trọng để phòng ngừa

rủi ro tín dụng.

c) Khả năng KH trong quản lý, sử dụng vốn vay

Khi cho vay, NH trông đợi thu nợ từ chính kết quả hoạt động của dự án chứ

không phải thông qua phát mại tài sản thế chấp cầm cố. Điều này phụ thuộc rất lớn vào

hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của KH. Có nhiều yếu tố bảo đảm cho việc sử

dụng vốn vay của KH đạt hiệu quả cao trong đó có một số nhân tố giữ vai trò quyết

định như vị thế, năng lực DN, năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân sự về

chuyên môn, khả năng quản lý, đạo đức và thiện chí của KH.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 23

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

1.3.4.3. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường

a) Môi trường tự nhiên

Tác động của môi trường tự nhiên đến hiệu quả cho vay DAĐT không thể hiện

trực tiếp và rõ ràng mà ảnh hưởng gián tiếp thông qua hiệu quả đầu tư của DN, đặc

biệt là các dự án có liên quan tới nông lâm ngư nghiệp. Điều kiện tự nhiên thuận lợi

hay bất lợi dẫn đến những hiệu quả đầu tư khác nhau, ảnh hưởng tới quá trình hoạt

động tạo thu nhập của dự án hay bảo quản các tài sản, công trình, qua đó tác động đến

khả năng trả nợ cho NH.

Môi trường tự nhiên cũng thuộc nhóm các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu

tư của DN. Những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho từng hoạt động khác nhau

như nuôi trồng, chế biến nông sản, khoáng sản... sẽ kích thích DN đầu tư nhằm tạo

dựng cơ sở ban đầu, mở rộng cơ sở hiện có hay phát triển các ngành phụ trợ.

b) Môi trường kinh tế

Rủi ro thị trường là rủi ro mang tính hệ thống, ảnh hưởng đến tất cả thành phần

trong nền kinh tế, gồm cả NH và KH đi vay. Do đó, biến động kinh tế bất kể theo

chiều hướng nào đều tác động tới hiệu quả cho vay nói chung và nghiệp vụ tài trợ cho

DAĐT nói riêng. Những thay đổi của môi trường kinh tế có thể kể đến như thay đổi tỷ

giá, lãi suất, lạm phát... hay các biến động của các nền kinh tế lớn trên thế giới đặc biệt

là trong điều kiện toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay. Môi trường kinh tế có thể ảnh

hưởng trực tiếp đến NH làm khả năng đáp ứng nhu cầu vay của KH suy giảm hay tác

động tới hiệu quả dự án làm DN gặp trở ngại trong hoàn trả nợ hay hình thành các dự

án mới khác để tiếp tục quá trình tái sản xuất.

c) Môi trường chính trị - xã hội

Tình hình thế giới với nhiều bất ổn còn tồn tại như vấn nạn khủng bố, xung đột

sắc tộc... khiến môi trường chính trị xã hội luôn là một yếu tố được các nhà đầu tư

quan tâm trong lựa chọn vị trí hay loại hình đầu tư. Một vùng, một quốc gia có nền

chính trị - xã hội ổn định sẽ thu hút sự quan tâm nhiều hơn của các nhà đầu tư. Trong

môi trường ổn định, DN sẽ yên tâm thực hiện mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín

dụng NH sẽ tăng lên. Ngược lại khi bất ổn thường xuyên xảy ra, DN sẽ thu hẹp sản

xuất để bảo toàn vốn, hạn chế rủi ro nên nhu cầu vay vốn cũng giảm sút theo.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 24

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

d) Môi trường pháp lý

Một dự án thường hoạt động trong thời gian kéo dài và liên quan tới nhiều văn

bản quy định về quản lý tài chính trong DN, thuế... Do đó, nếu các văn bản luật này

không có tính ổn định hay thiếu rõ ràng, minh bạch, chồng chéo sẽ làm thay đổi tính

khả thi của dự án theo thời gian và gây khó khăn cho NH trong đánh giá các chỉ tiêu

hiệu quả, dự báo rủi ro, làm đảo lộn mọi con số tính toán về lợi nhuận và khả năng thu

hồi vốn của NH.

Môi trường pháp lý không chặt chẽ, nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hội cho

các DN yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo NH. Đây là lý khiến

các nhà đầu tư trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh

doanh do đó hạn chế nhu cầu vay vốn tín dụng NH. Các quy định rườm rà, phức tạp,

cùng cơ chế còn nhiều bất cập cũng làm nản lòng không ít nhà đầu tư, nhất là trong thu

hút FDI.

Vì vậy, cải thiện môi trường đầu tư sao cho thông thoáng với những quy định

được giảm tải, đơn giản hóa và cởi mở đang là một trong những vấn đề bức thiết hiện

nay ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NAM

2.1. Khái quát về NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

2.1.1 Sự ra đời và phát triển

BIDV là NHTM nhà nước, ra đời ngày 26/04/1957 theo QĐ 177/TTg của Thủ

tướng Chính phủ với tên gọi NH Kiến Thiết Việt Nam, trực thuộc Bộ Tài chính. Chức

năng, nhiệm vụ của NH lúc bấy giờ là căn cứ kế hoạch, dự toán kiến thiết cơ bản đã

được phê duyệt để cấp phát vốn kịp thời, quản lý vốn do NSNN cấp và vốn tự có vào

công cuộc kiến thiết cơ bản. Ngoài ra, NH còn cho các Xí nghiệp nhận thầu quốc

doanh vay ngắn hạn theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.

Ngày 26/06/1981, NH Kiến Thiết Việt Nam được đổi tên thành NH Đầu tư

và Xây dựng Việt Nam trực thuộc NHNN Việt Nam theo QĐ 259-CP của Hội đồng

chính phủ. Sau đó, vào ngày 14/11/1990, NH có tên gọi mới là NH Đầu tư và Phát

triển Việt Nam theo QĐ 401/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng. Đến ngày

07/03/1994, thực hiện chủ trương cơ cấu lại các DNNN theo QĐ 90/TTg của Thủ

tướng Chính phủ, NH chuyển sang hoạt động theo mô hình Tổng công ty nhà nước

với thời hạn hoạt động là 99 năm. Cho tới nay, NH giữ vị thế chiến lược là một

trong những NH lớn nhất tại Việt Nam, có chức năng huy động vốn trung dài hạn

trong và ngoài nước để đầu tư phát triển kinh doanh đa năng trong lĩnh vực tiền tệ

tín dụng, dịch vụ NH và phi NH, phục vụ KH thuộc mọi thành phần kinh tế, là NH

đại lý phục vụ cho đầu tư và phát triển các nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức

kinh tế - tài chính - tín dụng trong và ngoài nước. NH có tổng cộng 5 công ty con

bao gồm: Công ty Cho thuê Tài chính TNHH MTV BIDV, Công ty TNHH Quản lý

Nợ và Khai thác Tài sản BIDV, Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV, Tổng công ty

cổ phần Bảo hiểm BIDV, Công ty TNHH BIDV Quốc tế. Thực hiện cổ phần hóa

theo định hướng tái cơ cấu của Chính phủ sau khi IPO thành công vào cuối năm

2011 tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, NH chính thức gia nhập nhóm các

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 26

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

NHTM quốc doanh và là một trong 8 NH có mức vốn điều lệ trên 9,000 tỷ đồng tại

Việt Nam sau thương vụ hợp nhất 3 NH đầu tiên ở nước ta. Trong gần 60 năm ra

đời, hoạt động của hệ thống BIDV đã hoàn thành nhiệm vụ Nhà nước giao phó,

thực hiện tốt các mục tiêu kiềm chế, kiểm soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh

tế thông qua các nghiệp vụ của mình.

Để phát triển hoạt động, tiếp cận và phục vụ số lượng KH ngày một tăng, mỗi

NH đều mở rộng mạng lưới tới nhiều địa phương trên cả nước và ngoài lãnh thổ.

Không nằm ngoài xu hướng này, BIDV phát triển cơ sở tại tất cả 63 tỉnh thành trong

nước với 116 chi nhánh và sở giao dịch, 376 phòng giao dịch (PGD), 150 quỹ tiết

kiệm và 1,295 máy ATM, trở thành một trong 3 NHTM có mạng lưới rộng nhất Việt

Nam. Các chi nhánh ở địa phương thực hiện sự uỷ nhiệm của hội sở chính góp phần

ổn định thị trường tiền tệ qua thực thi các công cụ CSTT như tỷ giá, lãi suất, dự trữ bắt

buộc, nghiệp vụ thị trường mở theo các nguyên tắc thị trường, tạo điều kiện phát triển

sản xuất, tiêu dùng và kích thích đầu tư.

Là một phần của hệ thống BIDV Việt Nam, chi nhánh BIDV Quảng Nam thành

lập ngay từ khi tái lập tỉnh Quảng Nam đầu năm 1997 theo QĐ số 264/QĐ ngày

20/12/1996 (được nâng cấp từ cơ sở chi nhánh BIDV Thị xã Tam Kỳ trực thuộc chi

nhánh BIDV tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ). Trong quá trình hoạt động, BIDV

Quảng Nam đã khẳng định uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài trợ vốn ngắn hạn và đầu

tư dự án cho DN thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ tại địa

phương, luôn gắn hoạt động của mình với xây dựng và phát triển kinh tế của tỉnh nhà

cũng như sự phát triển của hệ thống trên toàn quốc.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh BIDV Quảng Nam

2.1.2.1. Chức năng

Chi nhánh BIDV tại Quảng Nam thực hiện chức năng trung gian tín dụng, giữ

vai trò là cầu nối - huy động vốn từ người thừa vốn và cung ứng tín dụng cho người

thiếu vốn trên địa bàn tỉnh. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, chi nhánh đảm

bảo chức năng trung gian thanh toán của mình bằng việc nhận tiền gửi, mở tài khoản

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 27

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

cho các KH trên địa bàn để theo dõi các khoản thu chi và giúp KH thanh toán qua NH.

Đồng thời, chi nhánh còn tham gia tạo tiền theo sự chỉ đạo của NHNN Việt Nam.

2.1.2.2. Nhiệm vụ

BIDV Quảng Nam là pháp nhân hoạt động theo điều lệ hệ thống BIDV, tiến

hành kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng và dịch vụ NH

trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận

cho NH, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phát triển kinh tế đất nước.

2.1.2.3. Sản phẩm và dịch vụ tại BIDV Quảng Nam

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, BIDV không ngừng mở rộng

và phát triển các sản phẩm mới, từ các sản phẩm truyền thống cho tới các hoạt động

dịch vụ để không ngừng đáp ứng nhu cầu của KH. Sản phẩm dịch vụ tại chi nhánh

bao gồm:

 Sản phẩm tiền gửi

Sản phầm tiền gửi gồm tiền gửi các tổ chức kinh tế như tiền gửi thanh toán,

tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi dân cư như kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi tiết

kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn và các hình thức huy động tiền gửi khác theo quy

định của pháp luật (tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm sơ sinh, tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm

rút dần…).

 Sản phẩm thị trường tiền tệ và ngoại hối

Trên thị trường tiền tệ và ngoại hối, chi nhánh thực hiện nhận gửi và cho vay

liên NH, mua bán ngoại tệ dưới hình thức giao ngay, kỳ hạn hay hoán đổi và phát triển

các sản phẩm phái sinh tiện ích khác phục vụ yêu cầu của KH như hoán đổi lãi suất,

quyền chọn…

 Sản phẩm thị trường vốn và quản lí tài sản

Các sản phẩm thuộc lĩnh vực này bao gồm đầu tư trái phiếu theo lãi suất cố

định hoặc lãi suất thả nổi và hợp đồng mua lại.

 Sản phẩm tín dụng

Sản phẩm tín dụng tại chi nhánh rất đa dạng, linh hoạt đáp ứng nhu cầu của KH,

gồm có: cho vay cá nhân; cho vay tiêu dùng, cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá; cho

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 28

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

vay đối ứng bằng tiền gửi; cho vay mua nhà; sơn sửa nhà cửa; cho vay các tổ chức

kinh tế; cho vay theo món; cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay theo DAĐT; cho

vay hợp vốn; đồng tài trợ; cho vay trả góp; cho vay theo hạn mức thấu chi; bao thanh

toán và chiết khấu hóa đơn hay chiết khấu chứng từ.

 Sản phẩm tài trợ thương mại

Các sản phẩm tài trợ thương mại được phân chia thành tài trợ xuất khẩu và tài

trợ nhập khẩu. Trong nghiệp vụ tài trợ xuất khẩu có các nghiệp vụ thông báo, chuyển

nhượng thư tín dụng (L/C); nhờ thu hàng xuất; chiết khấu bộ chứng từ; tài trợ xuất

khẩu trước và sau khi giao hàng; tín dụng trọn gói. Đối với tài trợ nhập khẩu, chi

nhánh thực hiện mở L/C; thanh toán L/C trả ngay hoặc trả chậm; ký hậu vận đơn; bảo

lãnh nhận hàng và biên lai tín thác. Trong tài trợ thương mại, chi nhánh còn thực hiện

nghiệp vụ xác nhận L/C; thông báo, phát hành, xác nhận bảo lãnh và bảo lãnh đối ứng.

 Sản phẩm chuyển tiền: NH thực hiện các nghiệp vụ chuyển tiền đi, chuyển

tiền đến; mua/bán séc lữ hành và mua/bán tiền mặt ngoại tệ.

 Sản phẩm và dịch vụ khác

Bên cạnh các sản phẩm truyền thống kể trên, NH còn tiến hành hùn vốn và liên

doanh, liên kết trong và ngoài nước; cung cấp dịch vụ đầu tư chứng khoán thông qua

Công ty chứng khoán BIDV (BSC); làm NH đại lý cho vay đồng tài trợ ủy thác với

các nguồn hỗ trợ phát triển trong nước và quốc tế, NH chỉ định thanh toán cho Sở Giao

dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Chi nhánh cũng thực hiện nghiệp vụ cho

thuê tài chính thông qua Công ty cho thuê tài chính BIDV (BLC) và tư vấn tài chính,

đầu tư cho KH. Các dịch vụ hỗ trợ khác bao gồm rút tiền tự động (ATM), thanh toán

qua mạng (Homebanking) và chi trả lương tự động qua thẻ ATM.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 29

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và quy mô hoạt động của chi nhánh

Phòng Quan hệ KH 1

KHỐI QUAN HỆ KH

Phòng Quan hệ KH 2

Phòng Quản lý rủi ro

KHỐI QUẢN LÝ RỦI RO

Phòng Quản Trị Tín Dụng

Phòng Quan hệ KH

KHỐI TÁC NGHIỆP

Phòng quản Lý và Dịch Vụ Kho Quỹ

C

Phòng Kế hoạch- Tổng hợp

M Á I G N A B

Đ

Phòng Tổ chức-hành chính

Phòng Tài chính- Kế toán

KHỐI QUẢN LÝ NỘI BỘ

Tổ điện toán

Phòng giao dịch Hội An

Phòng giao dịch 562 PCT

Phòng giao dịch Chu Lai

Phòng giao dịch Điện Bàn

KHỐI TRỰC THUỘC

Phòng giao dịch Điện Nam- Điện Ngọc

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức các phòng ban tại chi nhánh

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 30

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Bộ máy tổ chức các phòng ban tại chi nhánh thực hiện theo quy chế tổ chức và

hoạt động của chi nhánh BIDV Việt Nam ban hành kèm quyết định 04888/QĐ-HĐQT

ngày 01/06/2009 của HĐQT BIDV Việt Nam. Mô hình tổ chức thực hiện theo quyết

định số 765/QĐ-HĐQT ngày 20/09/2008 của HĐQT phê duyệt về mô hình tổ chức.

Từ tháng 10/2008 chi nhánh vận hành mô hình tổ chức TA2 gồm 16 phòng, tổ nghiệp

vụ theo các khối. Trong đó chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban như sau:

 Ban giám đốc

Ban giám đốc đảm nhiệm công tác quản lý chung các công việc liên quan phát sinh

tại chi nhánh và chịu trách nhiệm trước hội sở chính về hoạt động của chi nhánh.

 Phòng quan hệ KH 1 (Phòng Khách hàng Doanh nghiệp)

Đây là bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện công tác tiếp thị và phát triển khách

hàng DN, thực hiện công tác tín dụng và các công việc tài trợ dự án bao gồm trực tiếp

thẩm định từ đầu các chỉ tiêu tài chính, kinh tế - kỹ thuật, hiệu quả dự án của KH đồng

thời đảm trách phát triển nghiệp vụ tài trợ dự án.

 Phòng quan hệ KH 2 (Phòng Khách hàng cá nhân)

Cán bộ phòng Khách hàng cá nhân làm công tác tiếp thị và phát triển KH, công

tác bán sản phẩm và dịch vụ NH bán lẻ, công tác tín dụng với KH cá nhân. Đồng thời,

phòng cũng chịu trách nhiệm thu thập, điều chỉnh, bổ sung thông tin, quản lý hồ sơ về

KH, sản phẩm và thị trường.

 Phòng quản lý rủi ro

Phòng có chức năng quản lý tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng và rủi ro tác

nghiệp, thực hiện công tác phòng chống rửa tiền, quản lý hệ thống chất lượng ISO và

đảm trách nhiệm vụ kiểm tra nội bộ.

 Phòng dịch vụ KH

Phòng dịch vụ KH trực tiếp quản lý tài khoản và giao dịch với KH, trực tiếp tác

nghiệp các giao dịch tài trợ thương mại theo đúng quy định, quy trình nghiệp vụ, thẩm

quyền và các quy định về bảo mật trong giao dịch với KH.

 Phòng quản lý và dịch vụ kho quỹ

Phòng quản lý và dịch vụ kho quỹ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ về quản lý

kho và xuất nhập quỹ. Qua quá trình tác nghiệp, phòng tiến hành đề xuất tham mưu

với Giám đốc chi nhánh về các biện pháp, điều kiện để đảm bảo an toàn kho quỹ về

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 31

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

an ninh tiền tệ, phát triển các dịch vụ về kho quỹ theo đúng quy chế, quy trình quản

lý kho.

 Phòng tổ chức hành chính

Phòng tổ chức hành chính chịu trách nhiệm hoàn thành, đảm bảo công tác tổ

chức nhân sự, công tác hành chính và quản trị hậu cần cho chi nhánh.

 Phòng quản trị tín dụng

Bộ phần này thực hiện trích lập dự phòng rủi ro và trực tiếp thực hiện tác

nghiệp quản trị cho vay, bảo lãnh với KH.

 Phòng kế hoạch tổng hợp

Phòng được giao nhiệm vụ thu thập thông tin phục vụ công tác kế hoạch tổng

hợp cho chi nhánh đồng thời là đầu mối phối hợp giải quyết các quyền và nghĩa vụ khi

có quyết định chấm dứt hoạt động của PGD hay Quỹ tiết kiệm. Phòng cũng đảm nhận

công tác pháp chế - chế độ, làm nhiệm vụ thư ký cho Ban Giám đốc và là thành viên

của một số hội đồng theo quy định.

 Phòng tài chính kế toán

Phòng tài chính kế toán có chức năng hậu kiểm chứng từ theo quy trình “luân

chuyển, kiểm soát, lưu trữ và bảo quản chứng từ”, quản lý và hạch toán, kế toán chi

tiết, kế toán tổng hợp. Qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát tài chính và đề

xuất tham mưu với Giám đốc chi nhánh về hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính, kế

toán. Bộ phận này chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời của số liệu kế

toán và các báo cáo tài chính, đảm bảo an toàn tài sản và tiền vốn của NH.

 Tổ điện toán

Các công tác kỹ thuật và công nghệ như quản lý người sử dụng, theo dõi hoạt

động hàng ngày của mạng máy tính, tổ chức vận hành hệ thống công nghệ thông tin là

nhiệm vụ của tổ điện toán tại chi nhánh.

 Các PGD

PGD trực thuộc chi nhánh trực tiếp giao dịch với KH, thực hiện huy động vốn,

tín dụng và cung cấp các dịch vụ NH khác. Phòng cũng chịu trách nhiệm thu hồi nợ

với các khoản vay đã được trụ sở chi nhánh phê duyệt.

Tới nay, chi nhánh BIDV Quảng Nam có tất cả 7 phòng nghiệp vụ, 5 PGD và 1

tổ điện toán. Tại các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh đều có sự hiện diện của NH như

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 32

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

PGD Điện Nam – Điện Ngọc, PGD Điện Bàn ở khu công nghiệp Điện Nam - Điện

Ngọc, PGD Hội An tại thành phố Hội An, PGD Chu Lai tại khu kinh tế mở phía nam

Quảng Nam và PGD số 562 Phan Chu Trinh ngoài hội sở chi nhánh đặt tại thành phố

Tam Kỳ.

2.2. Đánh giá tình hình hoạt động nói chung của chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

2.2.1. Khái quát tình hình huy động vốn của chi nhánh

Với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ, cấu trúc vốn của NH

có nhiều khác biệt so với các DN thông thường. Khoản mục vốn của NH, bao gồm vốn

tự có và coi như tự có, thuộc sở hữu NH nhưng không chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cơ cấu

vốn NH mang đặc điểm của một định chế nhận tiền gửi và cho vay, do đó vốn thu hút

từ bên ngoài có quy mô lớn hơn nhiều so với vốn của NH. Trong số này vốn tiền gửi là

nguồn quan trọng nhất. Xem xét và phân tích tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động

là cơ sở để hiểu được nguồn lực của NH cũng như cách NH sử dụng nguồn lực đó, có

hợp lý hay không và hiệu quả như thế nào?

Biểu đồ 2.1. Số dư vốn huy động thời điểm 31/12 giai đoạn 2011 – 2013 tại chi nhánh

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Năm 2011 BIDV Quảng Nam gặp khó khăn trong huy động với số dư cuối kỳ

chỉ có 760,000 triệu đồng (chỉ chiếm hơn 33% tổng nguồn vốn). Sau đó, vốn huy động

cuối kỳ các năm 2012 và 2013 đã có sự tăng trưởng trở lạivới tốc độ trung bình gần

46%. Đây là tốc độ tăng trưởng khá nhanh bởi tính trên địa bàn, huy động năm 2012

chỉ tăng trên 24% và năm 2013 chậm lại còn 14.5% (thấp nhất trong các năm). Số dư

vốn huy động vẫn tăng nhanh tại chi nhánh sau khi NHNN xử lý mạnh tay tình trạng

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 33

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

“vượt rào” lãi suất là minh chứng cho niềm tin vào quy mô, uy tín và rủi ro thấp hơn

khi gửi tiền vào các NHTMNN của nhiều tầng lớp dân cư. (Phụ lục 1)

Tuy vậy xét về kỳ hạn, điểm đặc biệt có thể dễ dàng nhận thấy vào cuối năm tài

chính 2011 là vốn trung dài hạn chỉ còn chưa tới 40 triệu đồng. Vấn đề này cần được

chú ý bởi đây là nguồn vốn chủ yếu dùng trong nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn,

nguồn vốn sụt giảm mạnh như vậy khiến tại thời điểm này NH phải sử dụng thêm vốn

ngắn hạn để tài trợ cho tín dụng trung dài hạn, nếu kéo dài sẽ gây nhiều nguy hiểm tới

an toàn thanh khoản. Tình trạng trên, ngoài tập quán gửi tiền trong thời gian ngắn của

người dân, còn bắt nguồn từ việc áp trần lãi suất huy động ở mức14% vào năm 2011.

Đồng thời, lạm phát năm 2011 gần cán mốc 20% và thị trường vàng, ngoại tệ nhiều

biến động gây mất niềm tin vào đồng nội tệ, đặc biệt là trong dài hạn. Tuy nhiên, cùng

kỳ năm tiếp theo, số dư huy động trung dài hạn có bước nhảy vọt, tăng lên hàng chục

nghìn lần và tiếp tục tăng hơn 60% trong năm 2013. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy

sự cân bằng trở lại trong cơ cấu vốn, đảm bảo an toàn thanh khoản, tạo điều kiện cho

NH phát triển tín dụng trung dài hạn cung cấp vốn cho nền kinh tế và mang lại lợi

nhuận cho NH.

Biểu đồ 2.2. Huy động vốn theo thành phần kinh tế giai đoạn 2011 – 2013.

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực hiện khóa luận)

Trong cơ cấu theo đối tượng, huy động từ khu vực dân cư với tiền gửi tiết kiệm

luôn duy trì vị trí quan trọng nhất là đặc điểm nổi bật tại NH cũng như tại địa phương

trong suốt giai đoạn này, song tốc độ tăng có phần chậm lại và thể hiện xu hướng giảm

dần trong tỷ trọng. Chung xu hướng giảm tỷ trọng là vốn huy động từ tổ chức kinh tế.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 34

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Ngược lại, huy động định chế tài chính của chi nhánh lại có tốc độ tăng ấn tượng, từ

mốc gần 0% năm 2011, tới 31/12/2013, khu vực này đã chiếm tới 25.3% tổng vốn huy

động của NH.

Có thể nói, trần lãi suất huy động được áp năm 2011 sau cuộc chạy đua lãi

suất một thời gian dài của các NH làm giảm tiền gửi huy động từ các tầng lớp dân

cư cũng như tổ chức kinh tế, thay vào đó vốn được tích lũy dưới dạng các tài sản

chênh lệch giá lớn như vàng hay ngoại tệ với nhiều biến động mạnh trong năm

2011. Các năm tiếp sau, khi kinh tế vĩ mô được giữ ổn định, giá vàng và ngoại tệ

không rơi vào những cơn sốt rầm rộ, huy động của NH đặc biệt là các NHTMNN

có xu hướng gia tăng đáng kể. Ngoài ra, khó khăn trong tìm kiếm đầu ra cho tín

dụng là nguyên nhân khiến tiền gửi từ khu vực các định chế tài chính tại chi nhánh

gia tăng trong năm 2013.

2.2.2. Khái quát tình hình tín dụng của chi nhánh

Xuyên suốt lịch sử ngành NH, tín dụng đã được khẳng định là nghiệp vụ

sinh lợi chủ yếu. Tín dụng NH có được mở rộng hay không cũng biểu hiện được

sức khỏe của nền kinh tế. Tín dụng tăng trưởng yếu, mạch máu nuôi cơ thể khổng

lồ bị tắc nghẽn, đầu tư phát triển không thể thực hiện, đó là những hệ lụy không ai

mong muốn.

Mặc dù không gặp quá nhiều khó khăn sau quy định thắt chặt tín dụng phi sản

xuất như các NHTM quy mô nhỏ, BIDV nhờ ra đời sớm và là một NHTMNN uy tín

nên tín dụng vẫn tiếp tục tăng trưởng song với tốc độ chậm ngay cả trong điều kiện

mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh nhờ chính sách giảm trần của NHNN. Mỗi năm tín

dụng tại chi nhánh chỉ tăng trên dưới 100,000 triệu VND, không vượt được mốc 10%

mà dao động ở 7% năm 2012 và 5% năm 2013, khác với giai đoạn tăng trưởng mạnh ở

thời kỳ trước. Tăng trưởng tín dụng chậm chạp trong khi huy động vốn gia tăng gây ra

hiện tượng thừa thanh khoản, vốn bị ứ đọng và không được đẩy vào kinh tế để đầu tư.

So với mức tăng trưởng toàn hệ thống BIDV là 15.97% năm 2012 và 17.05% năm

2013 thì tăng trưởng tại chi nhánh vẫn còn thấp (Phụ lục 2). Tuy nhiên kết quả này

cũng đáng ghi nhận bởi năm 2013, trên địa bàn tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm 0.4%

và kinh tế địa phương vẫn được đánh giá là chưa năng động.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 35

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Biểu đồ 2.3. Biến động dư nợ tín dụng tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Đồ thị trên cho thấy, trong tổng dư nợ, dư nợ trung dài hạn vẫn còn chiếm tỷ

trọng chưa cao, chưa tương xứng với khả năng mang lại lợi nhuận lớn cho NH mặc dù

nguồn vốn trung dài hạn lại chiếm tỷ lệ cao hơn. Hai năm 2011 và 2012, dư nợ ngắn

hạn thậm chí còn áp đảo, duy chỉ có năm 2013, dư nợ trung dài hạn chiếm một phần

lớn hơn nhưng không đáng kể. Tình hình đó phản ánh thực trạng của nền kinh tế lúc

này khi các DN trong nước chịu ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái kinh tế cùng những

dự báo bi quan về triển vọng phục hồi khiến cho cả NH và KH đều khá dè dặt trước

việc cho vay và đi vay để mua sắm hay đầu tư, đặc biệt là trong thời hạn dài. Nó cũng

cho thấy chi nhánh đang đảm bảo an toàn thanh khoản khi chuyển sang cho vay ngắn

hạn nhiều hơn bởi vốn trung dài hạn năm 2011 hạ xuống thấp. Tuy nhiên, 2 năm sau

nguồn vốn huy động trong kỳ hạn đã đã được cải thiện song dư nợ với kỳ hạn tương

ứng chỉ tăng với tốc độ nhỏ, trong tương quan so sánh với tín dụng ngắn hạn vẫn còn

khiêm tốn. (Phụ lục 3)

Ngoài lý do hãm đà tăng trưởng nóng của tín dụng năm 2011 với quy định tăng

trưởng dưới 20% do lo ngại tín dụng quá nóng ảnh hưởng tiêu cực tới GDP (Phụ lục 9)

thì vấn đề hàng tồn kho gia tăng do tổng cầu suy giảm, khiến DN không thể xây dựng

các DAĐT khả thi là một nguyên nhân khác khiến tín dụng tăng yếu. Bên cạnh đó, giai

đoạn này NH còn siết chặt các điều kiện cho vay, điều kiện đảm bảo khoản vay nhằm

hạn chế nợ xấu nên DN có nhu cầu càng khó tiếp cận vốn do bản thân không đáp ứng

đủ tiêu chuẩn. Do vậy, tín dụng trung dài hạn chỉ không thể tăng trưởng mạnh ở chi

nhánh như bối cảnh chung của toàn ngành.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 36

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Trong cơ cấu tín dụng của NH, dư nợ khu vực ngoài quốc doanh cả 3 năm luôn

chiếm trên 60% cho thấy đối tượng KH của chi nhánh đã chuyển dần qua khu vực này

thay vì các DN quốc doanh như trước. Tỷ trọng dư nợ có TSĐB cũng trên 50% và tăng

thêm vào năm 2012 chứng tỏ sự thận trọng cần thiết trong các khoản cho vay khi nợ

xấu đang “bủa vây” NH, đặc biệt trong 3 năm nghiên cứu.

Còn xét theo ngành nghề kinh tế, dư nợ tập trung chủ yếu ở ngành công

nghiệp chế biến chế tạo, điện, thương nghiệp, sữa chữa nhưng nhìn chung dư nợ các

ngành đều không có sự phát triển đáng kể mà thậm chí còn sụt giảm. Các ngành kinh

tế có dư nợ tín dụng tăng lên trong năm 2013 là vận tải kho bãi, thông tin liên lạc,

kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng, đây là

những ngành ít hoặc không duy trì tồn kho nên không gặp quá nhiều khó khăn như

DN khác. Riêng ngành vận tải kho bãi có động lực phát triển cao hơn nhờ giao thông

vận tải trên địa bàn trong năm nay được củng cố và tăng cường đáng kể bằng việc

nâng cấp các tuyến đường huyết mạch, nạo vét cảng Kỳ Hà, mở rộng hệ thống xe

buýt, phát triển giao thông nông thôn… nên cả khối lượng hàng hóa vận chuyển và

khối lượng hành khách đều có sự gia tăng đáng kể so với 2012, với mức tăng tương

ứng 15.79% và 5.63%. Bên cạnh đó, dư nợ ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, vốn

lĩnh vực ưu tiên phát triển theo định hướng của nhà nước lại giảm tới hơn 98% sau

khi đạt 467,594 triệu đồng vào cuối năm 2011 đòi hỏi NH cần có sự cải thiện để mở

rộng cho vay cho nông nghiệp nông thôn. Cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh tế

cũng phản ánh được tình hình sa sút của các DN cơ khí, xây dựng, nông nghiệp, làng

nghề truyền thống trên địa bàn.

Nói về nợ xấu, suốt thời gian qua đây là vấn đề được đặc biệt quan tâm với

nhiều động thái của NHNN nhằm giảm thiểu và cơ cấu lại nợ cho các NHTM cũng

như định chế tài chính khác. Có thể nói chưa bao giờ nợ xấu hệ thống NH Việt Nam

lại trở thành một đề tài nóng như thế bởi các con số dù được tổ chức nào công bố đều

cho thấy tỷ lệ đã vượt xa ngưỡng an toàn là 3%. Tại địa phương, nợ xấu toàn ngành có

xu hướng tăng nhanh sau năm 2011, cụ thể lên tới 6.4% trong đó chủ yếu thuộc khối

NHTMNN. Nguyên nhân là do các NHTMNN có đối tượng KH là các DNNN chiếm

tỷ trọng cao, trong khi đây lại là các DN có kết quả kinh doanh không hiệu quả trong

những năm qua. Trên địa bàn, đa phần các DN tăng trưởng khá cũng đều là các DN

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 37

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

ngoài quốc doanh và DN FDI trong khi các DN nhà nước không thực hiện được mức

chỉ tiêu đề ra mà chỉ duy trì trong khoảng 85%, mức tăng trưởng thấp hơn so với các

DN trên.

Biểu đồ 2.4. Nợ xấu tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013.

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Theo nhiều nhận định, tình hình nợ xấu đã tích tụ qua nhiều năm chạy theo chỉ

tiêu tăng trưởng tín dụng, trải qua sóng gió của thời kỳ đình trệ sau thời gian phát triển

ồ ạt mà không dựa vào nhu cầu của thị trường bất động sản và ảnh hưởng tiêu cực từ

khủng hoảng toàn cầu, mới thực sự bùng nổ lan truyền trong hệ thống. Cùng chung xu

hướng đó, nợ xấu của chi nhánh cũng tăng đột biến từ 4.46% năm 2011 lên tới 26.81%

năm 2012, một dấu hiệu nguy hiểm trong an toàn tín dụng. Nợ xấu trong năm 2012

chủ yếu là trong lĩnh vực chế biến (chiếm hơn 75%), tiếp sau là xây dựng, với loại

hình DN có nợ xấu nhiều nhất là công ty cổ phần ngoài quốc doanh thay vì các DNNN

như tình hình chung tại địa phương. Đặc biệt, nợ xấu trung dài hạn lại chiếm tỷ lệ cao

hơn so với tín dụng ngắn hạn mặc dù có tỷ trọng thấp trong cơ cấu dư nợ. Diễn biến

tích cực xuất hiện vào cuối năm 2013 khi nợ xấu giảm sâu và ở mức an toàn 2.07%.

Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu cao trong những năm qua là tín hiệu cảnh báo cho hoạt động

kinh doanh của NH, đòi hỏi những biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngay từ

khâu đầu tiên là lựa chọn và thẩm định KH. (Phụ lục 4)

2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh

Đối với các tổ chức kinh tế, con số đầu tiên mà nhà đầu tư, cơ quan nhà

nước, công chúng cũng như các đối tượng khác nhìn vào để đánh giá hiệu quả

chính là lợi nhuận. Lợi nhuận thể hiện kết quả đạt được sau một thời gian nhất định

và sự tăng trưởng của chỉ tiêu này là cơ sở để tổ chức đó phát triển về sau. Giai

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 38

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

đoạn 2011 – 2013, hàng nghìn nhân viên NH mất việc, mức lương thưởng cũng

không còn cao như trước, rất nhiều hệ lụy của thời kỳ khó khăn nảy sinh, trong đó

có cả sự sụt giảm lợi nhuận.

Chi nhánh BIDV Quảng Nam tuy không rơi vào tình trạng thua lỗ như các NH

khác nhưng lợi nhuận của NH lại giảm sút rõ rệt. Diễn biến lợi nhuận đáng chú ý là sự

“lao dốc” từ 33,486 triệu xuống chỉ còn 3,900 triệu đồng năm 2012, tương đương mức

giảm 88.35%. Năm tiếp theo, với sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên chi nhánh

cùng các biện pháp xử lý nợ xấu và tăng cường tiếp cận KH, lợi nhuận tăng nhẹ 6.72%

lên mức 4,162 triệu năm 2013. (Phụ lục 5)

Nguyên nhân là bởi trong giai đoạn này, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng không

còn cao như trước do các NH phải cạnh tranh nhau bằng cách giảm lãi suất, kích thích

đầu ra tín dụng. Biên độ giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay cũng bị thu hẹp

hơn, thu nhập từ hoạt động tín dụng nhìn chung của các NH chỉ còn chiếm khoảng 50

– 60% so với 70 – 80% như trước đây. Bên cạnh đó, hàng tồn kho của DN chưa giảm,

niềm tin về đầu tư chưa khôi phục, DN chưa mặn mà với đầu tư trung dài hạn mà chủ

yếu đang duy trì mức hoạt động để bảo toàn tài sản hiện tại. Bối cảnh này khiến NH

chủ yếu tăng thu từ hoạt động dịch vụ kèm theo tài trợ thương mại, kinh doanh tiền tệ

và trái phiếu. Tương tự ở chi nhánh, các hoạt động dịch vụ đã có đóng góp đáng kể

vào thu nhập. Ngoài lý do tín dụng, nghiệp vụ sinh lợi nhiều nhất cho NH, tăng trưởng

không cao thì tình trạng nợ xấu gia tăng, đặc biệt trong năm 2012 khiến NH phải trích

lập dự phòng rất nhiều dẫn tới lợi nhuận sụt giảm lớn. (Phụ lục 5)

2.3. Đánh giá chung về hiệu quả cho vay DAĐT tại BIDV Quảng Nam

2.3.1. Khái quát về cho vay DAĐT tại BIDV

Cho vay DAĐT được BIDV xác định là sản phẩm thuộc lĩnh vực tài trợ vốn

trung dài hạn cho đầu tư dự án thực hiện tại Việt Nam và một số nước/vùng lãnh thổ

phù hợp quy định của pháp luật và của BIDV trong từng thời kỳ. Đối tượng cho vay là

toàn bộ các chi phí hợp lý liên quan đến dự án, được cho vay chủ yếu bằng VND, USD

và một số ngoại tệ khác. Số tiền vay tối đa là 85% tổng mức đầu tư trong thời hạn

không quá 15 năm. KH vay cần TSĐB là tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản

khác theo quy định của BIDV. Khi vay đầu tư dự án, KH sẽ được thương lượng về

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 39

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

mức vay và thời gian vay phù hợp với dự án cũng như nhận được tư vấn về lĩnh vực có

liên quan. Ngoài ra một số DN thuộc lĩnh vực được ưu tiên sẽ có mức lãi suất ưu đãi.

2.3.2. Quy trình nghiệp vụ cho vay DAĐT tại chi nhánh BIDV Quảng Nam

Cho vay DAĐT thuộc hoạt động tín dụng áp dụng cho KH doanh nghiệp và

thực hiện theo quy trình nghiệp vụ đã được quy định cụ thể với các bước sau:

Bước 1. Tiếp thị, tiếp xúc với KH và nhận hồ sơ, trong đó hồ sơ tín dụng bao

gồm giấy đề nghị tín dụng, hồ sơ pháp lý DN, hồ sơ về tình hình tài chính, hồ sơ dự án

và hồ sơ đảm bảo tiền vay.

Bước 2. Đánh giá, phân tích và lập báo cáo đề xuất tín dụng. Trong đó, cán bộ

tín dụng tiến hành đánh giá chung về KH, đánh giá tình hình tài chính, chấm điểm tín

dụng, thẩm định dự án, đánh giá TSĐB. Căn cứ vào các phân tích này, bộ phận tín

dụng sẽ lập đề xuất tín dụng.

Bước 3. Phê duyệt báo cáo đề xuất tín dụng

Bước 4. Soạn thảo quyết định cấp tín dụng

Nếu có thông qua thẩm định rủi ro, bộ phận Quản lý rủi ro chịu trách nhiệm

soạn thảo quyết định cấp tín dụng, nếu không, báo cáo đề xuất tín dụng do Phó Giám

đốc Quan hệ khách hàng phê duyệt có giá trị như Quyết định cấp tín dụng. Cả trong

trường đồng ý hay từ chối cấp tín dụng, cán bộ Quan hệ KH đều phải soạn thảo văn

bản để thông tin cho KH được biết. Ngoài ra, nếu đồng ý cấp tín dụng đây cũng là bộ

phận thực hiện thương thảo với KH các điều kiện tín dụng đã được phê duyệt

Bước 5. Soạn thảo HĐ tín dụng

Bước 6. Ký kết HĐ tín dụng

Bước 7. Hoàn thiện các điều kiện trước khi giải ngân. Cán bộ có trách nhiệm thực

hiện đàm phán với KH để hoàn thiện các điều kiện trước khi giải ngân theo quyết định

cấp tín dụng cũng như thực hiện các thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo và công chứng.

Bước 8. Giải ngân

Bộ phận quản trị tín dụng trình duyệt giải ngân, sau khi được phê duyệt NH giải

ngân cho KH và lưu giữ hồ sơ.

Bước 9. Giám sát, kiểm soát vốn vay

Sau khi giải ngân, NH tiếp tục theo dõi để kiểm tra mục đích sử dụng vốn, kiểm

tra thực trạng, đánh giá lại TSĐB, định kỳ rà soát, đánh giá hiệu quả khai thác các

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 40

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

DAĐT thông qua hồ sơ tín dụng, sổ sách chứng từ kế toán hoặc theo dõi trên thực địa.

Trong thời gian này, NH cũng tiến hành theo dõi nợ và phân loại nợ phù hợp để trích

lập dự phòng đúng quy định, thương lượng về gia hạn nợ, đôn đốc KH trả nợ đúng hạn

cả nợ gốc, lãi và phí.

Bước 10. Thanh lý HĐ tín dụng.

2.3.3. Thực trạng hoạt động cho vay DAĐT giai đoạn 2011-2013

2.3.3.1. Dư nợ cho vay DAĐT

Biểu đồ 2.5. Dư nợ cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Giống như dư nợ nói chung, dư nợ cho vay DAĐT vẫn tăng trưởng qua các

năm chứng tỏ NH vẫn mở rộng được tín dụng trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, tốc độ

tăng trưởng không cao, chỉ 8.8% năm 2012 sau đó có cải thiện với tốc độ tăng gần gấp

đôi vào năm 2013.

Cơ cấu dư nợ cho vay DAĐT theo ngành kinh tế ở giai đoạn này tập trung chủ

yếu vào 3 ngành: sản xuất, phân phối điện, khí đốt; xây dựng và công nghiệp chế biến

chế tạo. Tuy nhiên, tỷ trọng của 3 ngành trên trong cơ cấu dư nợ có sự thay đổi qua

các năm. Theo đó, ngành sản xuất và phân phối điện có tỷ trọng tăng lên trong khi tỷ

trọng dư nợ ngành xây dựng giảm nhẹ từ 25% xuống 20% năm 2013, xu hướng giảm

cũng xảy ra ở ngành công nghiệp chế biến năm 2013 sau khi tăng nhẹ từ 18% lên 19%

năm 2012. (Phụ lục 6)

Trong số đó, dư nợ cho vay đối với các DN ngành sản xuất và phân phối điện,

khí đốt luôn có tốc độ tăng cao nhất, chủ yếu ở các ngành sản xuất điện thương phẩm,

khí hóa lỏng. Mặc dù giá trị sản xuất của ngành trong năm 2012 giảm 10% so với năm

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 41

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

trước song các DN là KH lâu năm của NH lĩnh vực sản xuất điện thương phẩm vẫn

tăng khá như Công ty Thủy Điện A Vương, Công ty Điện Lực Quảng Nam… Đối với

ngành xây dựng, với nhiều công trình trọng điểm được thi công như Quốc lộ 1A đi qua

Hội An, thủy điện Đắk Mi, Bệnh viện Đa khoa trung ương Quảng Nam, cầu cảng Tam

Hiệp… là động lực cho các công ty trong ngành phát triển đã giúp tốc độ tăng trưởng

dư nợ cho vay dự án dần tăng nhưng vẫn ở mức thấp (0.32% và 1.30%). Dư nợ đối với

ngành công nghiệp chế biến chế tạo có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều do tác động của

tồn kho cao, nhất là ở ngành lắp ráp ô tô (tính riêng năm 2012 trên địa bàn đã tồn kho

tới 7.000 chiếc). Thiên tai dịch bệnh xuất hiện nhiều khiến cung đầu vào giảm sút và

tăng giá cũng khiến hoạt động của các DN trong ngành khó khăn hơn.

2.3.3.2. Doanh số cho vay và doanh số thu nợ DAĐT qua các năm

Biểu đồ 2.6. DSCV và DSTN cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

DSCV và DSTN chuyển động cùng chiều nhau với sự giảm sút vào năm 2012

và cải thiện ở năm 2013, phần nào thấy được biến chuyển lạc quan hơn tại địa phương

cũng như cả nước và xu hướng mở rộng cho vay ngắn hạn của NH trong bối cảnh kinh

tế chưa hoàn toàn bước ra khỏi khó khăn. Năm 2012, DSCV sụt giảm tới 25% có

nguyên nhân từ cả hai phía. Xét về phía NH, nợ xấu tăng mạnh khiến NH phải thắt

chặt hơn khoản tín dụng về các biện pháp bảo đảm vay, điều kiện tài chính nhất là vay

dài hạn do đây là loại hình tín dụng có mức độ rủi ro cao. Phía DN một phần không

thỏa mãn được nhu cầu của NH, mặt khác lại rất khó khăn để tìm được đầu ra cho sản

phẩm và duy trì hoạt động hiện tại nên nhu cầu mở rộng đầu tư còn yếu. Trong năm

nay, NH cũng đối mặt với những vấn đề về thu nợ khi con số giảm chỉ còn 44,946

triệu đồng so với 71,078 triệu đồng năm 2011, tương ứng giảm gần 37%. Đây cũng là

một kết quả của tình hình nợ xấu phức tạp.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 42

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.3.3.3. Nợ xấu cho vay DAĐT

Biểu đồ 2.7. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực

hiện khóa luận)

Nợ xấu trong lĩnh vực cho vay DAĐT biến động mạnh trong giai đoạn 2011 –

2013. Mặc dù trước đó, tỷ lệ nợ xấu đã cao đáng kể, hơn 9% nhưng tới năm 2012 lại

tăng đột biến lên tới 41.43%, gấp hơn 4 lần tỷ lệ nợ xấu năm trước. Đến năm 2013, tỷ

lệ này mới về mức an toàn 1.25% nhờ sự kết hợp nhiều biện pháp của NH. Tuy nhiên,

nợ xấu cao đáng báo động như vậy cũng cho thấy hoạt động cho vay DAĐT lâu nay

tại NH vẫn còn nhiều vấn đề đáng bàn.

2.3.4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT tại chi nhánh

2.3.4.1. Chỉ tiêu về dư nợ

Bảng 2.1. Biến động dư nợ cho vay DAĐT tại chi nhánh.

ĐVT: triệu đồng

Biến động tăng giảm (+/-)

Chỉ tiêu

2012/2011

2013/2012

155,704

135,074

Tổng dư nợ

76,791

281,328

Dư nợ trung dài hạn

73,376

148,009

Dư nợ cho vay DAĐT

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 43

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Biểu đồ 2.8. Tốc độ tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực hiện

khóa luận)

Tính toán chỉ tiêu cho thấy, dư nợ cho vay DAĐT vẫn đạt được sự tăng trưởng

gần 9% năm 2012 và cải thiện đáng kể trong năm 2013 với tốc độ hơn 15%, cho thấy

NH vẫn có thể mở rộng cho vay dù trong bối cảnh khó khăn như hiện tại. Tốc độ tăng

dư nợ cho vay dự án cũng cao hơn so với tăng trưởng tổng dư nợ hay dư nợ trung dài

hạn. Đặc biệt trong năm nay, NH tham gia tài trợ cho các dự án lớn như dự án BOT

xây dựng quốc lộ 1, đoạn qua tỉnh Quảng Nam với công ty Cienco 5 nên dư nợ cho

vay dự án có sự cải thiện theo chiều hướng tốt.

Bảng 2.2. Tỷ trọng cho vay DAĐT trong cơ cấu tín dụng.

ĐVT: %

2013

Năm

2011

2012

43.45

39

39.66

Dư nợ cho vay DAĐT/Tổng dư nợ

Dư nợ cho vay DAĐT/Tổng dư nợ cho vay

82.58

90.07

90.77

trung dài hạn

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của sinh viên thực hiện khóa luận)

Bảng trên cho thấy dư nợ cho vay DAĐT chiếm tỷ lệ ngày một tăng trong

tổng dư nợ tín dụng và luôn ở mức trên dưới 40%. Trong cơ cấu dư nợ trung dài

hạn nói riêng, tỷ trọng cho vay dự án tăng nhẹ năm 2012 và sau đó giảm xuống hơn

8%, về mức 82.58%. Nguyên nhân là bởi trong năm 2013, dư nợ trung dài hạn có

xu hướng tăng, cơ cấu tín dụng nghiêng về hoạt động cho vay kỳ hạn dài, nhưng

các loại vay trung dài hạn còn lại như vay trả góp hay đồng tài trợ có sự tăng

trưởng nhiều hơn.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 44

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.3.4.2. Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn

Bảng 2.3. Hiệu suất sử dụng vốn trong cho vay DAĐT tại chi nhánh

Năm

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

859,250

935,626

1,083,635

Dư nợ cho vay DAĐT (triệu đồng)

Tổng nguồn vốn huy động trung dài hạn

33

572,522

930,062

(triệu đồng)

Dư nợ cho vay DAĐT/Tổng nguồn vốn huy

26,037.88

1.63

1.17

động trung dài hạn

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực hiện

khóa luận)

Xét về hiệu suất sử dụng vốn, năm 2011 có sự chênh lệch lớn trong tương xứng

kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Thời điểm cuối kỳ, cứ 1 đồng vốn huy động trung

dài hạn lại được sử dụng để tài trợ cho hơn 26,000 đồng dư nợ cho vay dự án. Mặc dù

đây là một chỉ tiêu mang tính thời điểm nhưng nó cũng cho thấy sự bất cân đối đòi hỏi

NH phải sử dụng thêm các nguồn khác như vốn tự có cùng với nguồn vốn huy động

ngắn hạn trang trải cho khoản mục cho vay trung dài hạn. Tuy NH có tiềm lực vốn tự

có khá lớn song nguồn vốn huy động vẫn là vốn sử dụng chủ yếu trong hoạt động kinh

doanh của NH nên tình trạng này kéo dài sẽ tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh khoản.

Đến năm 2012 và năm 2013, chỉ tiêu này đã được đưa về ở mức hợp lý nhờ sự tăng

trưởng của vốn huy động trung dài hạn. Thời điểm này, mỗi đồng vốn trung dài hạn

huy động được tài trợ cho hơn 1 đồng cho vay DAĐT. Tỷ lệ di chuyển về mức gần 1

cho thấy nguồn vốn đã được sử dụng hợp lý hơn.

2.3.4.3. Chỉ tiêu về doanh số cho vay DAĐT

Nhìn chung DSCV DAĐT có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 3 năm nghiên

cứu tuy có giảm sút vào năm 2012 tương tự đặc điểm của cho vay trung dài hạn vào

năm này.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 45

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Biểu đồ 2.9. Biến động DSCV DAĐT tại chi nhánh.

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Đáng chú ý, sau khi giảm 25% năm 2012, DSCV có sự tăng trưởng trở lại ở

năm tiếp theo với mức gần 90% sau nhiều nỗ lực kiềm chế nợ xấu trong tín dụng đặc

biệt là tín dụng kỳ hạn dài, bao gồm cả tài trợ DAĐT. Nhờ đó, NH có thêm điều kiện

để phát triển cho vay dự án cho các DN ở địa phương.

2.3.4.4. Chỉ tiêu quay vòng vốn

Bên cạnh dư nợ bình quân, DSTN có ảnh hưởng lớn tới vòng quay vốn tín dụng

cho vay DAĐT. Do đó, trước khi nghiên cứu biến động của vòng quay vốn, cần xem

xét diễn biến tình hình thu nợ của chi nhánh để có kết luận chính xác hơn.

Biểu đồ 2.10. DSTN cho vay DAĐT tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013)

Công tác thu nợ cho vay dự án giảm rồi tăng sau 3 năm và chiếm phần lớn

trong thu nợ trung dài hạn do đây là hình thức chủ yếu trong tín dụng trung dài hạn.

Xét trong tổng thu nợ, DSTN cho vay dự án chiếm dưới 10% và giảm dần qua các

năm, một phần do đây là loại hình tín dụng có thời gian thu hồi lâu dài, mặt khác lại

bắt nguồn từ phía DN khó khăn để hoàn trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên, cần đánh giá trên

tổng cơ cấu tín dụng bởi tín dụng ngắn hạn có xu hướng ngày một gia tăng và chiếm tỷ

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 46

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

trọng lớn nên DSTN hàng năm nghiêng về thu nợ ngắn hạn cũng là điều dễ hiểu. Tín

hiệu tích cực là thu nợ cho vay dự án trong năm 2013 đã có sự gia tăng đáng kể (tới

hơn 80%) chứng tỏ NH đã rnỗ lực vận dụng nhiều biện pháp để thu hồi nợ như đôn

đốc KH trả nợ hay đẩy nhanh tiến độ xử lý TSĐB, hạn chế nợ xấu tích tụ nhiều như

trong năm trước đó.

Bảng 2.4. Vòng quay vốn tín dụng hoạt động cho vay DAĐT

ĐVT: vòng

Năm 2011 2012 2013

0.040 0.020 0.034 Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ bình quân

0.082 0.046 0.070 Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ trung dài hạn bình quân

Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ cho vay dự án bình quân 0.087 0.050 0.082

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực

hiện đề tài - Phụ lục 7)

Có thể thấy vốn dùng để cho vay DAĐT không quay vòng nhanh như tín dụng

ngắn hạn do bị KH chiếm dụng trong thời gian dài. Trung bình vốn tín dụng dùng

trong tài trợ dự án quay được 0.07 vòng một năm. Cụ thể, vào năm 2011 vòng quay

vốn đạt gần 0.1 vòng nhưng giảm xuống gần một nửa vào năm 2012 sau đó có cải

thiện khi tăng lên 0.082 vòng năm 2013. So với vòng quay vốn tín dụng bình quân của

cả hoạt động tín dụng trung dài hạn, quay vòng vốn cho vay dự án chỉ thấp hơn vào

năm 2012 (0.05 so với 0.078 vòng), đây cũng là năm thu nợ cho vay gặp nhiều khó

khăn khiến doanh số giảm mạnh và nợ xấu tăng nhiều. Hai năm còn lại, vòng quay xấp

xỉ và có năm còn lớn hơn so với tốc độ quay vòng vốn tín dụng trung dài hạn trong

điều kiện dư nợ bình quân tăng lên chứng tỏ hiệu quả thu nợ đã được cải thiện theo

hướng lạc quan hơn.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 47

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.3.4.5. Chỉ tiêu nợ xấu

Biểu đồ 2.11. Biến động nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu cho vay DAĐT

tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên

thực hiện khóa luận)

Năm 2012 là năm nợ xấu bắt đầu được đặc biệt chú ý sau khi nhiều con số nợ xấu

khác nhau được các tổ chức nhận định trước khi NHNN chính thức công bố. Thống kê cho

thấy sức khỏe của hầu hết các NH đều đáng ngại bởi tỷ lệ nợ xấu đang ở mức vượt chuẩn.

Không nằm ngoài xu hướng đó, nợ xấu của chi nhánh tính riêng hoạt động cho vay DAĐT

vốn gần 10% năm 2011 đã tăng vọt lên hơn 40% chỉ qua 1 năm là dấu hiệu đáng chú ý.

Giai đoạn này, dư nợ cho vay dự án tập trung vào những ngành công nghiệp chế

biến, xây dựng trong khi đây lại là những ngành nhiều bất ổn trong thời gian qua. Thị

trường bất động sản đình đốn làm cho hầu hết các DN xây dựng và vật liệu xây dựng

lâm vào cảnh thua lỗ, nợ nần cùng với tồn kho cao, nhiều DN không có khả năng trả nợ

đúng hạn thậm chí còn tuyên bố phá sản. Đây là lý do khiến nợ xấu của NH tăng cao

trong 2 năm 2011 – 2012. Trích lập dự phòng rủi ro quá nhiều trong năm 2012 do nợ

xấu cao cũng là nguyên nhân khiến lợi nhuận NH giảm rất mạnh (tới gần 90%) và tín

dụng trung dài hạn nói chung, cho vay dự án nói riêng tăng trưởng chậm cả về dư nợ và

doanh số. Tuy nhiên, sau nhiều biện pháp xử lý nợ xấu như chủ động tăng trích lập dự

phòng cho các khoản nợ xấu, giảm chính sách lương thưởng và các chi phí không cần

thiết, xử lý TSĐB, tích cực đôn đốc thu nợ cùng với sự ra đời của Công ty quản lý tài

sản (VAMC) tháng 7/2013, nợ xấu của NH giảm nhanh về ngưỡng an toàn, chỉ còn

1.25%, thấp hơn cả nợ xấu ngắn hạn. Đây là điều kiện để NH khôi phục tính lành mạnh,

hiệu quả trong hoạt động tín dụng nói cho và tài trợ dự án nói riêng của mình.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 48

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay DAĐT tại BIDV

2.4.1. Kết quả đạt được của hoạt động cho vay DAĐT

Bảng 2.5. Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT

tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013

STT

Tên chỉ tiêu

Xu hướng

Khuyến cáo

Tốc độ tăng

Dư nợ tăng trưởng chưa nhanh, cần

1

trưởng dư nợ

Tăng nhẹ

có biện pháp phát triển dư nợ đi đôi

cho vay DAĐT

với đảm bảo chất lượng

Tỷ

trọng cho

Duy trì và phát triển tỷ trọng cho

vay

DAĐT

Tăng nhẹ và xoay quanh

vay DAĐT căn cứ tương quan

2

trong tổng dư

mức 40%

nguồn vốn mà NH có được

nợ

Hiệu suất sử

Tiến dần về 1, cân đối

Hiệu suất nên duy trì ở mức gần 1 để

3

dụng vốn trong

vốn trong cho vay DAĐT

đảm bảo an toàn thanh khoản

cho vay DAĐT

dần được cải thiện

Tốc

độ

tăng

Giảm ở năm 2012 và tăng

trưởng doanh

NH cần mở rộng phát triển KH để

tương đối nhanh vào năm

4

số

cho

vay

nâng cao tốc độ tăng trưởng DSCV

2013

DAĐT

Luôn nhỏ hơn 1. Tăng

Chú trọng thẩm định để tăng chất

Vòng quay vốn

nhẹ vào năm 2013 sau khi

lượng tín dụng, hạn chế nợ khó thu

tín dụng hoạt

giảm vào năm 2011

hồi, thúc đẩy thu hồi nợ cùng với

5

động cho vay

nhưng vẫn thấp hơn năm

tăng trưởng dư nợ để vốn quay vòng

DAĐT

2011

hiệu quả

Vượt ngưỡng an toàn vào

Tuy đã cải thiện nhưng cần chú

Tỷ lệ nợ xấu

năm 2011, tăng đột biến

trọng chất lượng khoản vay để hạn

6

cho vay DAĐT

năm 2012 sau đó giảm

chế những lần tăng nợ xấu đột biến

nhanh vào năm 2013

tiềm ẩn trong tương lai

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 49

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Chỉ 3 năm 2011 – 2013, ngành NH Việt Nam đã trải qua hàng loạt biến động

tuy nhiên hoạt động của chi nhánh nói chung cũng như tín dụng vẫn được kiểm soát và

đem lại một số kết quả khả quan.

Trong đó, hoạt động cho vay DAĐT tuy chưa thật sự hiệu quả như mong đợi

nhưng vẫn có được những thành quả đáng khích lệ trong bối cảnh khó khăn chung

của toàn ngành. Trong những năm này, dư nợ cho vay DAĐT vẫn tiếp tục tăng, với

tỷ lệ ngày một cải thiện, DSCV hàng năm cũng tiến triển theo chiều hướng tốt và

tăng tới 90% sau một năm suy giảm nhờ nhiều nỗ lực của NH. NH cũng đã cân đối

trở lại tỷ lệ tài trợ của huy động vốn trung dài hạn cho tín dụng dự án đầu tư ở mức

gần 1, đảm bảo an toàn thanh khoản. Hiệu quả vòng quay vốn thông qua chỉ tiêu

doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân cũng có sự cải thiện đáng kể sau năm 2012 với

nhiều suy giảm. Đặc biệt, tình trạng nợ xấu trong thời gian 2011 – 2012 với con số

rất cao đã được xử lý về mức an toàn, góp phần ổn định và lành mạnh hóa hoạt động

tín dụng của NH, hạn chế thua lỗ và mất vốn. Các biện pháp đối phó nợ xấu được áp

dụng hiệu quả, nhờ đó, nợ xấu được đưa về mức 1.25%, trong khi nợ xấu tín dụng

nói chung là 2.07%.

Xét về biện pháp nghiệp vụ và đội ngũ cán bộ nhân viên, NH luôn thực hiện

theo phương châm “Chia sẻ cơ hội, hợp tác thành công”, tạo điều kiện để DN có

những dự án hiệu quả được tiếp cận nguồn vốn vay NH với thủ tục cải thiện theo

hướng đơn giản và nhanh chóng. Bên cạnh đó, NH cũng tăng cường thu nợ và thúc

đẩy phát mãi TSĐB để xử lý nợ xấu, để tỷ lệ nợ xấu được xử lý với con số sáng sủa

hơn vào năm 2013.

2.4.2. Những hạn chế của hoạt động cho vay DAĐT

Mặc dù đã nỗ lực duy trì và phát triển hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT, hoạt

động quan trọng chiếm tới 40% tín dụng NH, song cho vay dự án vẫn còn nhiều vấn

đề bất cập đòi hỏi sự xem xét kỹ càng của chi nhánh.

Một là, nợ xấu mặc dù đã được xử lý hiệu quả nhưng sự tăng cao đột biến khiến

lợi nhuận giảm mạnh vẫn cần lưu tâm rất nhiều.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 50

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Biểu đồ 2.12. Tỷ trọng nợ xấu cho vay DAĐT trong tổng nợ xấu trung dài hạn và

trong tổng dư nợ

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của sinh viên thực

hiện khóa luận)

Trong nợ xấu trung dài hạn, nợ xấu của cho vay DAĐT chiếm đáng kể một

phần do dư nợ cho vay dự án luôn duy trì ở mức trên dưới 90% tổng cho vay trung dài

hạn. Đối với tín dụng nói chung, tỷ trọng nợ xấu cho vay dự án cũng chiếm một tỷ

trọng lớn là vấn đề cần chú ý bởi dư nợ chỉ chiếm khoảng 40%. Chỉ tới năm 2013, tỷ

trọng nợ xấu cho vay dự án mới có dấu hiệu giảm dần, lúc này nợ xấu chủ yếu thuộc

lĩnh vực cho vay ngắn hạn. Nợ xấu tích lũy từ những khó khăn của DN trong những

năm trước và việc chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của NH khiến thẩm định còn

lỏng lẻo nên tới năm 2012 thực sự đã trở thành “hiện tượng” trong cả ngành NH nói

chung bao gồm cả chi nhánh BIDV Quảng Nam.

Hai là, cơ cấu nguồn vốn huy động và cơ cấu tín dụng vẫn còn chưa hợp lý.

Điển hình như trong năm 2011, vào thời điểm cuối năm 1 đồng vốn trung dài

hạn phải tài trợ cho hàng chục nghìn đồng dư nợ trung dài hạn. Điều này khiến dư nợ

trung dài hạn cũng như cho vay dự án phải được tài trợ thêm từ vốn ngắn hạn. Sự

không tương ứng kỳ hạn giữa hai nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh khoản

cao. Những năm sau, khi vốn huy động trung dài hạn chiếm ưu thế hơn thì lại được sử

dụng chủ yếu để tài trợ trong ngắn hạn gây dư thừa thanh khoản. Tình trạng này một

lần nữa cho thấy sự hấp thụ vốn khó khăn của nền kinh tế, tín dụng vẫn ì ạch tìm

đường tăng trưởng đòi hỏi NH cần phải chủ động hơn trong tìm kiếm KH.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 51

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Ba là, dư nợ cho vay trung dài hạn nói chung và cho vay dự án vẫn tăng trưởng

chưa cao.

So với các thời kỳ trước, khi tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống trung bình

đạt tới 25%, tốc độ tăng hiện nay vẫn còn khá chậm. Nguyên nhân tình trạng này

không chỉ do cơ cấu vốn chưa cân đối mà còn phản ánh khó khăn chung trong tìm đầu

ra cho vốn tín dụng của ngành NH. Do vậy, NH cần tiếp tục đưa ra các gói sản phẩm

tín dụng ưu đãi và tăng cường tiếp cận KH mới, nắm bắt được nhu cầu của DN trên địa

bàn để cung ứng tín dụng.

Bốn là, giá trị TSĐB vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

TSĐB là nguồn thu nợ thứ hai của NH ngoài thu nhập từ dự án, nhất là khi

khoản nợ đang trong nguy cơ có khả năng mất vốn. Tuy nhiên, thẩm định giá trị, tính

thanh khoản của TSĐB nếu không được chú ý ngay từ đầu sẽ gây khó khăn trong phát

mãi tài sản để thu hồi nợ, nhất là trong tình trạng TSĐB chủ yếu tại NH là bất động

sản và các sản phẩm từ dự án, những tài sản kém thanh khoản khi nhà đất đang đóng

băng và DN không tìm được đầu ra cho tồn kho trong năm 2011 và 2012. Đây là một

nguyên nhân khiến nợ xấu tới năm 2013 mới được xử lý hiệu quả vì NH phải chờ đợi

khá lâu mới có thể phát mãi được TSĐB.

Nhưng cũng cần lưu ý rằng việc buộc người đi vay thực hiện những điều khoản

trong HĐ như phát mãi tài sản, mua lại, khai thác, sử dụng TSĐB hay khởi kiện bên đi

vay… phải sử dụng những công cụ pháp lý gây mất thời gian và tốn kém chi phí.

Ngoài ra, những tài sản có tính thanh khoản thấp, NH không thể sử dụng lại làm phát

sinh thêm chi phí bảo quản nên tốt nhất, hạn chế nợ xấu phải được bắt đầu ngay từ

những khâu đầu tiên của nghiệp vụ tín dụng để tìm thấy KH tốt, dự án khả thi. Như

vậy, thu hồi nợ sẽ bắt nguồn từ lợi nhuận dự án mang về chứ không phải thông qua

“cứu cánh” của TSĐB. Yêu cầu TSĐB chỉ nên nhằm mục đích hạ rủi ro tín dụng

xuống một mức thấp hơn.

Năm là, quy trình thẩm định DAĐT vẫn chưa hoàn thiện và chặt chẽ.

Cho vay DAĐT đòi hỏi một thời gian dài, do đó tính toán vòng đời dự án hợp

lý để xác định thời gian cho vay phù hợp với khả năng thu hồi vốn của dự án rất quan

trọng. Đánh giá dự án quá lạc quan khiến khi khó khăn dự án không thể mang lại thu

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 52

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

nhập như mong đợi, việc trả nợ của chủ đầu tư hay công tác thu nợ của NH không

đúng như thỏa thuận trong HĐ làm phát sinh nợ xấu và giảm vòng quay vốn của NH.

Sáu là, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay trung dài hạn không thường

xuyên và thiếu chặt chẽ.

Có những trường hợp dự án đi vào hoạt động do thời gian thi công kéo dài, khi

đi vào sản xuất lại gặp phải một số khó khăn như thay đổi cơ chế, chính sách hoặc

cung vượt cầu, đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, tình hình thiên tai, dịch bệnh, đặc

biệt là tại tỉnh có địa lý đặc thù như Quảng Nam. Tuy nhiên, việc kiểm tra nhất là sau

khi vốn đã giải ngân vẫn chưa tiến hành triệt để nhằm phát hiện các sai phạm và khó

khăn của DN. Bên cạnh đó, sự giúp đỡ của NH mới chỉ dừng lại ở gia hạn nợ hoặc

cho vay thêm chứ vai trò tư vấn và định hướng cho KH tháo gỡ khó khăn vẫn chưa

được thể hiện mạnh mẽ.

Bảy là, giới hạn cho vay trung dài hạn của chi nhánh còn phụ thuộc vào quy

định của hội sở chính. Đây là khó khăn lớn trong việc phát triển tín dụng trung dài hạn

nói chung và cho vay dự án nói riêng của chi nhánh.

2.4.3. Nguyên nhân

2.4.3.1. Nguyên nhân từ phía NH

Có thể nói tình hình nợ xấu đã tiềm ẩn từ giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng,

việc chạy theo chỉ tiêu khiến không ít món vay vẫn được thẩm định chưa kỹ càng và

khi kinh tế lao dốc, các hậu quả nối tiếp nhau xuất hiện. Đây chính là một nguyên nhân

chủ quan xét về phía NH. Cho tới giai đoạn này, khi nợ xấu bắt đầu gia tăng, NH lại

thắt chặt yêu cầu khiến cho tín dụng trở nên khó tiếp cận đối với các DN. Do đó, cân

bằng giữa lợi nhuận và rủi ro tiếp tục là vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, hoạt động marketing tại NH vẫn chưa thực sự được chú ý đúng

mức. Marketing mới chỉ thực hiện ở bề nổi là tuyên truyền quảng cáo mà chưa thực sự

xuất phát từ yếu tố cốt lõi là nắm bắt nhu cầu của thị trường, của KH để nhanh chóng

phát hiện và thỏa mãn những nhu cầu ấy. Do vậy, marketing tại chi nhánh cần thiết

phải được đẩy mạnh hơn thông qua nhiều hoạt động linh hoạt, cả truyền thông và con

người, nhất là khi trong địa bàn đã có nhiều đối thủ mới như NH Bưu điện, VPBank

hay các NH nước ngoài sẽ xuất hiện mạnh hơn trong thời gian sắp tới làm tăng nhiệt

quá trình cạnh tranh.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 53

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

2.4.3.2. Nguyên nhân từ phía KH

Cơ cấu dư nợ tín dụng cho vay dự án tại chi nhánh ở khối ngành sản xuất với

các nhóm DN xây dựng, công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng cao. Các DN

thuộc khối này đều bị ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế, bế tắc trong việc tìm kiếm đầu

ra khiến các dự án không mang lại hiệu quả như mong đợi. Đây chính là lý do các DN

không thể đáp ứng yêu cầu trả nợ cho NH khi đến hạn, cũng như tâm lý e dè, co cụm

không dám mở rộng đầu tư vào các dự án mới. Đó là chưa kể hoạt động kinh tế của

tỉnh vẫn còn chưa phát triển toàn diện, DN chưa thích ứng kịp thời trước áp lực hội

nhập và dễ bị tác động từ môi trường kinh tế cả trong nước và quốc tế. Đồng thời, việc

thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ làm giá trị gia tăng thấp mà chi phí nguyên vật

liệu nhập khẩu cao là nguyên nhân của phát triển chưa bền vững.

Bên cạnh đó, khả năng của DN trong đáp ứng yêu cầu tín dụng mà NH đưa ra

vẫn còn thấp do các DN trên địa bàn đa phần là DN nhỏ, sức sản xuất chưa cao, công

nghệ chưa cập nhật và trình độ quản lý chưa được cải thiện. Đây là tình trạng đã tồn tại

từ lâu nhưng bối cảnh hiện nay lại tạo “cơ hội” cho điểm yếu này bộc lộ rõ. Vướng

mắc chủ yếu tập trung vào việc không có đủ vốn tự có theo yêu cầu, không đủ tài sản

thế chấp theo quy định. Bất cập tiếp theo là khả năng lập dự án, quản lý dự án và quản

lý vốn đã giải ngân của DN chưa cao khiến DN mặc dù có dự án khả thi nhưng không

thể lượng hóa nên khó tiếp cận nguồn vốn NH, nhất là trong điều kiện NH đang thắt

chặt các yêu cầu tín dụng để hạn chế tổn thất.

Qua kết quả khảo sát thực trạng của DN năm 2013 của tỉnh, các DN tại Quảng

Nam còn gặp nhiều khó khăn nhất là các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, lĩnh

vực cho vay chủ đạo của NH trong cả tín dụng nói chung và cho vay DAĐT nói riêng.

Ngoài ra, chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, sức mua trong nước hạn chế, thị trường

xuất khẩu gặp khó khăn, việc hạn chế và cắt giảm đầu tư công đã tác động tới tốc độ

tăng trưởng sản xuất nhất là ngành CN sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó việc thanh

toán khối lượng công trình hoàn thành chậm làm ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh

doanh của các DN xây dựng.

2.4.3.3. Nguyên nhân từ nền kinh tế

Những hạn chế của hoạt động cho vay DAĐT không chỉ xuất phát từ bản thân

KH, bản thân NH mà còn chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nền kinh tế trong nước và quốc

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 54

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

tế. Thậm chí, một số yếu kém từ phía NH và DN cũng bắt nguồn từ nhân tố mang tính

rủi ro hệ thống này.

Ba năm qua, thế giới chứng kiến bức tranh kinh tế mang gam màu ảm đảm với

thị trường chứng khoán chưa phục hồi sau khủng hoảng tài chính, nợ công châu Âu là

nhân tố khiến hàng loạt quốc gia e dè, cắt giảm đầu tư công, các cuộc xung đột khiến

giá năng lượng biến động khó lường, thảm họa tự nhiên xảy ra với tần suất dày đặc

hơn làm suy giảm nguồn cung, tăng trưởng của các quốc gia gồm cả những nền kinh tế

năng động như Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ đều có xu hướng giảm tốc. Trong nước,

biến động giá vàng lớn, lạm phát có lúc chạm mốc gần 20%, làn sóng “biến mất” của

DN với hơn 49,000 DN phá sản, giải thể năm 2011 và tiếp tục tăng mạnh ở những năm

kế tiếp, thị trường bất động sản đóng băng do phát triển không đúng nhu cầu, chênh

lệch lãi suất khiến nhu cầu vay ngoại tệ tăng cao, tỷ giá dao động mạnh hay các yếu

kém của hệ thống NH được bộc lộ như nợ xấu là những vấn đề nổi bật. Tất cả điều này

gây ra “khủng hoảng niềm tin”, khi NH không tin tưởng DN, DN không tin NH, các

DN nghi ngờ lẫn nhau và không tin vào thị trường thì tất cả thành phần trong nền kinh

tế đều chịu ảnh hưởng. Một trong những hậu quả đó là hoạt động tín dụng, vốn được

xem là mạch máu nuôi dưỡng kinh tế càng bị đình trệ.

Mặc dù nhà nước đã có nhiều giải pháp kiềm chế lạm phát ở mức 6% năm

2013, ổn định giá vàng, cắt giảm lãi suất và giảm thuế cho DN để khuyến khích đầu

tư, song các chính sách đều có một độ trễ nhất định và nền kinh tế vẫn cần nhiều

thời gian để thoát đáy nên bối cảnh kinh tế vĩ mô vẫn gây những tác động không

mong muốn lên hoạt động NH 3 năm qua và cả trong những năm kế tiếp. Khôi phục

kinh tế đi đôi với khôi phục niềm tin cần sự phối hợp thực hiện của tất cả chủ thể

trong thị trường.

Tại địa phương, mặc dù tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đạt khá nhưng vẫn còn

thiếu vững chắc, chất lượng tăng trưởng hạn chế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn

chậm, công nghệ chưa được đổi mới nhanh chóng. Tiềm năng về du lịch vẫn chưa được

khai thác triệt để, lợi thế kinh tế biển chưa được tận dụng. Các công trình, dự án trọng

điểm triển khai chậm không đảm bảo tiến độ. Môi trường đầu tư trên địa bàn vẫn chưa

hấp dẫn để thu hút đầu tư, biểu hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh PCI liên tục tụt hạng,

riêng năm 2013 đã tụt tới 12 bậc và chỉ còn xếp vị thứ 27 trên tổng số 63 tỉnh thành của

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 55

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

cả nước. Đặc biệt, trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển của tỉnh, nguồn NSNN vẫn

chiếm một tỷ trọng rất lớn. Chủ trương cắt giảm đầu tư công những năm này, do vậy,

gây ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế địa phương, nhất là đối với lĩnh vực xây

dựng và sản xuất vật liệu xây dựng. (Phụ lục 8). Trong khi đó, đây lại là những ngành

chiếm dư nợ lớn về cho vay dự án tại chi nhánh. Bối cảnh này gây khó khăn cho DN ổn

định hoạt động và phát triển cũng như cho vay dự án tại NH vấp phải nhiều trở ngại.

Như vậy, trong thời gian khảo sát, nghiệp vụ cho vay DAĐT tại chi nhánh gặp

không ít khó khăn về phát triển dư nợ, mở rộng doanh số cũng như nợ xấu gia tăng.

Mặc dù tới năm 2013, những dấu hiệu cải thiện đã bắt đầu xuất hiện trở lại, song

những nguyên nhân cả khách quan và chủ quan khiến cho vay dự án còn nhiều hạn chế

được đề cập đến ở trên vẫn cần được quan tâm. Bởi đây chính là cơ sở để đưa ra

những giải pháp giúp nghiệp vụ cho vay quan trọng này ngày một hoàn thiện và mang

lại hiệu quả cao hơn cho NH trong điều kiện rủi ro và thách thức đối với kinh doanh

NH còn rất lớn.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 56

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NAM

3.1. Định hướng phát triển trong thời gian tới của Ngân hàng.

Trải qua giai đoạn 2011 – 2013 đầy khó khăn, thách thức của toàn ngành NH,

cả hệ thống BIDV nói chung và chi nhánh Quảng Nam nói riêng vẫn hoàn thành

nhiệm vụ của mình song vẫn còn khá nhiều vấn đề cần phải giải quyết để NH thực

hiện trọn vẹn sứ mệnh của mình là một phần động lực không thể thiếu trong phát triển

kinh tế địa phương, mang lại ích lợi cho KH, NH và toàn xã hội. Căn cứ tình hình vừa

qua cùng tầm nhìn trong dài hạn, năm 2014 và những năm tiếp sau, NH đã đưa ra

những định hướng phát triển như sau:

NH tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, công cụ đắc lực thực thi chính sách

tiền tề, các chính sách kinh tế lớn của nhà nước, điều hành lãi suất cho vay theo hướng

chủ động, đi đầu và dẫn dắt thị trường, bám sát chỉ đạo của NHNN. Một trong những

nhiệm vụ được giao của NH trong giai đoạn này là thực hiện chỉ định của NHNN

trong văn bản số 3128/NHNN-TD thí điểm sản phẩm tín dụng “liên kết 4 nhà” cùng

với 7 NH khác nhằm tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, đẩy mạnh tiêu thụ

tồn kho bất động sản, hàng tồn kho vật liệu xây dựng.

Về tín dụng, NH tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, cho vay phát triển

nông nghiệp nông thôn, DN vừa và nhỏ, cho vay DN ứng dụng công nghệ cao. Đặc

biệt, từ 2014 trở đi, BIDV cam kết cho vay 70% vốn đầu tư cho các dự án dệt may đón

đầu TPP, thỏa thuận thương mại tạo cơ hội lớn cho Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu với

hàng rào thuế quan nặng nề được dỡ bỏ giữa các nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương.

Song song với đó, UBND tỉnh Quảng Nam cũng vừa ký kết chương trình hợp tác đầu

tư triển khai dự án dệt may trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ hội để NH đón đầu các lĩnh

vực ưu tiên của địa phương để mở rộng tín dụng về quy mô nhưng đồng thời phải đảm

bảo chất lượng.

NH thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạo giá trị nội

sinh cho phát triển bền vững, thực hiện tinh thần cốt lõi trong chuẩn mực ứng xử với 6

chữ: Trung thực – Thân thiện – Tiên tiến, luân chuyển cán bộ để đào tạo kết hợp quản

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 57

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

lý rủi ro, kiểm tra, giám sát nội bộ. Đi đôi với đó là nâng cao năng lực khai thác, ứng

dụng công nghệ trong kinh doanh, giám sát rủi ro của NH.

NH chú trọng xây dựng hệ thống quản lý theo mô hình được Ngân hàng Thế

giới triển khai như Nâng cao năng lực quản trị quản trị chất lượng, Quản lý tín dụng,

Tăng cường quản lý rủi ro tác nghiệp theo định hướng Basel. Ngoài ra, NH còn tiếp

tục tập trung hoàn thiện 10 mục tiêu chiến lược phấn đấu trở thành 1 trong 20 ngân

hàng hiện đại có chất lượng, hiệu quả và uy tín hàng đầu khu vực Đông Nam Á vào

năm 2020.

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT tại chi nhánh

Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động tới hiệu quả cho vay DAĐT,

những hạn chế và nguyên nhân những tồn tại trong nghiệp vụ này tại chi nhánh cùng

định hướng phát triển mà NH đưa ra trong thời gian tới, nghiên cứu đưa ra một số giải

pháp để nâng cao hiệu quả cho vay dự án. Các biện pháp này cần phải thực hiện đồng

bộ và xuyên suốt ngay từ khâu tạo nguồn, thu hút KH đến quản lý nguồn vốn trước,

trong và sau khi giải ngân.

Thứ nhất, xây dựng CSTD hợp lý

Xây dựng CSTD hợp lý có thể giúp NH duy trì lượng KH hiện tại, phát triển

KH tiềm năng. Đặc biệt, NH cần phải có một chiến lược thu hút KH có lựa chọn bởi

một trong nhữn nguyên nhân gây ra tình hình nợ xấu xuất phát chính từ khâu đầu tiên

là lựa chọn KH. Các tiêu chuẩn chính để chọn lựa KH là tình hình ổn định, tiềm năng

kinh doanh lâu dài, đội ngũ quản lý giỏi, có khả năng thích ứng tốt với môi trường

kinh doanh... Bên cạnh đó, NH cần nhạy cảm với chủ trương đầu tư hàng năm của địa

phương để đón đầu xu hướng, nhu cầu của KH và xây dựng kế hoạch hàng năm cũng

như chiến lược lâu dài phù hợp.

Lãi suất cũng là một chính sách quan trọng để thu hút KH, lãi suất cao sẽ hạn

chế KH vay vốn và ngược lại. Song, chính sách lãi suất phải linh hoạt với từng khoản

tín dụng, từng đối tượng KH và mang lại lợi ích cho cả hai bên NH và KH. Tính từ

đầu 2013 tới nay mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh sau khi NHNN ba lần hạ trần lãi suất

nhằm kích thích cho vay. Tuy nhiên, không phải vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng này

mà NH cho vay tùy tiện chạy theo chỉ tiêu. Ngược lại, cho vay cần phải có lựa chọn,

tùy từng đối tượng để thương lượng lãi suất. Bên cạnh đó, NH có thể cân nhắc thêm

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 58

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

hình thức cho vay đồng tài trợ, trong đó hai hay nhiều NH cùng tham gia tài trợ vốn

cho một DAĐT. Cho vay đồng tài trợ sẽ giúp NH tiết kiệm chi phí thẩm định, giảm

bớt rủi ro khi cho vay, học tập được kinh nghiệm quản lý nhất là khi hợp tác cùng các

NH nước ngoài.

Thứ hai, tăng quy mô nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Căn cứ CSTD được xây dựng cho từng thời kỳ cụ thể, NH sẽ có biện pháp phát

triển nguồn vốn phù hợp với định hướng. Song về lâu dài, các NH đều cần phải thu hút

thêm vốn huy động cũng như nâng cao tiềm lực thông qua vốn tự có.

Như vậy, gia tăng nguồn vốn là tiền để để NH tăng trưởng tín dụng nói chung

và cho vay DAĐT nói riêng đồng thời cũng là giải pháp để đảm bảo chỉ tiêu an toàn

vốn theo TT 13/2010/TT-NHNN (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9%). Đối với lĩnh vực

này, NH cần có biện pháp riêng cho từng khoản mục trong nguồn vốn trung dài hạn.

Đối với vốn tự có, NH có thể chuyển lợi nhuận vào vốn tự có sau khi trích lập

quỹ. Vốn tự có chính là giá đỡ cho NH và giúp NH nâng cao tiềm lực để phát triển cho

vay, nhất là cho vay trung dài hạn.

Đối với vốn huy động trung và dài hạn: Là một NH có sự lịch sử lâu dài và uy

tín lớn, BIDV có thể tận dụng thế mạnh này cũng như mạng lưới PGD trong địa bàn để

huy động vốn đối với dân cư, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ là đối tượng chưa được chú ý

đúng mức. Cùng với đó, NH cũng cần phát triển những sản phẩm huy động mới hấp

dẫn, tận dụng công nghệ để tiếp cận, thực hiện các giao dịch và triển khai loại hình

dịch vụ có liên quan linh hoạt cho KH nhằm tiếp kiệm thời gian, chi phí. Ngoài ra, NH

còn phải theo dõi biến động thị trường để có điều chỉnh hợp lý lãi suất cho các sản

phẩm của mình.

Thứ ba, nâng cao chất lượng thẩm định

Lợi ích bước đầu của việc thẩm định DAĐT là nhằm đánh giá hiệu quả dự án

nhưng nó cũng hướng tới mục tiêu quan trọng hơn là bảo đảm an toàn nguồn vốn sử

dụng cho hoạt động tín dụng của NH.

Để nâng cao chất lượng thẩm định, NH cần chú trọng xây dựng hệ thống chỉ

tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án hoàn chỉnh và phải kết hợp cả ba nhóm chỉ tiêu:

nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, nhóm phản ánh mức độ rủi ro và nhóm chỉ

số về khả năng hoàn vốn. Tuy nhiên có được hệ thống chỉ tiêu mới là điều kiện cần

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 59

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

chứ chưa đủ. Để đảm bảo thẩm định hiệu quả, việc tính toán các chỉ tiêu cần phải

chính xác. Muốn vậy, NH cần thu thập, thẩm tra các dữ liệu đầu vào trong dự án cũng

như xây dựng nên các dự kiến bằng mô hình về các biến số giá cả, sản lượng, lãi suất,

lạm phát... trong những năm tới để lường trước rủi ro trong tương lai và có biện pháp

ứng phó thích hợp. Kết luận xác đáng được đưa ra dựa vào các tính toán này còn tùy

thuộc vào từng loại hình dự án và không cứng nhắc. Ngoài ra, trong xem xét, phân tích

hiệu quả, đặc biệt đối với thẩm định mặt tài chính cần phải xác định được một tỷ lệ

chiết khấu hợp lý để tránh đánh giá thiếu chuẩn xác, làm bỏ qua dự án tốt hay để lọt dự

án không khả thi.

Bên cạnh các phương diện của dự án, NH cần thu thập thông tin về DN như các

chỉ tiêu về cơ cấu vốn tham gia vào dự án để tránh rủi ro đạo đức, xem xét khả năng và

thiện chí trả nợ thông qua báo cáo tài chính, các giao dịch trước đó với KH hoặc nguồn

thông tin có được từ CIC. Tuy nhiên NH không nên lệ thuộc quá nhiều về thông tin

quá khứ trong các báo cáo do KH gửi tới mà cần tỉnh táo xem xét thông tin khác để dự

báo tình hình tài chính, khả năng sinh lời trong tương lai. Giá trị chủ yếu của các con

số mang tính lịch sử chỉ nhằm đánh giá tính hợp lý của các báo cáo về ngân quỹ và lợi

nhuận mà KH đưa ra. Thông thường NH cần xem xét báo cáo trong một thời gian để

phát hiện những biến động bất thường, chú ý cách đánh giá lại tài sản của DN qua thời

gian, các phương pháp trích lập quỹ dự phòng có hợp lý hay không.... để có cái nhìn

toàn diện về tài sản và nguồn vốn của KH. Điều khó khăn là cơ sở của số liệu lấy từ

báo cáo tài chính của DN nhưng báo cáo chỉ phản ánh các sự kiện tài chính quá khứ

trong khi cái mà NH quan tâm chính là tình hình tài chính tương lai. Đó là chưa nói

đến một số DN còn vì lợi ích riêng của mình mà đưa những thông tin sai vào báo cáo.

Do vậy để thực hiện tốt giải pháp này đòi hỏi trình độ và sự nhạy cảm của cán bộ tín

dụng trong dự đoán triển vọng tương lai. Bên cạnh đó NH cũng cần một hệ thống trang

thiết bị phục vụ cho thẩm định. Qua nâng cao chất lượng công nghệ với máy tính hiện

đại và phần mềm chuyên dụng, các thông tin có thể được lưu trữ và xử lý nhanh

chóng, cho kết quả chính xác. Ngoài ra, nó còn giúp NH tìm kiếm thông tin cần thiết

cho thẩm định đơn giản với tốc độ cao, tiết kiệm được không ít thời gian và chi phí.

Cùng với thẩm định dự án và KH, NH cũng cần chú trọng tới giá trị của TSĐB.

Việc lựa chọn và xác định tương đối hợp lý giá trị TSĐB ngay từ đầu sẽ giúp NH đưa

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 60

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

ra mức cho vay phù hợp và tránh khó khăn trong phát mãi tài sản thu hồi nợ. Nâng cao

chất lượng thẩm định là cơ sở đảm bảo chất lượng tín dụng, đặc biệt trong điều kiện

thông tư 02/NHNN về phân loại nợ xấu, trích lập dự phòng mới sẽ có hiệu lực vào

tháng 6/2014 nhằm siết chặt quản lý đối với tín dụng NH.

Thứ tư, nâng cao chất lượng cán bộ nhân viên

Chất lượng mọi công việc, trong đó có cả những nghiệp vụ NH, thực chất bắt

nguồn từ chính con người. Nhân tố con người lại càng có tầm quan trọng đặc biệt

trong tín dụng, một nghiệp vụ đòi hỏi kỹ năng phân tích và cả sự nhạy cảm của người

thực hiện. Chính những cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm tìm kiếm KH, cho

vay, theo dõi, giúp đỡ KH hay phát hiện các sai phạm và đưa ra các kết luận về thẩm

định để quyết định cho vay... Do đó, cán bộ tín dụng là nhân tố ảnh hưởng quan trọng

tới hiệu quả tín dụng nói chung và cho vay DAĐT nói riêng.

Muốn nâng cao hiệu quả cho vay DAĐT, NH không thể bỏ qua công tác nâng

cao chất lượng cán bộ tín dụng cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức. Theo đó, cán

bộ tín dụng cần được đào tạo bài bản về nghiệp vụ, quy trình tín dụng nhất là trong

bước lựa chọn và thẩm định KH, DAĐT. Người làm tín dụng không những phải biết

cách thu thập thông tin mà còn phải xử lý được thông tin đã thu thập để tận dụng triệt

để khả năng mà thông tin mang lại. Tính nghệ thuật của nghiệp vụ cho vay thể hiện ở

chỗ cán bộ tín dụng không lệ thuộc vào con số cứng nhắc và chưa hoàn toàn đáng tin

cậy trên các báo cáo tài chính mà còn thu thập thông tin bằng nhiều cách như phỏng

vấn KH, nghiên cứu ngay tại cơ sở thực địa để hiểu tình hình thực tế, nhu cầu tương

lai, năng lực quản lý, đặc biệt là sự trung thực của KH. Tính linh hoạt còn đòi hỏi cán

bộ phải nhạy cảm trong nắm bắt chủ trương, chính sách phát triển của ngành nghề, của

địa phương có liên quan tới dự án để giúp đỡ KH hiện tại và phát triển KH tiềm năng

bằng việc chủ động tìm đến các DN cần vốn. Không chỉ theo dõi KH trước khi cho

vay mà sau giải ngân cán bộ tín dụng cũng cần thường xuyên giám sát, kiểm tra tình

hình sử dụng vốn để phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm và có biện pháp giúp đỡ

KH khi khó khăn thông qua chính sách gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn....

Một vấn đề không kém phần quan trọng là rèn luyện đạo đức cho cán bộ tín

dụng, bởi sự trung thực là một nhân tố không thể thiếu tạo nên hiệu quả hoạt động tín

dụng. Việc đào tạo thường xuyên để cập nhật kiến thức về nghiệp vụ, các biến động

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 61

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

trên thị trường, các thủ đoạn lừa đảo mới, xu thế phát triển của ngành trong tương lai

để nâng cao kinh nghiệm và kỹ năng cho cán bộ cũng rất cần thiết để nâng cao hiệu

quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh với các NH khác không chỉ bằng lãi suất mà bằng

chính chất lượng tín dụng của NH.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống thu thập thông tin KH và hiện đại hóa công

nghệ thông tin dùng trong hoạt động NH.

Hoạt động trong một môi trường thiếu thông tin hay thông tin không minh bạch

luôn là lo ngại của tất cả các nhà đầu tư trong nền kinh tế. Có thể nói rằng, thông tin là

chìa khóa cho mọi quyết định kinh tế, bởi vậy, tính chuẩn xác và đầy đủ của thông tin

đã trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong mọi hoạt động. Các nghiệp vụ NH nói

chung và tín dụng nói riêng không thể nằm ngoài quy luật này. Hiệu quả cho vay

DAĐT phụ thuộc nhiều vào nguồn thông tin mà NH thu thập được như là năng lực tài

chính của KH, về triển vọng dự án, sự thay đổi các biến số giá cả, sản lượng, lãi suất,

lạm phát, thuế... làm nền tảng cho mọi phân tích, đánh giá, thẩm định KH, dự báo rủi

ro, hiệu quả của dự án. Hệ thống thông tin thu thập được cũng sẽ làm nền tảng giúp

NH xây dựng nên giới hạn tín dụng và hạn mức tín dụng cho từng khách hàng với lãi

suất phù hợp.

Những thông tin về KH bao gồm: tình hình tài chính của DN, chủ đầu tư, các

quan hệ tín dụng với NH, chất lượng các khoản tín dụng với NH cho tới nay, các

khoản tiền gửi tại NH, thông tin khác có được về quan hệ của KH với các tổ chức tín

dụng khác từ CIC... Tham vấn được thông tin trên nhanh chóng là cơ sở để NH rút

ngắn thời gian kiểm tra KH để chấm điểm tín dụng, kiểm tra năng lực tài chính cũng

như hoàn thành thủ tục trong thời gian sớm nhất nhằm tiết kiệm thời gian cho cả NH

và KH. Bên cạnh đó, NH cũng cần các thông tin về dự án như đặc điểm hoạt động của

máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất, sản lượng đảm bảo cho doanh thu của dự án,

thông tin thị trường tiêu thụ sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, thị trường nguyên vật liệu

để thẩm định chi phí sản xuất kinh doanh, giá bán... Từ đây NH sẽ có được kết luận

xác đáng hơn về triển vọng trong tương lai của dự án.

Thu thập thông tin cần tiến hành hệ thống trong thời gian nhất định và phải dựa

vào nhiều nguồn. Do đó, ngoài yếu tố con người, NH còn cần tới những công nghệ

hiện đại và tiên tiến để quản lý và cho phép truy xuất thông tin một cách có hệ thống

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 62

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

về KH nhanh chóng. Thời gian tới, hoạt động NH hứa hẹn sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn

nữa do xu thế sáp nhập, cơ cấu lại các NH yếu kém và sự xâm nhập của NH ngoại,

công nghệ NH lại một lần nữa trở thành vấn đề cấp bách cần sự quan tâm đầu tư thích

hợp của NH để không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn gia tăng tính an toàn

của nghiệp vụ NH trực tuyến.

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm soát trong nội bộ NH

Một nghiệp vụ quan trọng mà mỗi NH đều quan tâm là công tác kiểm soát nội

bộ. Thông qua đó, NH có thể phát hiện những tồn tại, yếu kém và các sai phạm trong

tất cả hoạt động bao gồm cả tín dụng và cho vay DAĐT để có biện pháp xử lý kịp thời.

Để thực hiện tốt nghiệp vụ quan trọng này, cán bộ chuyên trách cần xây dựng

được những chương trình kiểm tra tín dụng định kỳ hay đột xuất với mục tiêu và biện

pháp xử lý được đề ra cụ thể. Nội dung kiểm tra cần toàn diện nhưng có trọng tâm vào

các vấn đề nổi bật như sự tuân thủ quy trình tín dụng, quy định bảo đảm tiền vay, phân

loại nợ, xử lý nợ xấu qua trích lập dự phòng, gia hạn nợ, giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn có

đúng nguyên tắc hay không, hệ thống thông tin tín dụng, báo cáo tín dụng có được cập

nhật thường xuyên hay không... Thanh tra giám sát chặt chẽ là cơ sở ngăn chặn hành

vi tiêu cực làm thất thoát tài sản NH, giảm chất lượng tín dụng.

Ngoài những giải pháp trên, NH còn có thể cân nhắc những cách thức như hạ

mức cho vay đối với KH chưa đủ tin cậy do chưa có nhiều thông tin về KH, cho vay hợp

vốn để phân tán rủi ro, kiên quyết với các đối tượng KH đã tham gia giao dịch với NH

từ trước nhưng thường xuyên có nợ xấu, kết quả kinh doanh không đảm bảo. Tham gia

các loại hình bảo hiểm tín dụng cũng là một giải pháp khác nhằm chuyển bớt rủi ro sang

các công ty bảo hiểm. NH cũng cần tiếp tục củng cố quan hệ với các DN hiện có và mở

rộng DN tiềm năng, đặc biệt là các DN trong khu kinh tế mở Chu Lai, Điện Nam – Điện

Ngọc, các DN cơ khí ô tô, dệt may vốn là lĩnh vực chủ lực đang nhận được nhiều ưu tiên

khuyến khích của chính quyền. Các DN thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ cũng là đối

tượng cần được quan tâm theo chủ trương thu hút đầu tư của Quảng Nam, đây là ngành

mà địa phương đang có khả năng và lợi thế trong việc cung cấp cho các DN thuộc khu

vực kinh tế trọng điểm miền Trung. Đặc biệt, ngành dệt may đang còn nhiều dư địa phát

triển với các đơn đặt hàng nước ngoài có dấu hiệu tăng lên. NH cần đón đầu xu thế này

để nắm bắt nhu cầu vay vốn của các DN trong ngành.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 63

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Mặt khác, cải thiện hiệu quả hoạt động cho vay không chỉ là công việc của

riêng NH mà rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía cơ quan chức năng với những biện pháp

thông thoáng trên nhiều lĩnh vực để hỗ trợ DN, NH thoát khỏi khó khăn hiện tại và

kinh doanh trên một môi trường cởi mở, bình đẳng, minh bạch. Bên cạnh đó, sự hợp

tác của DN trong việc cung cấp thông tin cần thiết, tuân theo quy trình tín dụng và gia

tăng khả năng vốn, tính cạnh tranh cũng góp phần nâng cao hiệu quả cho vay của NH,

từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cả DN phát triển sản xuất và mang về lợi nhuận cho

chính mình.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 64

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

PHẦN 3. KẾT LUẬN

Giai đoạn 2011 – 2013 là khoảng thời gian đầy khó khăn với cả thế giới và

trong nước. Khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008 để lại sự trượt dốc kéo dài không

dễ dàng hồi phục cộng với áp lực từ nợ công châu Âu, số lượng thất nghiệp tăng cao

ngay tại những nền kinh tế lớn như Mỹ và EU, hậu quả khôn lường của thiên tai khiến

tổng cầu suy yếu cùng sự giảm sút của tổng cung làmthương mại mất đà. Chịu ảnh

hưởng từ thế giới trong bối cảnh hội nhập cộng với các khó khăn trong nước do lạm

phát cao, đầu cơ vàng, đầu cơ ngoại tệ, DN tồn kho nhiều và khó tiếp cận vốn, nợ xấu

cùng nhiều bất cập trong tín dụng NH dần lộ diện rõ đã vẽ nên một bức tranh kinh tế

Việt Nam lắm khó khăn trong thời gian qua. Trong đó, nhiều yếu kém và sự nhạy cảm

với biến động thị trường của các chủ thể kinh tế Việt Nam đã được bộc lộ.

Trong bối cảnh ấy, tín dụng NH nói chung và nghiệp vụ cho vay tài trợ dự án

gặp không ít trở ngại. Tại chi nhánh, dư nợ cho vay hạn chế trong mở rộng trong

khi nợ xấu tăng cao khiến hiệu quả cho vay dự án không đưa lại hiệu quả như kỳ

vọng. Tuy nhiên, chi nhánh BIDV Quảng Nam đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp

để đảm bảo hoạt động tín dụng nói chung và cho vay DAĐT nói riêng vẫn đạt

những kết quả đáng khích lệ trong tăng trưởng dư nợ, hạn chế nợ xấu, cân đối

nguồn vốn dùng trong nghiệp vụ chủ yếu của tín dụng trung dài hạn này, biểu hiện

qua sự cải thiện của tất cả chỉ tiêu đánh giá hiệu quả được xem xét trong năm 2013

so với hai năm liền kề.

Tuy chỉ tập trung vào giai đoạn 3 năm qua, song nghiên cứu cũng cho thấy sự

gắn kết, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa Nhà nước – Ngân hàng – Doanh nghiệp và sự

tác động của diễn biến toàn cầu tới các chủ thể và mối quan hệ trên. Tất cả ảnh hưởng

dù tiêu cực hay tích cực đều dẫn tới hiệu ứng domino trong vòng quan hệ mật thiết

này. Vì thế, hiệu quả của cho vay DAĐT chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những biến

động kinh tế, khó khăn của DN và tới lượt mình, nghiệp vụ này lại tạo ra hiệu ứng đối

với DN cũng như nền kinh tế. Phát triển bền vững, do vậy, đòi hỏi niềm tin và sự phối

kết hợp đồng bộ các giải pháp giữa những bên liên quan trong mắt xích giá trị. Mặt

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 65

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

khác, các DN và NH còn cần phải tự mình gia tăng sức mạnh nội lực để đứng vững

trước nhiều thách thức trong điều kiện hội nhập đang ngày càng sâu rộng hơn.

Năm 2014, tình hình trong nước vẫn còn khó khăn nhưng được dự đoán khả

quan hơn. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia,

kinh tế năm nay sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng từ 5.57 – 6.3%, chỉ số CPI tăng ở

mức 7 – 7.5%. Những triển vọng tích cực đã xuất hiện trong 4 tháng đầu năm như

dấu hiệu tan băng của thị trường địa ốc nhất là phân khúc nhà ở cho người cho thu

nhập trung bình, tăng trưởng GDP cao hơn cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng

giảm so với cùng kỳ, xuất khẩu tiếp tục mở rộng. Bên cạnh đó, hàng nghìn DN dừng

hoạt động do khó khăn trong năm 2013 tiếp tục bắt tay vào sản xuất, sắc xanh quay

trở lại thị trường chứng khoán Việt Nam cùng nhiều phiên tăng điểm trên cả 2 sàn

giao dịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, vốn quay về với tấm “phong vũ

biểu” của nền kinh tế, nhập khẩu tăng cho thấy nhu cầu sản xuất đã bắt đầu ấm lên...

Trong tháng 4/2014, NH HSBC cũng đã công bố chỉ số PMI của Việt Nam nằm ở

mức triển vọng cao 53.1 điểm, đưa Việt Nam và Cộng hòa Séc thành 2 điểm sáng

trong nhóm những thị trường mới nổi của thế giới. Dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế

IMF và NH Thế giới WB cũng cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta

khoảng 5.6%. Mặc dù là năm thứ 7 liên tiếp tăng trưởng dưới mức 7% song so với

các nền kinh tế đầu tàu tại Đông Nam Á, khu vực được đánh giá là có tốc độ tăng

trưởng ổn định nhất hiện nay, như Thái Lan (2.5%), Indonesia, Malaysia đều nhỉnh

hơn 5% một chút, Việt Nam có thể hoàn toàn tự tin với con số dự báo trên. Việt Nam

cũng đang đón nhận sự quan tâm chú ý trong giới đầu tư và dòng vốn từ các nước

như Nhật Bản, Hàn Quốc đang chuyển dịch từ Trung Quốc sang ở các ngành như lắp

ráp ô tô, bộ phận máy bay, máy tính... mở ra triển vọng biến nước ta thành một trong

những công xưởng của thế giới. Các đơn đặt hàng từ nước ngoài, đặc biệt là ngành

dệt may, da giày cũng đang có dấu hiệu tăng mạnh.

Nhiều chính sách của cả nước và địa phương nhằm khuyến khích các DN nông

nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo, ứng dụng công nghệ cao, DN xuất khẩu, chủ

trương giảm thuế cho các DN vừa và nhỏ, chính sách hỗ trợ thị trường nhà đất... đang

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 66

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

được tích cực triển khai đồng bộ và dần phát huy tác dụng trong một môi trường vĩ mô

điều hành hiệu quả với lạm phát được kiềm chế, thị trường vàng, thị trường ngoại hối

không còn rối loạn. Kinh tế Việt Nam cũng nhận được nhiều kỳ vọng hơn khi Chính

phủ liên tục có những động thái mạnh mẽ và quyết liệt trong công cuộc tái cơ cấu

những đầu tàu là DNNN, NH đã nhận thức rõ tái cấu trúc không còn là mệnh lệnh mà

thực sự trở thành nhu cầu bức thiết để đứng vững trước hội nhập.

Ngoài ra, hệ thống DN Việt Nam cũng có một số động thái tích cực với hơn

18,300 DN đăng ký thành lập mới trong quý 1, tăng 16.9% so với cùng kỳ năm 2013,

riêng khu vực duyên hải miền Trung có 2,443 DN thành lập mới, tốc độ tăng 20%

(Quảng Nam không nằm trong số tỉnh thành phố có số DN thành lập mới giảm). Bên

cạnh đó, sau giai đoạn lắm bất ổn, các DN Việt được trải qua quá trình thanh lọc

những cá thể yếu kém cho một giai đoạn cạnh tranh hứa hẹn khốc liệt hơn. Hệ thống

NH cũng đã phát hiện những lỗ hổng để đưa ra nhiều biện pháp giải quyết kịp thời,

góp phần làm trong sạch và vững mạnh thị trường tài chính trong nước.

Những nhân tố này cùng mặt bằng cho vay giảm sau nhiều lần hạ lãi suất tái

cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu của NHNN là những tín hiệu tích cực tạo cơ hội cho

NH phát triển hoạt động tín dụng tài trợ DAĐT cho các DN trên địa bàn. Dù vậy, khó

khăn và rủi ro vẫn luôn tiềm ẩn trong nghiệp vụ tín dụng đầy nhạy cảm đòi hỏi NH

phải nhanh chóng thích nghi để có sự điều chỉnh chính sách phù hợp với những đối

tượng trong từng thời kỳ. Đặc biệt, NH phải chú trọng tới nhân tố con người và tăng

cường sự hỗ trợ của công nghệ. Như vậy, cho vay DAĐT mới phát huy hết khả năng

của mình, giúp đỡ các DN phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu trong sản xuất kinh

doanh, tạo lợi nhuận cho NH và góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội

của địa phương và của cả nước.

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Hiệu quả cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng

Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam” mặc dù đã hệ thống hóa được lý

thuyết về DAĐT và cho vay DAĐT tại NHTM, nêu ra một số chỉ tiêu dùng để đánh

giá hiệu quả hoạt động tín dụng trên cũng như áp dụng lý thuyết này làm nền tảng

nghiên cứu thực tế nghiệp vụ cho vay tài trợ DAĐT tại chi nhánh BIDV Quảng Nam

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 67

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

trong tương quan diễn biến kinh tế thế giới, cả nước và địa phương. Tuy nhiên, do giới

hạn về kiến thức, thời gian nghiên cứu cũng như yêu cầu giữ bí mật kinh doanh của cơ

sở thực tập nên không tránh khỏi những thiếu sót về số liệu, sự đánh giá cũng mới chỉ

dừng lại ở xu thế biến động theo thời gian. Do đó, nghiên cứu chưa được toàn diện và

sâu sắc để có thể tiếp cận kỹ càng và đưa ra dự báo tương đối hợp lý cho chi nhánh

trong thời gian tới. Nghiên cứu nếu được thực hiện trong giai đoạn dài hơn và không

vấp phải khó khăn về mặt số liệu sẽ đánh giá một hệ thống đầy đủ các chỉ tiêu như đã

nêu ra trong tương quan so sánh với các NH khác trong nước cũng như chi nhánh nước

ngoài để cấu thành lập luận xác đáng hơn về hiệu quả cho vay DAĐT đồng thời đề ra

được những giải pháp thực tế, phong phú hơn giúp NH cải thiện nghiệp vụ cho vay

quan trọng này.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 68

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chủ biên: PGS. TS. Trần Huy Hoàng, (2010), Quản trị ngân hàng, NXB Lao động

xã hội.

[2] Chủ biên: TS. Trần Thị Xuân Hương – ThS. Hoàng Thị Minh Ngọc, (2011),

Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

[3] Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam

năm 2011.

[4] Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam

năm 2012.

[5] Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam

năm 2013.

[6] KPMG, (2013), Khảo sát về ngành Ngân hàng Việt Nam.

[7] Nguyễn Thị Hương Giang K41 Kế toán – ĐH Kinh tế Huế, 2011, Chuyên đề thực

tập tốt nghiệp “Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam Quảng Nam”.

[8] Nhóm tác giả Học viện ngân hàng TP.HCM, (2013), Nợ xấu – những góc nhìn đa chiều

[9] PGS TS Lê Văn Tề, (7/2013), Tín dụng ngân hàng, NXB Giao thông vận tải.

[10] Sổ tay tín dụng BIDV năm 2013.

[11] Th.S Hồ Phan Minh Đức, (2010), Thẩm định tài chính dự án –NXB Đại học Huế.

[12] Trung tâm nghiên cứu kinh tế và phát triển Anh Nguyễn (ANCE), Báo cáo kinh tế

tài chính Việt Nam năm 2011.

[13] TS Lê Kim Sa, Nhìn lại kinh tế toàn cầu năm 2011: Khó khăn tích lũy và tương

lai ảm đạm, (2011),Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

[14] Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, Báo cáo nhận định tình hình kinh tế năm

2013 và dự báo kinh tế 2014 – 2015.

Các trang web:

www.sbv.gov.vn

www.qso.gov.vn

www.ivc.com.vn

www.tapchitaichinh.vn

www.bidv.com.vn

www.vtv.vn

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH 69

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

PHỤ LỤC

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 1. Bảng 1. Số dư vốn huy động cuối năm của Chi nhánh 2011 – 2013. ĐVT: triệu đồng

Năm 2012/2011 Năm 2013/2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 +/- % +/- %

2,275,090 2,418,651 2,517,972 143,561 6.31 99,321 4.11 Tổng nguồn vốn

Tổng nguồn vốn huy động 769,509 1,064,840 1,634,225 295,331 38.38 569,385 53.37 (bao gồm cả KBNN)

Theo đối tượng khách hàng

514,842 801,596 939,146 286,754 55.70 137,550 17.16 Huy động dân cư

254,618 229,632 281,663 -24,986 -9.81 52,031 22.66 Huy động TCKT

49 33,612 413,416 33,563 68,495.92 379,804 1,129.97 Huy động định chế TC

Theo kì hạn

769,476 492,318 704,163 -277,158 -36.02 211,845 43.03 Ngắn hạn

33 572,522 930,062 572,489 1,734,815.15 357,540 62.45 Trung dài hạn

Theo loại tiền

760,000 1,047,657 1,616,151 287,657 37.85 568,494 54.26 VN đồng

9,509 17,183 18,074 7,674 80.70 891 5.19 Ngoại tệ quy đổi

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 2.

Bảng 2. Dư nợ tín dụng cuối năm tài chính toàn hệ thống BIDV giai đoạn 2011 – 2013.

Năm 2011 2012 ĐVT: triệu đồng 2013

291,760,778 337,627,458 388,930,789 Dư nợ tín dụng

162,359,657 189,992,832 220,346,918 - Tín dụng ngắn hạn

129,401,121 147,634,626 168,583,871 - Tín dụng trung dài hạn

(Nguồn: Báo cáo tài chính riêng lẻ BIDV 2011 – 2013)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 3. Bảng 3. Dư nợ tín dụng cuối năm tài chính tại chi nhánh theo kỳ hạn giai đoạn 2011 – 2013. ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

2,203,204 1,249,174 954,030 2,358,908 1,328,087 1,030,821 2,493,982 1,181,833 1,312,149 Năm 2012/2011 % +/- 7.07% 155,704 6.32% 78,913 8.05% 76,791 Năm 2013/2012 % +/- 5.73% 135,074 -11.01% -146,254 27.29% 281,328 Dư nợ cuối kì Dư nơ ngắn hạn Dư nợ trung và dài hạn

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của người thực hiện đề tài)

Phụ lục 4.

Bảng 4. Nợ xấu chi nhánh cuối năm tài chính giai đoạn 2011 – 2013 phân theo kỳ hạn. ĐVT: triệu đồng

Năm 2012/2011 Năm 2013/2012 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 +/- % +/- %

98,304 632,317 51,714 534,013 543.23 -580,603 -91.82 Nợ xấu

2,203,204 2,358,908 2,493,982 155,704 7.07 135,074 5.73 Tổng dư nợ

0.04 0.27 0.02 0.22 501.12 -0.25 -92.28 Tỷ lệ nợ xấu

5,405 222,199 36,284 216,794 4,010.99 -185,915 -83.67 Nợ xấu ngắn hạn

92,899 410,118 15,430 317,219 341.47 -394,688 -96.24 Nợ xấu TDHạn

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Bảng 5. Nợ xấu chi nhánh cuối năm tài chính giai đoạn 2011 – 2013 phân theo ngành kinh tế.

Năm 2011 2012 2013 2012/2011 (ĐVT: triệu đồng) 2013/2012

+/- +/- %

-7 -63 -10%

0

107.63%

-

0 0 2,814 3,200 0 0 -3,415 -476,421 0

70 0 3,000 0 25,201 1,957 63 0 6,229 479,621 0 29,996 0 3,229 479621 25,201 25,070 28,039 100% 1,432.75 % -4,926 % -100% 0 -54.82% -99.33% 0 -16.42%

67,145 27,905 4,353 -39,240 -58.44% -23,552 -84.40%

-747 -1,537 0 -97 -100% -82.19% 0 -100% 19.52% - 0 - 625 0 0 0 747 1,870 0 97 0 333 0 0 122 1870 0 97

- 0 82,446 15,902 82,446 -66,544 -80.71%

0 0 0 0 0 0 0

0 0 0 -3,302 0 0 0 0 0 -98.74% 0 0 0 0 0 996.39% 0 0 0 0 0 305 0 0 0 0 0 3,344 0 0 0 0 0 42 0 0 0 0 0 3,039 0 0 Nông nghiệp và lâm nghiệp Thủy sản Công nghiệp khai thác mỏ Công nghiệp chế biến Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước - Xây dựng - Thương nghiệp, sửa chữa xe cố động cơ, mô tô xe máy, đồ dùng cá nhân gia đình - Khách sạn, nhà hàng - Vận tải kho bãi, thông tin liên lạc - Hoạt động tài chính - Hoạt động khoa học công nghệ - Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn - Quản lý NN và ANQP, Đảng, đoàn thể, bảo đảm xã hội bắt buộc - Giáo dục và đào tạo - Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội - Hoạt động văn hóa, thể thao - Hoạt động phục vụ cá nhân, cộng đồng - Hoạt động dịch vụ tại hộ gia đình - Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm 2011 – 2013 và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Bảng 6. Nợ xấu chi nhánh cuối năm tài chính giai đoạn 2011 – 2013 phân theo thành phần kinh tế. (ĐVT: triệu đồng)

2013/2012

Nợ xấu theo loại hình kinh tế (theo QĐ493) 2011 2012 2013

- 0 0 +/- 0 % 0 Công ty Nhà nước

- 0 0 0 0 Cty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ

- 0 0 0 0 Cty TNHH 2 TV trở lên có cổ phần vốn góp của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ hoặc Nhà nước giữ quyền chi phối

68,692 2,814 -65,878 -95.90% - Cty TNHH khác

- 0 0 0 0

Cty CP có vốn cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có phần biểu quyết; hoặc Nhà nước giữ quyền chi phối đối với công ty trong điều lệ của công ty

- 525,852 41,274 -484,578 -92.15% Cty CP khác

- 0 0 0 0 Cty hợp danh

- 0 0 0 0 Doanh nghiệp tư nhân

- 0 0 0 0 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- 0 63 -63 -100% Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã

- 37,711 7,626 -30,085 -79.78% Hộ kinh doanh, cá nhân

- 0 0 0 0 Đơn vị hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể và hiệp hội

- 0 0 0 0 Khác

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 5.

Bảng 7. Lợi nhuận trước thuế chi nhánh 3 năm 2011 – 2013.

(ĐVT: triệu đồng)

2012/2011 2013/2012 Năm 2011 2012 2013 +/- % +/- %

Lợi nhuận chi 33,486 3,900 4,162 -29,586 88.35% 262 672% nhánh

Trích dự phòng rủi 2,647 47,525 32,602 44,878 1,695.43% -14,923 -31.40% ro trong năm

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của tác giả)

Biểu đồ 1. Lợi nhuận chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013.

Bảng 8. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ.

2012/2011 ĐVT: triệu đồng 2013/2012 Năm 2011 2012 2013 +/- % +/- %

13,777 10,969 13,336 -2,808 -20.38% 2,367 21.58% Thu dịch vụ ròng

Thu dịch vụ ròng

11,315 10,212 12,548 -1,103 -9.75% 2,336 22.88% không bao gồm

kinh doanh ngoại tệ

(Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 6. Bảng 9. Cơ cấu dư nợ cho vay DAĐT theo ngành kinh tế tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013. ĐVT: triệu đồng

2012/2011 2013/2012 Năm 2011 2012 2013

859,250 167,726 214,984 160,250 316,290 1,083,635 292,907 218,464 187,312 384,952 +/- 148,009 46,650 2,802 6,081 92,476 +/- 76,376 78,531 678 20,981 -23,814 % 8.89% 46.82% 0.32% 13.09% 7.53% 935,626 246,257 215,662 181,231 292,476 Dư nợ cho vay DAĐT Sản xuất và phân phối điện, khí đốt Xây dựng Công nghiệp chế biến chế tạo Khác

27%

36%

Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt Xây dựng

20%

17%

Công nghiệp chế biến

Khác

% 15.82% 18.94% 1.30% 3.36% 31.62% (Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

Năm 2013

Biểu đồ 2. Cơ cấu dư nợ cho vay dự án đầu tư theo ngành kinh tế tại chi nhánh giai đoạn 2011 – 2013.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 7. Bảng 10. Tính toán dư nợ bình quân

ĐVT: triệu đồng

2011 2010

808,887 954,030 720,350 1,249,174 768,443 859,250

881,458.50 992,425.50 813,846.50 897,438 Năm Dư nợ trung dài hạn Dư nợ ngắn hạn Dư nợ cho vay dự án đầu tư Dư nợ ngắn hạn bình quân Dư nợ trung dài hạn bình quân Dư nợ cho vay dự án đầu tư bình quân

2013 2012 1,312,149 1,030,821 1,181,833 1,328,087 1,083,635 935,626 984,762 1,288,630.50 1,254,960 1,171,485 1,009,630.50 (Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm, số liệu năm 2010 và tính toán của người thực hiện khóa luận)

Trong đó:

= - + DSCV năm 2011 DSTC năm 2011 Dư nợ cho vay DAĐT năm 2010 Dư nợ cho vay DAĐT năm 2011

Dư nợ trung bình

Bảng 11. Các chỉ tiêu về vòng quay vốn tín dụng tại chi nhánh 3 năm 2011 – 2013.

ĐVT: triệu đồng

Năm 2011 71,078 1,772,296 813,847.50 871,459 0.040 Năm 2012 44,946 2,265,452 897,438 982,436 0.020 Năm 2013 82,489 2,445,147 1,009,630 1,181,485 0.034

0.082 0.046 0.070

0.087 0.050 0.082

0.770 1.066 2.852

Chỉ tiêu Doanh số thu nợ cho vay dự án đầu tư Tổng dư nợ tín dụng bình quân Dư nợ cho vay dự án đầu tư bình quân Dư nợ trung dài hạn bình quân Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ bình quân Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ trung dài hạn bình quân Thu nợ cho vay dự án/Dư nợ cho vay dự án bình quân Thu nợ ngắn hạn/dư nợ ngắn hạn bình quân Thu nợ trung dài hạn/dư nợ trung dài hạn bình quân 0.075 0.078

0.091 (Nguồn: Số liệu chi nhánh 3 năm và tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 8.

Bảng 12. Vốn đầu tư của tỉnh trong 3 năm

ĐVT: tỷ đồng

Tỷ trọng Năm 2011 2012 2013 2011 2012 2013

12,795 13,738 14,992 100% 100% 100% Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

9,212 9,373 10,343 72% 68.23% 68.99% Vốn đầu tư nhà nước

2,559 3,419 3,576 20% 24.89% 23.85% Nguồn vốn ngoài nhà nước

1,024 946 1,003 8% 6.89% 6.69% Vốn đầu tư FDI

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội 3 năm tỉnh Quảng Nam và

tính toán của người thực hiện khóa luận)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Phan Thị Minh Lý

Phụ lục 9.

Biểu đồ 3. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP và tỷ lệ tăng tăng trưởng tín dụng/GDP tại Việt Nam (trái) Tỷ lệ tín dụng/GDP của một số quốc gia, giai đoạn 2001 – 2010 (phải)

(Nguồn: NGND.PGS.TS. Tô Ngọc Hưng, ThS. Nguyễn Đức Trung, Học viện Ngân hàng, (2011), Hoạt động Ngân hàng Việt Nam – Nhìn lại năm 2011 và một số giải pháp cho năm 2012)

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiền – K44B TCNH

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Hiệu quả cho vay dự

án đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

Nam” là đề tài nghiên cứu do bản thân tự tìm hiểu, phân tích, không

có sự sao chép của tác giả nào. Các số liệu và kết quả nêu trong khóa

luận là trung thực, chính xác dựa trên số liệu thứ cấp của cơ sở thực

tập.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hiền