ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: TS. Phan Khoa Cương
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Vũ Thùy Dương Lớp: K45B Tài chính - Ngân hàng Niên khóa: 2011 - 2015
Huế, tháng 05 năm 2015
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi
chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy cô giáo đã và đang công tác
tại trường Đại học Kinh tế Huế đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy
và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kĩ năng quý báu trong
suốt bốn năm học vừa qua.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS.
Phan Khoa Cương, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Tôi cũng xin được gửi đến gia đình và bạn bè những lời cảm
ơn chân thành và sâu sắc vì những quan tâm, động viên và ủng
hộ đã dành cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài.
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện đề tài
khóa luận, tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kiến thức cũng
như kinh nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi những
thiếu sót, vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
quý báu từ quý Thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn!Huế, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Huỳnh Vũ Thùy Dương Sinh viên thực hiện
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ..................................................i
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ .........................................................................ii
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG ............................................................................. iii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ........................................................................................iv
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .....................................................................................1
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ..............................................................................................1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài .........................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..........................................................................................3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................3
1.4 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................4
1.5 Kết cấu đề tài .....................................................................................................5
Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................6
Chương I: TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG
KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH .......................................6
1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch ........................................................................................................6
1.1.1 Chứng khoán...............................................................................................6
1.1.2 Cổ phiếu......................................................................................................7
1.1.3 Chỉ số giá chứng khoán VN-Index .............................................................9
1.1.4 Khối lượng cổ phiếu giao dịch .................................................................11
1.1.5 Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch ...13
1.2 Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa chỉ số giá
chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch.....................................................15
1.2.1 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát triển .............................15
1.2.2 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán mới nổi ................................18
1.2.3 Nhận xét chung về kết quả các nghiên cứu đi trước.................................22
1.3 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu .......................................25
1.3.1 Tính dừng..................................................................................................26
1.3.2 Mô hình VAR ...........................................................................................28
1.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality) .....................29
1.3.4 Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai ........................................30
Chương II: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG
KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ..............................................................................32
2.1 Tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam ............................32
2.1.1 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam..........................32
2.1.2 Tình hình Thị trường Chứng Khoán Việt Nam giai đoạn nghiên cứu:
01/01/2009 – 31/12/2014 ...................................................................................33
2.2 Kết quả thực nghiệm .......................................................................................43
2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................43
2.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam...................................47
2.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu ...........................................................................54
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ............................59
3.1 Tăng tính minh bạch và hoàn thiện quá trình công bố thông tin.....................59
3.2 Nâng cao năng lực của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.....................61
3.3 Một số giải pháp khác......................................................................................61
Phần 3: KẾT LUẬN ................................................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................66
PHỤ LỤC .................................................................................................................68
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
: TTCK Thị trường chứng khoán.
: HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh.
: HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.
: CTCP Công ty cổ phần.
: CP Cổ phiếu.
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần.
: TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh.
Mô hình VAR : Mô hình vector tự hồi quy
(Vector Autoregression Model).
Hàm IRF : Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response
Function).
Kiểm định ADF : Kiểm định Augmented Dickey-Fuller.
Kiểm định PP : Kiểm định Phillip-Perron.
Mô hình MDH : Mô hình hỗn hợp của phân phối (The Mixture
of Distribution models).
Mô hình SAI : Mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự
i
(The Sequential Arrival Information models).
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2009 ..............33
Hình 2.2: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2010 ..............34
Hình 2.3: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2011 ..............36
Hình 2.4: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2012 ..............38
Hình 2.5: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2013 ..............40
Hình 2.6: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2014 ..............41
Hình 2.7: Đồ thị thống kê mô tả dữ liệu ...................................................................45
Hình 2.8: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R...........................................................50
ii
Hình 2.9: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V...........................................................51
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê mô tả .........................................................................................44
Bảng 2.2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng ......................................................46
Bảng 2.3: Độ trễ theo các tiêu chuẩn ........................................................................47
Bảng 2.4: Mô hình VAR với độ trễ tối ưu là 4 .........................................................48
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger .........................................49
Bảng 2.6: Phân rã phương sai của biến R .................................................................52
iii
Bảng 2.7: Phân rã phương sai của biến V .................................................................53
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
----------
Đề tài nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Với số liệu
sử dụng là dữ liệu hằng ngày về khối lượng giao dịch và chỉ số VN Index tại thời
điểm đóng cửa thị trường được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2009
đến ngày 31/12/2014 với tổng cộng 1496 quan sát, qua việc sử dụng mô hình VAR,
kiểm định Granger, hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai theo phương
pháp Cholesky, nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ giữa chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thị trường chứng khoán
Việt Nam. Kết quả từ mô hình VAR kiểm định Granger đã chỉ ra rằng mối quan hệ
giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch là mối quan hệ nhân
quả 2 chiều. Tuy nhiên, kết quả của hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai
lại cho thấy rằng tại thị trường chứng khoán Việt Nam, mối quan hệ tác động qua
lại này còn chưa rõ ràng. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề suất một số giải pháp
iv
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực cùng với sự ra đời của các tổ chức
quốc tế, các khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển
kinh tế với tốc độ và hiệu quả ngày càng cao, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, trong
điều kiện nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, thì hơn bao giờ hết thị trường chứng khoán càng khẳng định rõ vai trò và vị thế
của mình đối với toàn bộ nền kinh tế. Trải qua hơn 14 năm phát triển gắn liền với sự
thăng trầm của nền kinh tế thế giới, quy mô và phạm vi của thị trường đang từng
ngày lớn mạnh với cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, hoạt động sôi động, đạt
được hiệu quả rất cao không chỉ đóng vai trò tạo ra các công cụ có tính thanh khoản
cao, là kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần thực hiện tái phân phối
công bằng hơn, tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không
gây áp lực về lạm phát, đồng thời còn là kênh cung cấp thông tin tuyệt vời về các
chu kỳ kinh doanh trong tương lai.
Sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hiệu quả của thị trường chứng khoán như
hiện nay đã thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên để có thể tham gia một
cách hiệu quả trong thị trường này, thì các nhà đầu tư cần có những kiến thức và
thông tin nhất định. Thông tin tốt hay xấu, quá trình nắm bắt và xử lý thông tin
nhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của các giao dịch được thực hiện,
hay nói cách khác chính điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư. Theo
PGS.TS. Trương Đông Lộc các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường rất
quan tâm đến khối lượng cổ phiếu giao dịch do đây có thể chứa đựng những thông
tin rất có giá trị về sự thay đổi giá cổ phiếu trong tương lai hay nói cách khác đó
1
chính là lợi nhuận của các nhà đầu tư. Khối lượng cổ phiếu giao dịch cung cấp sự
xác nhận thứ cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị, đồng thời gia tăng
thêm những cảnh báo cho sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại. Tuy
nhiên đây mới chỉ là những kết luận mang tính chất định tính. Vậy, về mặt định
lượng, liệu có mối quan hệ nào giữa giá và khối lượng giao dịch trên thị trường
chứng khoán hay không? Đây là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của các nhà
kinh tế tài chính trong nước nói riêng và trên thế giới nói chung trong nhiều năm
gần đây. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng giao
dịch đã được thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mới
nổi. Mở đầu cho vấn đề này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoff
vào năm 1987, ông đã tìm ra các bằng chứng về mối quan hệ tích cực giữa sự thay
đổi giá và khối lượng giao dịch. Các nghiên cứu của Hutson, Kearney và Lynch
(2008), Chuang, Kuan và Lin (2009) cũng đã đưa ra các kết luận tương tự ở thị
trường chứng khoán Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban
Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Ở các thị trường chứng khoán mới nổi, nghiên cứu của
Moosa và Al-Loughani (1996) chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động qua lại giữa giá
cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Singapore và Thái Lan.
Chuang, Liu và Susmel (2012) cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ này trong
cả 10 thị trường chứng khoán ở khu vực Châu Á.
Mặc dù mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch đã được nghiên
cứu khá nhiều trong hơn hai thập kỷ qua, tuy nhiên, có rất ít những công trình
nghiên cứu về đề tài này liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam được công
bố. Xuất phát từ sự quan tâm trên đồng thời để giúp cho các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán Việt Nam có thể đưa ra quyết định hợp lý nhằm mục đích sinh
lợi cao nhất, tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa chỉ số giá
chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường Chứng khoán
Việt Nam” qua đó hi vọng sẽ đóng góp vào kho tàng các đề tài nghiên cứu trong
lĩnh vực kinh tế tài chính cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt
2
Nam nói riêng và các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới nói chung.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao
dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu về mối quan hệ giữa
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch.
- Tổng quan về tình hình biến động chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch giai đoạn nghiên cứu.
- Xem xét liệu có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa biến động chỉ số giá chứng
khoán (VN-Index) và biến động khối lượng giao dịch trên Thị trường Chứng khoán
Việt Nam hay không? Nếu có thì mối quan hệ này mạnh hay yếu và điều này có ý
nghĩa như thế nào?
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trường
chứng khoán Việt Nam.
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên
Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Đề tài lựa chọn sử dụng dữ liệu về chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) và khối
lượng giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
3
do khả năng đại diện tốt cho Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Thời gian: từ 01/01//2009 – 31/12/2014.
Lý do lựa chọn: Trong khoảng thời gian từ 2000 – 2005 thị trường chứng khoán
chỉ mới ở giai đoạn khởi động, tích lũy kinh nghiệm, tạo đà cho sự phát triển về sau,
thanh khoản thị trường lúc này khá kém do quy mô nhỏ và khối lượng giao dịch ít.
Từ năm 2006 thị trường chứng khoán được xem có bước phát triển mang tính chất
đột phá với hoạt động giao dịch sôi động và mức tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên,
đến năm 2008 với tác động của cuộc khủng hoảng thế giới, thị trường chứng khoán
Việt Nam cũng theo đó sụt giảm mạnh khiến cho bất cứ nghiên cứu nào trong giai
đoạn này cũng mất ý nghĩa. Từ năm 2009 trở đi thị trường bắt đầu tăng trưởng trở
lại với các chỉ số chứng khoán bắt đầu hoàn thiện và trở về với quy luật vốn có. Vì
vậy, để đảm bảo tính hiệu quả, ý nghĩa thiết thực của đề tài, thời gian được chọn để
thu thập dữ liệu của các biến là 01/01/2009 – 31/12/2014.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đề tài tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch. Qua đó, tiến hành phân tích, so sánh các phương pháp và kết quả
nhằm tìm ra điểm chung cũng như sự riêng biệt của từng nghiên cứu, từ đó tìm ra
hướng đi phù hợp.
1.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu:
Cơ sở lý luận, các khái niệm, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước về về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu
giao dịch, thông tin tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán và Sở Giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thu thập từ sách báo, các website, tạp
chí chuyên ngành kinh tế, tài chính, chứng khoán.
Dữ liệu hằng ngày về chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa thị trường và
4
khối lượng giao dịch tổng cộng cả phiên (không tính đến khối lượng giao dịch thỏa
thuận do nó không ảnh hưởng tới chỉ số VN-Index) trên Sở Giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh được lấy từ bộ dữ liệu lịch sử của trang cophieu68.com
trong khoảng thời gian từ 01/01//2009 – 31/12/2014.
1.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Thống kê mô tả: phân tích sơ bộ các đặc trưng kỹ thuật của dãy số liệu thu
thập được để có cái nhìn tổng quát về đặc tính của các dãy số liệu bằng phần mềm
Eviews 8.
- Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng: đây là điều kiện tiên quyết khi đưa ra
kết luận có ý nghĩa trong phân tích đối với chuỗi thời gian và tăng độ chính xác
cũng như độ đáng tin cậy của mô hình. Để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu
theo thời gian, đề tài sử dụng phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) và PP
(Phillip-Perron).
- Mô hình tự hồi quy vector VAR 2 biến và kiểm định quan hệ nhân quả
Granger: dùng để phát hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa biến động chỉ số giá
chứng khoán và biến động khối lượng giao dịch, sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán
có là nguyên nhân gây ra sự biến động của khối lượng giao dịch hay không và
ngược lại.
- Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai: dùng để đánh giá mức độ tác
động qua lại giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và sự biến động của khối
lượng giao dịch là mạnh hay yếu.
1.5 Kết cấu đề tài
Chương I: Tổng quan về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối
lượng cổ phiếu giao dịch.
Chương II: Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
cổ phiếu giao dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị
5
trường chứng khoán Việt Nam.
Phần 2
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I
TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH
1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
cổ phiếu giao dịch
1.1.1 Chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tuy nhiên, theo cách hiểu
chung nhất, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành và có thể mua
bán trên thị trường. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán
ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ.
- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp
đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
1.1.1.2 Đặc điểm
Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của một tài sản là thời gian và chi phí
chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt. Tính thanh khoản cao hay thấp phụ thuộc vào
khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm
sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn
so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường.
Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ,
6
đồng thời cũng hạn chế rủi ro giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán.
Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác
động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro
hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường, chịu tác động của các điều kiện kinh tế
chung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất v.v. Rủi ro phi hệ thống là
loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản riêng lẻ hoặc một nhóm nhỏ các tài sản và
thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành. Các nhà đầu tư thường quan tâm
tới việc xem xét, đánh giá các rủi ro liên quan, trên cơ sở đó đề ra các quyết định
trong việc lựa chọn, nắm giữ hay bán các chứng khoán.
Tính sinh lời: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu
tư mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Thu nhập này được
bảo đảm bằng khoản lợi tức được phân chia hằng năm mà người phát hành phải trả
cho người sở hữu chứng khoán và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường. Khả
năng sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, thể hiện trong
nguyên lý mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn.
1.1.1.3 Vai trò
Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường trong việc tạo
nên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà nước và tư
nhân. Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là
công cụ tài chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển
nhượng. Chứng khoán là một loại hàng hoá rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị
trường tự do.
1.1.2 Cổ phiếu
1.1.2.1 Khái niệm
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
7
hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
1.1.2.2 Đặc điểm
Tính thanh khoản: Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt một cách
dễ dàng. Tuy nhiên, tính thanh khoản của cổ phiếu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Đầu tiên là kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành: thông thường, nếu tổ chức
phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ
thu hút nhà đầu tư và dễ dàng mua bán trên thị trường. Thứ hai là mối quan hệ cung
cầu: giá cổ phiếu phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư trên thị trường.
Ngoài ra, các nhân tố khác như đầu cơ, móc ngoặc, lũng đoạn chứng khoán của cá
nhân, tổ chức nhằm tạo ra cung cầu chứng khoán giả tạo cũng làm tính thanh khoản
của cổ phiếu bị méo mó.
Tính lưu thông: Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản
thực sự, giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được những hoạt động như thừa kế,
tặng, cho… để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình.
Tính tư bản giả: Cổ phiếu có tính tư bản giả, tức là cổ phiếu có giá trị như tiền.
Tuy nhiên, cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng
tiền. Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Với cổ
phiếu phổ thông thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa do giá trị của cổ
phiếu được quyết định bởi thị trường, nhưng với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá gần
với giá trị thực tế hơn, vì cổ tức được tính toán theo một số phần trăm nhất định của
mệnh giá.
Tính rủi ro cao: Về lý thuyết, khi đã phát hành, cổ phiếu không đem lại rủi ro
cho tổ chức phát hành, mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu. Nguyên
nhân là giá trị của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định, như kết quả
kinh doanh của tổ chức phát hành, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia
và toàn thế giới… Hơn nữa, giá trị cổ phiếu còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của số
đông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác hay chính sự thiếu hiểu
biết của nhà đầu tư cũng khiến cổ phiếu rủi ro hơn. Tất nhiên, rủi ro cao thường đi
kèm với kỳ vọng lợi nhuận lớn và điều này tạo nên sự hấp dẫn của cổ phiếu đối với
8
các nhà đầu tư.
1.1.2.3 Phân loại cổ phiếu:
- Căn cứ vào quyền lợi cổ đông: cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông hay còn
gọi là cổ phiếu thường(common/ordinary stocks) và cổ phiếu ưu đãi (preferred
stocks).
- Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng: cổ phiếu ghi danh (name stocks), cổ
phiếu vô danh (bearer stocks).
- Căn cứ vào khả năng thu nhập và trạng thái doanh nghiệp phát hành: cổ phiếu
thượng hạng (blue-chip), cổ phiếu tăng trưởng (growth stocks), cổ phiếu phòng vệ
(defensive stocks), cổ phiếu thu nhập (income stocks), cổ phiếu chu kì (cyclical
stocks), cổ phiếu thời vụ (seasonal stocks).
- Căn cứ vào quyền tham gia bỏ phiếu: cổ phiếu đơn phiếu, cổ phiếu đa phiếu,
cổ phiếu lưỡng phiếu.
- Căn cứ vào tình trạng phát hành: cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã
phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành.
1.1.3 Chỉ số giá chứng khoán VN-Index
1.1.3.1 Khái niệm
Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều thì chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ
phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay
đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường. Hay có thể hiểu đơn giản
chỉ số giá chứng khoán là thước đo bình quân giá các chứng khoán giao dịch trên thị
trường.
Mỗi một thị trường chứng khoán có thể công bố một hoặc một vài chỉ số giá
chứng khoán, đó có thể là chỉ số cho tất cả cổ phiếu trên thị trường của một quốc
gia, như chỉ số giá Hangseng của Hồng Kông, chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn
Quốc (KOSPI); cũng có thể là chỉ số cho từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá
cổ phiếu ngành công nghiệp của Hoa Kỳ (DJIA) hoặc cho trường quốc tế như chỉ số
9
Hangseng Châu á (HSAI), chỉ số Dow Joness quốc tế (DJWSI).
Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu chỉ số giá chứng khoán VN-Index là chỉ số
duy nhất đại diện cho các cổ phiếu được niêm yết trên Trung tâm giao dịch
chứng khoán. Hiện nay, VN-Index là chỉ số được xây dựng dựa trên giá trị thị
trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.3.2 Ý nghĩa
Chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) thể hiện xu hướng biến động giá tại Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có khả năng đại diện tốt, được coi là
phong vũ biểu thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chỉ số giá chứng khoán luôn được theo dõi chặt chẽ và nhận được sự quan tâm
từ các nhà kinh tế học vì nó có liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới.
1.1.3.3 Phương pháp tính:
Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam (VN-Index) được tính theo phương pháp
bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết tại thời
kỳ tính toán. Người ta thường dùng công thức Passcher để tính :
∑
×
∑
×
VN-Index= x100
Trong đó:
P1i, Q1i : Lần lượt là giá và số lượng cổ phiếu i tại thời điểm báo cáo.
P0i, Q0i : Lần lượt là giá và số lượng cổ phiếu i tại thời điểm gốc được chọn là ngày
28/07/2000.
N : Số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số.
Trong quá trình tính toán chỉ số, bên cạnh sự biến động về giá cổ phiếu làm
thay đổi giá trị chỉ số, còn có một số nhân tố khác làm thay đổi như cơ cấu số cổ
phiếu niêm yết (thêm, bớt, tách, gộp cổ phiếu). Trong trường hợp này sẽ ảnh hưởng
10
đến tính không liên tục của chỉ số, nghĩa là chỉ số ngày báo cáo không đồng nhất
với chỉ số ngày trước đó. Do đó, cần phải thêm vào sự điều chỉnh này bằng hệ số
chia của công thức trên.
- Trường hợp có các cổ phiếu mới đưa vào niêm yết, hay tổ chức niêm yết tiến
ổ
á
+
á ị ủ á
ị ườ ê ế ớ
ệ ố
ớ
=
ệ ố
ũ ×
ị ườ á
ị ị ườ á ê ế ũ ị
á
ê ế ũ ổ - Trường hợp một số loại cổ phiếu niêm yết hay tổ chức niêm yết tiến hành
hành nâng vốn, hệ số chia mới được tính như sau:
ổ
á
giảm vốn, hệ số chia mới được tính như sau:
ị ườ ị á ỏ ủ ủ á
−
ệ ố
ớ
=
ệ ố
ũ ×
ị ị ườ á ê ế ũ ị
á
ổ
ị ườ á
ê ế ũ
Lúc đó:
ổ
á
ị
ị ườ ủ
đổ
ệ ố
ớ
VN-Index= x100
1.1.4 Khối lượng cổ phiếu giao dịch
1.1.4.1 Khái niệm
Khối lượng giao dịch là số lượng đơn vị được giao dịch trong khoảng thời gian
nhất định, thông thường là trong một ngày. Đó là khối lượng của cổ phiếu phổ
thông được giao dịch mỗi ngày trên thị trường chứng khoán.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường:
- Giá chứng khoán: đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khối lượng
cổ phiếu giao dịch, thông thường đây là ảnh hưởng tích cực, làm tăng khối lượng cổ
phiếu giao dịch.
- Khối lượng giao dịch của chính công ty phát hành: Hiện tượng mua lại cổ
phiếu của chính các công ty phát hành có ảnh hưởng tích cực, làm tăng khối lượng
11
cổ phiếu giao dịch.
- Công ty phát hành thêm cổ phiếu: Thường có ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm
khối lượng cổ phiếu giao dịch, khiến cho cổ phiếu bị “pha loãng” và giá cổ phiếu
lúc này sẽ giảm (theo một tỷ lệ nhất định phụ thuộc vào số lượng phát hành thêm).
- Hiện tượng mua bán trong nội bộ công ty: Nếu mua cổ phiếu hứa hẹn tiềm
năng phát triển trong tương lai, ảnh hưởng tích cực đến khối lượng giao dịch.
1.1.4.2 Ý nghĩa
Việc phân tích khối lượng giao dịch là một công việc cần thiết nhằm khẳng định
các tín hiệu về giá cả. Việc dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai không chỉ đơn
thuần dựa vào sự biến động giá mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong
đó không thể thiếu được khối lượng giao dịch.
Trong một xu hướng giá tăng (uptrend), thông thường khối lượng sẽ gia tăng
một cách từ từ cùng với giá, điều này là sự hỗ trợ cho đà tăng trưởng, tiếp tục đẩy
mức giá lên cao. Tuy nhiên, nếu có sự gia tăng một cách đột biến (thường là trên
150% so với khối lượng trung bình 20 phiên) thì có khả năng đó là sự chốt lời đồng
loạt của nhà đầu tư trên thị trường.
Khi giá đang trong một xu hướng xuống (downtrend) thông thường khối lượng
sẽ giảm, các giao dịch có phần ảm đạm hơn khiến cho các cổ phiếu tiếp tục đà giảm
giá. Tuy nhiên, nếu khối lượng tăng trưởng trở lại sẽ là dấu hiệu cho thấy đà giảm
giá có thể sẽ được hãm lại nhờ vào lực cầu bắt đáy (bottom-fishing). Thông thường,
trong trường hợp này sẽ có một độ trễ nhất định giữa sự phục hồi khối lượng và
phục hồi của giá.
Tóm lại, khối lượng cổ phiếu giao dịch cung cấp sự xác nhận thứ cấp quan
trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị, đồng thời gia tăng thêm những cảnh báo cho
sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại. Khi được kết hợp với diễn biến giá,
khối lượng giao dịch thể hiện xu hướng tăng/giảm của giá là đang mạnh hay yếu,
bên cạnh đó còn giúp đo lường áp lực mua bán ẩn dấu đằng sau sự di chuyển của
giá, đồng thời còn cho phép nhà đầu tư có thể dự đoán được xu hướng thị trường
12
chứng khoán hiện tại.
Tuy nhiên đây mới chỉ là những kết luận mang tính chất định tính. Vậy, về mặt
định lượng, liệu có mối quan hệ nào giữa sự thay đổi giá và biến động khối lượng
giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? Đây là vấn đề đang
nhận được sự quan tâm của các nhà kinh tế tài chính trong nước nói riêng và trên
thế giới nói chung trong nhiều năm gần đây. Phần tiếp theo sẽ tìm hiểu về các
nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch đã
được thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mới nổi.
1.1.5 Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch
Phần này đưa ra cái nhìn tổng quan về một số nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng
lý thuyết cơ bản cho mối quan hệ giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và khối
lượng giao dịch.
Karpoff (1987) đã đưa ra 4 lý do tại sao mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và
khối lượng giao dịch lại nhận được rất nhiều mối quan tâm đặc biệt của các nhà
kinh tế tài chính trên toàn thế giới. Đầu tiên, mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và
khối lượng giao dịch cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc thị trường tài chính như:
mức độ tác động của thông tin tới thị trường chứng khoán, các thông tin được phổ
biến như thế nào, mức độ giá cả truyền tải thông tin và những hạn chế của bán
khống. Thứ hai, mối quan hệ này được dùng để kiểm tra tính hữu ích của những
phân tích kỹ thuật dùng dữ liệu quá khứ về giá và khối lượng để đưa ra suy luận về
xu hướng thị trường. Hơn nữa, nó còn được sử dụng để kiểm tra vai trò của đầu cơ
đối với sự biến động giá, do đầu cơ có quan hệ chặt chẽ với khối lượng giao dịch.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch có ảnh hưởng
đến hợp đồng tương lai, chứa đựng những hàm ý quan trọng ảnh hưởng đến các
nghiên cứu trong các thị trường giao sau.
Trong suốt hơn hai thập kỉ qua, nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự thay đổi giá
chứng khoán và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm từ các nhà kinh tế học. Trong đó, phải kể đến hai mô hình đầu
13
tiên đặt nền tảng lý thuyết giải thích cho mối quan hệ giữa sự thay đổi giá chứng
khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch: mô hình hỗn hợp của phân phối (The
mixture of distribution models) và mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự
(The sequential arrival information models)
Mô hình hỗn hợp của phân phối (The mixture of distribution models) được
phát triển từ giả thuyết hỗn hợp của phân phối (Mixture of Distribution Hypothesis
_ MDH) trong các nghiên cứu của Clark (1973), Epps và Epps (1976), và Harris
(1986) cho rằng biến động giá và khối lượng giao dịch có mối quan hệ nhân quả do
những dòng chảy thông tin tiềm ẩn và giá cố phiếu có những thay đổi lớn bởi những
thông tin được truyền tải ra thị trường. Nghiên cứu trên sử dụng biến khối lượng
giao dịch như là một đại lượng cho sự biến động được gây ra bởi thông tin mới đến.
Các tác giả cho rằng giá trị của sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch phân phối
độc lập với nhau và số lượng thông tin đến trong mỗi thời điểm là khác nhau. Mô
hình chỉ ra rằng giá và khối lượng có quan hệ tương quan thuận chiều do phương sai
sự thay đổi giá trong mỗi giao dịch phụ thuộc vào khối lượng của giao dịch đó. Các
tác giả cho rằng sự thay đổi giá và khối lượng là cùng phụ thuộc vào thông tin do
yếu tố phân phối chung của chúng, nghĩa là việc tồn tại mối quan hệ giữa sự thay
đổi giá và khối lượng là do sự phụ thuộc giữa giá và khối lượng vào tốc độ dòng
chảy thông tin vào thị trường. Điều này hàm ý rằng giá và khối lượng phản ứng
cùng một lúc với sự xuất hiện của thông tin mới.
Theo mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự (The sequential arrival
information models_SAI) được đưa ra bởi Copeland (1976) và phát triển sau này
bởi Jennings et al. (1981), tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tích cực giữa
thay đổi tuyệt đối của giá và khối lượng. Copeland (1976) chỉ ra rằng khi có thông
tin mới được đưa ra thì nó sẽ không được phổ biến ngay với tất cả các nhà đầu tư
trên thị trường một cách đồng thời mà chỉ có một số ít các nhà đầu tư nắm được
thông tin này. Sau đó thông tin sẽ được truyền tải tuần tự dần dần đến tất cả các nhà
đầu tư, hay nói cách khác, thông tin là bất cân xứng. Sự cân bằng thông tin cuối
cùng chỉ được hình thành sau một chuỗi trung gian hoặc cân bằng chuyển tiếp đã
14
xảy ra. Điều này gây ra những thay đổi trong giá cổ phiếu, tạo nên những cân bằng
giá liên tiếp đi kèm với khối lượng giao dịch cao. Do đó, kết luận quan trong được
rút ra từ mô hình này là tỷ suất sinh lợi quá khứ có khả năng dự đoán khối lượng
giao dịch hiện tại và ngược lại.
Ngoài 2 mô hình trên, mô hình về nhà đầu tư “bất hợp lý” (The noise-trader
models) của Delong et al. (1990) cũng cung cấp một sự giải thích cho mối quan hệ
nhân quả giữa sự thay đổi giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch. Theo
mô hình này, hoạt động của những nhà đầu tư “bất hợp lý” (noise-traders), là các
nhà đầu tư thường ra quyết định mua hoặc bán không dựa trên cơ sở, phân tích kinh
tế mà thường đầu tư theo cảm tính và xu hướng, đồng thời có những phản ứng thái
quá với những thông tin tốt hoặc xấu sẽ gây ra sự định giá không đúng cổ phiếu
trong ngắn hạn. Trong mô hình này, mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi giá và
biến động khối lượng giao dịch được giải thích là do hành vi của các nhà đầu tư
“bất hợp lý”, hay cụ thể là do chiến lược đầu tư theo xu hướng thị trường của các
nhà đầu tư này. Do thường ra quyết định dựa trên biến động giá và khối lượng giao
dịch trong quá khứ nên khi giá tăng thì các nhà đầu tư này sẽ mua nhiều hơn, dẫn
đến khối lượng giao dịch tăng và ngược lại, khi khối lượng giao dịch tăng, hành vi
tiếp tục mua vào theo xu thế thị trường của các nhà đầu tư này sẽ đẩy giá tăng.
Khung lý thuyết phát triển bởi các mô hình này được chuẩn hóa và phát triển
trong các nghiên cứu tiếp theo, tạo nên nền tảng lý thuyết cơ bản cho mối quan hệ
giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch.
1.2 Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa chỉ số giá
chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch
1.2.1 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát triển
Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
giao dịch đã nhận được rất nhiều sự quan tâm trong hơn hai thập kỷ qua. Mở đầu
cho đề tài này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoff (1987) “The
relation between price changes and trading volume: a survey”. Bài nghiên cứu của
15
tác giả đóng vai trò quan trọng. Tác giả phân thành 2 nhóm nghiên cứu nhỏ: đầu
tiên, tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá tuyệt đối và khối lượng giao
dịch; thứ hai là tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá trên một cổ phần
và khối lượng giao dịch. Qua nghiên cứu này, Karpoff đã tìm ra các bằng chứng về
mối quan hệ tích cực giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch, kể cả thay đổi
tuyệt đối và thay đổi trên mỗi cổ phần.
Tiếp nối Karpoff, Gallant, Rossi và Tauchen (1992) trong nghiên cứu “Stock
prices and volume” đã thu thập dữ liệu về giá và khối lượng hàng ngày trên sàn
chứng khoán Newyork, trong giai đoạn từ năm 1928 đến năm 1987. Sau khi điều
chỉnh dữ liệu để tránh hiện tượng “tháng giêng” và xu hướng dài hạn, các tác giả đã
sử dụng phương pháp ước lượng một nửa phi tham số của mật độ có điều kiện phụ
thuộc (SNP estimators). Các tác giả cũng đã tìm ra mối tương quan dương giữa biến
động giá có điều kiện và khối lượng giao dịch. Kết quả này một lần nữa đã ủng hộ
cho kết quả của Karpoff.
Một năm sau, Campbell, Grossman và Wang (1993) đã tiếp tục xem xét mối
quan hệ giữa khối lượng giao dịch và tương quan chuỗi trong lợi nhuận trên sàn
chứng khoán Newyork và sàn chứng khoán Mỹ trong nghiên cứu “Trading volume
and serial correlation in stock returns”. Bằng cách thu thập chuỗi lợi nhuận hàng
ngày của chỉ số bình quân giá trị trong giai đoạn từ 3/7/1962 đến 30/12/1988. Tác
giả đã cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa lợi nhuận và khối lượng giao dịch.
Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Martikainen, Puttonen, Luoma và
Rothovius (1994) “The linear and non-linear dependence of stock returns and
trading volume in the Finnish stock market” trên Sở giao dịch chứng khoán
Helsinki cũng đã chỉ ra rằng có sự tác động qua lại giữa giá cổ phiếu và khối lượng
giao dịch trong giai đoạn 1983-1988 ở Phần Lan.
Trọng tâm của các nghiên cứu sau đó đã bắt đầu tập trung vào mối tương quan năng
động giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch. Đặc biệt, các mô hình VAR và
kiểm định nhân quả Granger được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về mối
16
quan hệ năng động giữa giá và khối lượng. Năm 2002, trong nghiên cứu “The
dynamic relation between stock returns, trading volume: Domestic and cross-
country evidence”, Lee và Rui (2002) đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ năng động
giữa thay đổi giá và biến động khối lượng giao dịch cho 3 thị trường chứng khoán
lớn nhất thế giới: Newyork, London, Tokyo. Bằng dữ liệu hằng ngày của chỉ số giá
thị trường và khối lượng hàng ngày với thời kỳ lấy mẫu bắt đầu khác nhau nhưng
kết thúc vào ngày 01/12/1999, do tính sẵn có của dữ liệu, thông qua mô hình VAR
và kiểm định nhân quả Granger, tác giả đã đưa ra kết luận tại mức ý nghĩa 5%, khối
lượng giao dịch và giá chứng khoán không có mối quan hệ nhân quả trong cả 3 thị
trường, điều này có nghĩa là mặc dù có sự tương quan tích cực giữa khối lượng và
giá nhưng sự biến động khối lượng không phải là nhân tố trực tiếp để dự đoán sự
thay đổi giá. Tuy nhiên, tác giả tìm thấy bằng chứng cho rằng có thông tin phản hồi
qua lại giữa khối lượng giao dịch và giá, nghĩa là khối lượng giao dịch có ảnh
hưởng đến giá, nhưng bằng hình thức gián tiếp.
Trong nghiên cứu “Time and dynamic volume–volatility relation”, Eleanor,
Chen và Wu (2006) đã sử dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) để kiểm tra mối
quan hệ năng động giữa biến động giá chứng khoán và khối lượng giao dịch. Sử
dụng các dữ liệu giao dịch của các chứng khoán Dow Jone 30 của sàn giao dịch
chứng khoán New York trong giai đoạn từ ngày 1/4 đến ngày 30/6/1995, các tác giả
đã tìm thấy bằng chứng rằng biến động giá và khối lượng có mối quan hệ bền vững
và tương quan chặt chẽ với các với sự biến động và khối lượng trong quá khứ.
Hai năm sau đó, đề tài nghiên cứu “Volume and Skewness in International Equity
Markets” của Hutson, Kearney và Lynch (2008) cũng tiến hành kiểm tra mối quan
hệ giữa khối lượng giao dịch và độ bất đối xứng của biến động giá trong 11 thị trường
chứng khoán quốc tế - Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban
Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ, bằng cách sử dụng dữ liệu ngày và tháng trong giai đoạn
từ tháng 1/1980 đến tháng 8/2004. Các tác giả đã xây dựng phương trình đơn và mô
hình VAR cho mối quan hệ giữa 3 moment đầu tiên của chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng giao dịch và tìm ra được các bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ giữa
17
biến động chỉ số giá và khối lượng giao dịch trong cả 11 thị trường.
Chuang, Kuan và Lin (2009) trong quá trình nghiên cứu đề tài “Causality in
quantiles and dynamic stock return-volume relations” đã sử dụng dữ liệu về 3 chỉ
số của thị trường chứng khoán: NYSE, S&P500, FTSE 100. Dữ liệu được thu thập
theo ngày bắt đầu từ đầu năm 1990 (ngày 2/1 hoặc ngày 4/1) đến ngày 30/6/2006
được lấy từ cơ sở dữ liệu Datastream. Các tác giả đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ
nhân quả giữa khối lượng và chỉ số giá chứng khoán dựa trên hồi quy phân vị. Đầu
tiên, các tác giả xác định rõ mối quan hệ phi nhân quả Granger trong tất cả các phân
vị và đề nghị kiểm tra quan hệ phi nhân quả bằng kiểm định sup-Wald. Bằng cách
đó, các tác giả đã tìm thấy ảnh hưởng nhân quả của khối lượng lên lợi nhuận là
thường không đồng nhất qua các phân vị và ảnh hưởng của lợi nhuận lên khối lượng
thì bền vững hơn.
1.2.2 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán mới nổi
Sự quan tâm về mối quan hệ giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trên thị
trường chứng khoán dường như có sự chuyển hướng từ việc xem xét trên các thị
trường phát triển sang các thị trường mới nổi trong những năm gần đây.
Tại khu vực châu Mỹ Latinh, Saatcioglu và Starks (1998) đã nghiên cứu đề tài
“The stock price-volume relationship in emerging stock markets” kiểm tra mối
quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng hàng tháng ở 6 thị trường chứng khoán
mới nổi của Mỹ Latinh: Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Mexico, và Venezuela
trong giai đoạn từ tháng 01/1986 đến tháng 04/1995. Sử dụng dữ liệu được thu thập
hằng tháng với mô hình vector tự hồi quy (VAR), kiểm định quan hệ nhân quả
Granger, nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa sự
thay đổi giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán
Colombia và Venezuela. Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng sự thay đổi giá
chứng khoán dẫn đến sự thay đổi khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán
Chile, và sự thay đổi khối lượng giao dịch dẫn đến sự thay đổi giá ở thị trường
18
chứng khoán Brazil và Mexico.
Liên quan đến các thị trường mới nổi ở khu vực Châu Âu, trong nghiên cứu
“Stock price and volume relation in emerging markets”, Gunduz và Hatemi-J
(2005) đã sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger ghi nhận có sự tác động
qua lại giữa giá và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Hungary và
Balan. Tác giả cũng đã chỉ ra sự thay đổi giá của chứng khoán tạo ra sự thay đổi
khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Nga và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tại khu vực Châu Á, trong nghiên cứu “Testing the price-volume relation in
emerging Asian stock markets” Moosa và Al-Loughani (1996) đã sử dụng dữ liệu
hàng tháng của giá và khối lượng giao dịch để chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động
qua lại giữa giá và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Singapore và
Thái Lan, và mối quan hệ một chiều từ khối lượng giao dịch đến giá ở thị trường
chứng khoán Malaysia. Tuy nhiên, không có bất kỳ mối quan hệ nào giữa giá và
khối lượng ở thị trường chứng khoán Philipines do quy mô nhỏ của thị trường này.
Sử dụng dữ liệu hàng tháng tại các thị trường mới nổi, Assogbavi và Osagie
(2006) trong nghiên cứu “Equity Valuation Process And Price-Volume Relationship
On Emerging Stock Markets” đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về sự biến động giá
tác động đến khối lượng giao dịch. Tuy nhiên, nghiên cứu tại chưa thể tìm ra được
bằng chứng về sự tác động của khối lượng giao dịch đến giá chứng khoán. Điều này
cho thấy sự khác nhau về thê chế, luồng thông tin tại các thị trường mới nổi là quan
trọng và ảnh hưởng đến giá trị công ty. Nguyên nhân được tác giả giải thích là mối
quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch phụ thuộc vào cách thông tin
được phổ biến trên thị trường và tại các thị trường mới nổi thì các nhà đầu tư
thường tiếp cận thông tin có độ trễ nhất định, đặc biệt các nhà đầu tư nhỏ lẻ, do đó
điều này dẫn đến mối tương quan giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở
các thị trường này là còn yếu và chưa rõ ràng.
Tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá và khối lượng tại thị trường chứng
khoán Ấn Độ thông qua dữ liệu của 50 cổ phiếu thuộc 21 lĩnh vực trong giai đoạn
19
từ 01/01/2000 đến 31/12/2008, Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey
(2009) trong “The Dynamic Relationship between Price and Trading Volume:
Evidence from Indian Stock Market” đã sử dụng mô hình VAR, kiểm định Granger,
hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai để tìm ra bằng chứng về mối quan hệ
tích cực 2 chiều giữa giá và khối lượng giao dịch, tuy nhiên, mối quan hệ này là yếu.
Hai năm sau, tiếp tục đề tài này cũng tại thị trường chứng khoán Ấn Độ,
Tripathy (2011) đã tiến hành thu thập dữ liệu hằng ngày trong giai đoạn từ
01/01/2005 đến 01/01/2010 để nghiên cứu “The Relation between Price Changes
and Trading Volume: A Study in Indian Stock Market”. Bằng việc sử dụng hồi quy
2 biến, mô hình VECM, VAR, IRF, phân rã phương sai và kiểm định Johansen, tác
giả rút ra kết luận có sự tác động 2 chiều giữa biến động giá và thay đổi khổi lượng
giao dịch và tác giả cho rằng thông tin mới diễn biến hằng ngày trên thị trường ảnh
hưởng tức thời đến sự biến động giá, và đặc biệt khi có tin xấu xảy ra sẽ tác động
rất nhiều đến sự biến động giá và khối lượng giao dịch. Điều này được giải thích là
do các nhà đầu tư thường ác cảm trong xu hướng thị trường giảm vì vậy họ thường
có hành động nhanh hơn khi có tin xấu. Bằng việc sử dụng hàm phản ứng đẩy IRF
và phân rã phương sai, tác giả cũng cho thấy rằng mức độ tác động của khối lượng
giao dịch mạnh hơn biến động giá, vì vậy các thông tin quá khứ của khối lượng giao
dịch rất hữu ích để cải thiện dự báo biến động giá.
Vào năm 2012, trong nghiên cứu “The bivariate GARCH approach to
investigating the relation between stock returns, trading volume, and return
volatility”, Chuang, Liu và Susmel (2012) đã mở rộng mẫu quan sát, tiến hành thu
thập dữ liệu trên 10 thị trường chứng khoán Châu Á: Hong Kong, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái
Lan trong giai đoạn từ ngày 01/01/1998 đến ngày 31/12/2007. Các tác giả đã sử
dụng mô hình GIR-GARCH 2 biến để điều tra mối quan hệ tại một thời điểm và
mối quan hệ nhân quả giữa khối lượng giao dịch và lợi nhuận chứng khoán. Bằng
chứng cho thấy mối quan hệ tại một thời điểm và mối quan hệ nhân quả giữa lợi
20
nhuận và khối lượng giao dịch được tìm thấy ở tất cả các mẫu thị trường. Bằng
chứng này đã giúp củng cố hơn nữa về việc tồn tại mối quan hệ giữa lợi nhuận và
khối lượng trên thị trường chứng khoán Châu Á nói riêng và thế giới nói chung.
Kế thừa các nghiên cứu trên, tại thị trường chứng khoán Amman(ASE) của
Jordan, trong nghiên cứu “An Empirical Investigation of the Relationship between
Stock Return and Trading Volume: Evidence from the Jordanian Banking Sector”,
Al-Jafari và Ahmad Tliti (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa sự
thay đổi giá và biến động khối lượng giao dịch trong lĩnh vực ngân hàng với dữ liệu
hằng ngày trong giai đoạn từ 7/2006 đến 12/2011. Bằng việc sử dụng mô hình hồi
quy 2 biến, mô hình VECM, kiểm định Granger, IRF, phân rã phương sai và kiểm
định Johansen, tác giả chỉ ra rằng có sự tác động 2 chiều giữa thay đổi giá và khối
lượng. Hơn nữa kiểm định Johansen cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết, điều đó
cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa sự biến động giá và thay đổi khối lượng giao
dịch. Ngoài ra, kiểm định Granger còn cho thấy thông tin quá khứ của sự thay đổi
giá rất hữu ích để cải thiện dự báo biến động khối lượng giao dịch.
Tại thị trường chứng khoán Karachi thuộc Pakistan, Attari, Rafiq và Awan
(2013) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi giá và biến động khối lượng
giao dịch trong “The Dynamic Relationship between Stock Volatility and Trading
Volume” . Với dữ liệu được thu thập từ 01/2000 đến 03/2013, bằng việc sử dụng
mô hình GARCH, các tác giả cho rằng có mối quan hệ tích cực giữa thay đổi giá và
biến động khối lượng giao dịch. Các tác giả cho rằng mối quan hệ này là rất quan
trọng với các nhà đầu tư cũng như nhà hoạch định chính sách do khối lượng phản
ánh thông tin kỳ vọng về thị trường và mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng đối
với hoạt động giao dịch, đầu cơ, giúp dự báo và phòng ngừa rủi ro.
Mặc dù mối quan hệ giữa giá và khối lượng giao dịch đã được nghiên cứu rộng
rãi ở nhiều nước trong nhiều năm gần đây. Nhưng cho đến nay thì ở Việt Nam chỉ
có vài nghiên cứu về mối quan hệ trên. Trong đó, có lẽ phải nói đến nghiên cứu của
Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012) “Mối quan hệ giữa chỉ số giá thị
21
trường và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh”, với số liệu sử dụng bao gồm chuỗi chỉ số VN-Index và khối lượng
cổ phiếu giao dịch theo thời gian với tần suất tuần được thu thập trong khoảng thời
gian từ 27/08/2000 - 12/05/2010. Sử dụng kiểm định Granger, kết quả nghiên cứu
cho thấy rằng sự thay đổi của khối lượng giao dịch không có ảnh hưởng đến sự thay
đổi của chỉ số VN-Index. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại sự thay đổi của chỉ số VN-
Index lại có ảnh hưởng đến sự thay đổi của khối lượng giao dịch. Trên cơ sở những
kết quả nghiên cứu đó, các tác giả kết luận rằng mối quan hệ giữa chỉ số VN-Index
và khối lượng giao dịch chỉ xảy ra một chiều là từ chỉ số VN-Index đến khối lượng
giao dịch.
Đề tài nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thanh Siêng (2010) “Mối quan hệ nhân
quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt
Nam” với số liệu bao gồm chuỗi giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch của 5 cổ
phiếu thuộc 5 ngành kinh tế khác nhau được niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm AGF, GIL, DHG, REE, STB (lần lượt là
CTCP xuất nhập khẩu thủy sản An Giang, CTCP sản xuất kinh doanh xuất nhập
khẩu Bình Thạnh, CTCP dược phẩm Imexpharm, CTCP cơ điện lạnh, NHTMCP
Sài Gòn Thương Tín) được thu thập theo tuần từ khi bắt đầu giao dịch đến ngày
31/12/2009. Sử dụng kiểm định Granger, kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan
hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch không tồn tại ở cổ phiếu
AGF, REE, STB, tuy nhiên lại tồn tại mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượng
giao dịch ở hai cổ phiếu GIL và DHG, cụ thể đối với cổ phiếu GIL tồn tại mối quan
hệ một chiều từ giá cổ phiếu đến khối lượng giao dịch,còn đối với cổ phiếu DHG
thì lại có mối quan hệ một chiều từ khối lượng giao dịch đến giá cổ phiếu.
1.2.3 Nhận xét chung về kết quả các nghiên cứu đi trước
Về phương pháp nghiên cứu: Các tác giả đã sử dụng rất nhiều các phương
pháp từ định lượng cho đến định tính để tìm ra các bằng chứng về mối quan hệ nhân
quả giữa thay đổi giá cổ phiếu và biến động khối lượng giao dịch từ phương pháp
22
ước lượng một nửa phi tham số của mật độ có điều kiện phụ thuộc (SNP
estimators), kiểm định sup-Wald, mô hình chuyển đổi trơn logistic, mô hình hồi quy
2 biến cho đến mô hình GIR-GARCH 2 biến, mô hình GARCH, mô hình VECM,
hàm phản ứng IRF, phân rã phương sai và kiểm định Johansen. Mỗi phương pháp
sử dụng lại có những ưu nhược điểm riêng, tuy nhiên mô hình VAR và kiểm định
Granger lại được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả
giữa giá và khối lượng do các ưu điểm của nó, bên cạnh đó, với các nghiên cứu tại
thị trường mới nổi, do đặc tính chưa hoàn thiện của thị trường nên hàm phản ứng
IRF, phân rã phương sai được đa số tác giả sử dụng để đo lường mức độ tác động
qua lại của các biến, qua đó làm tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. Kế thừa
các nghiên cứu trên, đề tài tiếp tục sử dụng mô hình VAR, kiểm định nhân quả
Granger, hàm phản ứng IRF và phân rã phương sai để tiến hành nghiên cứu mối
quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Về thời gian nghiên cứu: Hầu hết các tác giả đều chọn giai đoạn nghiên cứu với
dữ liệu được thu thập theo tần suất ngày phụ thuộc vào tính sẵn có của dữ liệu. Đồng
thời, do sự kế thừa các đề tài đi trước nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa biến
động giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Việt Nam sử
dụng dữ liệu với tần suất tuần chỉ tìm ra mối quan hệ một chiều (uni-directional
causality) là từ chỉ số giá đến khối lượng giao dịch nên nghiên cứu này sử dụng dữ
liệu được thu thập với tần suất ngày với hi vọng tìm ra được kết quả khả quan hơn,
phù hợp với các lý thuyết cũng như kết quả của các đề tài đi trước nêu trên.
Về kết quả nghiên cứu: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu cố gắng tìm ra mối
quan hệ nhân quả giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch, tuy nhiên, kết quả
của các nghiên cứu đi trước vẫn chưa thể đạt được một sự đồng thuận ở tất cả các
thị trường chứng khoán trên thế giới.
Đối với các nghiên cứu tại thị trường phát triển, nơi mà các chỉ số và dữ liệu
trên thị trường chứng khoán đã khá hoàn thiện và thể hiện rõ hơn các quy luật vốn
23
có của nó, hầu hết các nghiên cứu đều tìm thấy các bằng chứng định lượng về kết
luận khối lượng giao dịch chứa đựng những thông tin quan trọng đối với sự biến
động giá xảy ra trong tương lai, khi sự thay đổi khối lượng giao dịch cao thì dẫn đến
biến động giá tích cực và ngược lại. Tùy vào tình hình mẫu thị trường được chọn,
giai đoạn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu từng tác giả sử dụng mà mối quan
hệ được tìm ra này là đáng kể hay yếu. Tuy nhiên, phần lớn nghiên cứu tại các thị
trường phát triển đều đã tìm ra bằng chứng về mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch.
Đối với các nghiên cứu tại thị trường chứng khoán mới nổi, việc tìm ra mối
quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch lại khó khăn
hơn do sự kém hiệu quả của thị trường, thể hiện qua thể chế tài chính yếu kém, thị
trường thường không phản ánh đầy đủ các thông tin và dễ bị ảnh hưởng bởi các tác
nhân bên ngoài quốc gia. Dù vậy, nhìn chung thông qua các kiểm định và mô hình
nghiên cứu các tác giả vẫn tìm ra bằng chứng về mối quan hệ giữa sự thay đổi giá
cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở phần lớn các thị trường mới nổi được chọn đưa
vào mẫu nghiên cứu. Bằng chứng này đã giúp củng cố hơn nữa về việc tồn tại mối
quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở các thị trường chứng
khoán mới nổi nói riêng và thị trường chứng khoán trên thế giới nói chung.
Tóm lại, do các công trình nghiên cứu này được thực hiện tại nhiều quốc gia
khác nhau, trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nhân loại với các điều kiện
khác nhau về đặc trưng của nền kinh tế, tình hình thị trường chứng khoán, sự khác
biệt về tâm lý của các nhà đầu tư, đặc trưng khác nhau của thể chế chính trị và mức
độ phát triển kinh tế v.v… do đó khó có thể hình thành một sự thống nhất hoàn toàn
giữa các công trình nghiên cứu này. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu nhìn
chung vẫn giúp cũng cố bằng chứng về việc tồn tại mối quan hệ giữa chỉ số giá
chứng khoán và khối lượng giao dịch trên các thị trường chứng khoán, đồng thời
cũng đóng góp một vai trò rất lớn trong việc làm phong phú thêm kho tàng lý luận
24
về thị trường chứng khoán thế giới, làm nền tảng cho các nghiên cứu sau này.
Tại Việt Nam, tuy Thị trường chứng khoán mới chỉ được Standard & Poor's
Dow Jones (S&P DJ) khuyến nghị nằm trong danh sách nâng hạng lên thị trường
mới nổi nhưng xét riêng về tiêu chí, Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm các thị
trường cận biên và tiến sát tới các thị trường mới nổi. Và trong giai đoạn nghiên cứu
của đề tài (từ 01/01/2009 – 31/12/2014), thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu
tăng trưởng trở lại với các chỉ số chứng khoán cũng như các yếu tố khác của thị
trường như nhóm tiêu chí quy mô, thanh khoản và khả năng tiếp cận thị trường bắt
đầu hoàn thiện và trở về với các quy luật vốn có. Với những yếu tố khá khả quan
như vậy nhưng cho đến nay thì ở Việt Nam chỉ có vài nghiên cứu về mối quan hệ
nhân quả giữa giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trong đó kết quả của các
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm ra mối quan hệ một chiều giữa giá
chứng khoán và khối lượng giao dịch. Bài nghiên cứu hi vọng sẽ tìm ra bằng chứng
định lượng về mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khối
lượng cổ phiếu giao dịch, qua đó mong muốn sẽ đóng góp vào kho tàng các đề tài
nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế tài chính cũng như sự phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường chứng khoán thế giới nói chung.
1.3 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu
Để nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khối
lượng cổ phiếu giao dịch, qua việc tham khảo và kế thừa phương pháp nghiên cứu
của các tác giả Gunduz và Hatemi-J (2005), Brajesh Kumar, Priyanka Singh và
Ajay Pandey (2009), Tripathy (2011), Al-Jafari và Ahmad Tliti (2013)…đề tài
nghiên cứu được tiến hành theo các bước cơ bản như sau:
Bước 1: Tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu thập được.
Bước 2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng.
Bước 3: Mô hình VAR và kiểm định quan hệ nhân quả Granger.
25
Bước 4: Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai.
1.3.1 Tính dừng
1.3.1.1 Chuỗi thời gian
Chuỗi thời gian là một tập hợp gồm các số liệu có cùng khái niệm và phạm vi
được thu thập liên tục thường kỳ (ngày, tuần, tháng, quý, năm) trong một khoảng
thời gian dài và được sắp xếp theo thứ tự thời gian.
1.3.1.2 Khái niệm tính dừng
Theo Gujarati (2003) một quá trình ngẫu nhiên Yt được gọi là dừng nếu kỳ
vọng và phương sai không đổi theo thời gian, đồng thời hiệp phương sai giữa hai
giai đoạn quan sát (trong chuỗi đang xét) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách và độ trễ
về thời gian giữa hai giai đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà
đồng phương sai được tính.
Về mặt toán học, một chuỗi Yt được gọi là dừng nếu thỏa mãn cả 3 điều kiện sau:
( t) - Trung bình không đổi theo thời gian: E (Yt) = µ = const,
∀ ( t) - Phương sai không đổi theo thời gian: Var(Yt) = E(Yt - µ)2 = σ2 = const,
∀ - Hiệp phương sai giữa Yt và Yt+k chỉ phụ thuộc vào và độ trễ về thời gian (k)
giữa hai giai đoạn này chứ không phụ thuộc vào thời điểm t :
( t) Cov(Yt, Yt+k) = E[(Yt - μ)(Yt+k - μ)] = γk = const,
∀ Quá trình ngẫu nhiên Yt được coi là không dừng nếu vi phạm ít nhất một trong
ba điều kiện trên.
1.3.1.3 Tầm quan trọng của một chuỗi dừng
Chuỗi dừng giúp hồi quy hiệu quả: Các biến trong bài nghiên cứu đều là các
chuỗi thời gian với một khoảng thời gian nhất định, và để các tính toán cho miền
giá trị này là phù hợp cho toàn bộ chuỗi thời gian thì biến đó phải dừng. Điều này
26
còn giúp tránh được hồi quy giả mạo (nonsense regression). Cụ thể, ta có thể thu được hệ số R2 rất cao cùng với những hệ số hồi quy β1, β2, β3…đều có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, R2 cao có thể là do hai biến này có cùng xu thế chứ không phải
do chúng tương quan chặt chẽ với nhau, do đó, những giá trị có được trong trường
hợp này đều không đáng tin cậy.
Chuỗi dừng giúp dự báo hiệu quả: Một chuỗi dừng thì dữ liệu của nó sẽ có xu
hướng trở về mức trung bình và những dao động xung quanh mức trung bình là như
nhau. Một chuỗi không dừng hàm ý trong tương lai, chuỗi dữ liệu có thể không còn
lưu giữ những đặc điểm cũ. Nghĩa là ta chỉ biết được đặc điểm của chuỗi này trong
giai đoạn được nghiên cứu nhưng không thể khái quát những đặc điểm này cho giai
đoạn sau đó để phục vụ cho công tác dự báo. Trong khi đó, bản chất của dự báo
kinh tế lượng giả định rằng những gì đã xảy ra trong quá khứ sẽ tiếp tục được duy
trì trong tương lai. Vì vậy, ta sẽ không thể dự báo hiệu quả nếu bản thân chuỗi dữ
liệu luôn luôn thay đổi.
1.3.1.4 Cách kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian
Có nhiều phương pháp kiểm tra tính dừng của chuỗi thời gian như dựa trên đồ thị
chuỗi thời gian, dựa trên lược đồ tự tương quan, kiểm định nghiệm đơn vị… tuy nhiên
trong phạm vi nghiên cứu nghiên cứu đề tài này, phương pháp khá phổ biến là kiểm
định nghiệm đơn vị (Unit root test) cụ thể là kiểm định ADF (Augmented Dicky and
Fuller) và kiểm định PP (Phillip-Perron) được sử dụng để kiểm định tính dừng của
chuỗi thay đổi chỉ số giá chứng khoán và biến động khối lượng cổ phiếu giao dịch.
Kiểm định ADF (Augmented Dicky and Fuller)
Kiểm định ADF là một hình thức mở rộng của kiểm định Dickey – Fuller (DF)
- Phương pháp này được Dickey – Fuller phát hiện năm 1979 nhằm xác định xem
chuỗi thời gian có phải là Bước ngẫu nhiên (nghĩa là Yt = α0 + 1 x Yt-1 + Ut ) hay
không. Kiểm định ADF được phát triển từ kiểm định DF bằng cách bổ sung thêm
một số thành phần trong mô hình hồi quy.
Phương trình của kiểm định ADF có dạng như sau:
∆Rt = α0 +δt + βRt-1 + Ut
∆Vt = α0 +δt + βVt-1+ Ut
27
Với δt là biến xu hướng về thời gian.
Kiểm định giả thiết:
Ho: β = 0 (Rt, Vt là chuỗi không có tính dừng).
H1: β # 0 (Rt, Vt là chuỗi có tính dừng).
Giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ nếu giá trị kiểm định ADF lớn hơn giá trị tới hạn của
nó. Trong kiểm định ADF, giá trị kiểm định ADF không theo phân phối chuẩn, vì
vậy giá trị tới hạn được dựa trên bảng giá trị tính sẵn của Mackinnon (1991). So
sánh giá trị kiểm định ADF với giá trị tới hạn của Mackinnon chúng ta sẽ có được
kết luận về tính dừng cho các chuỗi quan sát.
Kiểm định PP (Philip-Perron)
Bởi vì kiểm định ADF dựa trên giả định sai số ngẫu nhiên nên khi sử dụng
phương pháp ADF phải chắc chắn rằng khoảng mục sai số là không có tương quan
với nhau và có sự biến đổi cố định. Do đó trong nghiên cứu thực nghiệm, phương
pháp ADF thường được dùng kèm theo kiểm định Philip-Perron (PP) để đảm bảo
thêm sự chính xác trong kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian.
Phương trình cho kiểm định PP có dạng:
∆Rt = αRt-1 + βVt + εt
∆Vt = αVt-1 + βRt + εt
Giả thiết vẫn là
Ho: β = 0 (Rt, Vt là chuỗi không có tính dừng).
H1: β # 0 (Rt, Vt là chuỗi có tính dừng).
1.3.2 Mô hình VAR
VAR là một trong những mô hình phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng.
Bởi lẽ mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều,
biến độc lập ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có
ảnh hưởng ngược lại. Vì thế cần thiết phải xem xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến
28
cùng một lúc, do đó sự ra đời của mô hình VAR đã giải quyết vấn đề này.
Để kiểm định mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng cổ phiếu giao dịch, đề tài sử dụng mô hình tự hồi quy vector VAR 2
biến như sau:
+ Rt = α0 + +u1t
∑ ∑ + Vt = α1 + +u2t
∑ ∑ Phương pháp ước lượng mô hình Var:
- Xét tính dừng của các biến trong mô hình.
- Lựa chọn độ trễ (k) tối ưu.
- Chạy mô hình với độ trễ phù hợp.
1.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality)
Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger, 1969) được sử dụng phổ biến
trong nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đơn giản là có hay không sự thay đổi của X
gây ra sự thay đổi của Y và ngược lại (X và Y phải có sự tương quan). Do đó để xác
định mối quan hệ tác động qua lại giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch, đề tài sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger.
Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger có dạng:
+ Rt = α0 + +u1t
∑ ∑ + Vt = α1 + +u2t
∑ ∑ - Nếu δi khác không và có ý nghĩa thống kê, nhưng ρi không có ý nghĩa thì
chúng ta có thể kết luận rằng sự biến động của khối lượng giao dịch là nguyên nhân
gây ra sự biến động của chỉ số giá chứng khoán.
- Nếu δi không có ý nghĩa thống kê, nhưng ρi khác không và có ý nghĩa thống
kê, thì chúng ta có thể kết luận rằng sự biến động của chỉ số giá chứng khoán là
nguyên nhân gây ra sự biến động của khối lượng giao dịch.
- Nếu cả δi và ρi đều khác không và có ý nghĩa thống kê, thì có thể kết luận rằng
29
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch tác động qua lại lẫn nhau.
- Nếu cả δi và ρi đều không có ý nghĩa thống kê, thì chúng ta có thể kết luận
rằng chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch độc lập với nhau.
1.3.4 Hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai
1.3.4.1 Hàm phản ứng đẩy (IRF)
Một trong những phương pháp dùng để phân tích mô hình vector tự hồi quy
(VAR) là dùng hàm phản ứng đẩy (IRF), nó mô phỏng những ảnh hưởng của một cú
sốc đối với một biến trong hệ thống dựa trên dự báo điều kiện của biến khác. Hàm
phản ứng đẩy (IRF) giải thích tác động của một cú sốc ngoại sinh của một biến lên
một biến khác trong mô hình, cho phép xác định hiệu ứng theo thời gian của cú sốc
của một biến nội sinh nào đó đối với các biến khác trong mô hình. Vì vậy, hàm phản
ứng đẩy thường được sử dụng để phát hiện các mối quan hệ động theo thời gian.
Ban đầu, nhìn vào việc điều chỉnh các biến nội sinh theo thời gian sau một cú
sốc giả định trong thời gian t, việc điều chỉnh này được so sánh với một quá trình
thực tế, tức là quá trình chuỗi thời gian không có một cú sốc. Các chuỗi phản ứng
đẩy chính là khác biệt cốt yếu giữa hai chuỗi thời gian này. Nếu các hệ số trong một
phương trình nhỏ hơn một, các hiệu ứng sẽ giảm theo thời gian và sẽ trở lại gần giá
trị cân bằng sau một thời gian nhất định.
Do đó, bài nghiên cứu sử dụng hàm phản ứng đẩy (IRF) để phân tích tác động
của sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán đối với biến động khối lượng giao dịch và
ngược lại.
1.3.4.2 Phân rã phương sai
Cùng với hàm phản ứng đẩy (IRF) phân rã phương sai cũng được dùng để kiểm
tra tác động của một cú sốc đối với các biến phụ thuộc. Nhiệm vụ của phân rã
phương sai là để đạt được sự thông gọn về khả năng dự báo. Ý tưởng là, ngay cả
một mô hình hoàn hảo thì vẫn liên quan đến sự mơ hồ về việc ước lượng các biến
30
Yt do các sai số có liên quan là không chắc chắn.
Kỹ thuật này xác định dự báo có bao nhiêu phương sai lỗi đối với bất kỳ các
biến trong mô hình với một loạt thời kỳ. Thường những cú sốc giải thích cho hầu
hết các phương sai lỗi, mặc dù những cú sốc này sẽ ảnh hưởng đến các biến khác
trong mô hình. Phân rã phương sai xem xét rất quan trọng đối với thứ tự các biến
khi đưa vào kiểm định, vì vậy kết quả của phân rã phương sai phụ thuộc rất nhiều
vào sự sắp xếp các biến.
Với những phân tích trễ, qua việc tham khảo các nghiên cứu đi trước, đề tài sử
dụng hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai theo phương pháp Cholesky
để đánh giá mức độ tác động qua lại giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và
31
biến động khối lượng giao dịch.
Chương II:
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG
KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ đầu những năm 1990, Chính phủ đã có những định hướng để xây dựng thị
trường chứng khoán, xem đây là một kênh huy động vốn hiệu quả nhất. Lúc này,
một công việc cấp bách cần thực hiện ngay là nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập
thị trường chứng khoán. Ngày 6/11/1993, Ban nghiên cứu xây dựng và phát triển thị
trường vốn được thành lập theo quyết định số 207/QĐ-tccb với nhiệm vụ chủ yếu là
xây dựng các đề án và chuẩn bị các điều kiện thành lập thị trường chứng khoán theo
những bước đi thích hợp.
Ngày 28/11/1996 Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP
của Chính Phủ, thực hiện các chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng
khoán và thị trường chứng khoán. Ngày 11/7/1998 Chính phủ đã ký Nghị định số
48/CP ban hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chính thức cho ra đời
Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM được thành lập theo Quyết định số
127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 và đến ngày 8/8/2007 Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán TP.HCM được đổi thành Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM. Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005.
Khác với Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao
dịch chứng khoán của các công ty lớn), Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
lại là “sân chơi” cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ
đồng). Bên cạnh 2 thị trường tập trung trên, Thị trường chứng khoán Việt Nam còn
32
một thị trường nữa là thị trường phi tập trung (OTC).
2.1.2 Tình hình Thị trường Chứng Khoán Việt Nam giai đoạn nghiên cứu:
01/01/2009 – 31/12/2014
Năm 2009
Hình 2.1: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2009
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Năm 2009, dù kinh tế vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới nhưng là một năm đánh dấu bước tăng trưởng mạnh mẽ trở
lại của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Số lượng công ty mới niêm yết tăng vọt,
trong đó nhiều doanh nghiệp lớn được niêm yết trên sàn. Trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội chuyển đổi thành sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Đồng
thời, thành lập thêm sàn UPCOM cho những công ty đại chúng đăng ký giao dịch.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Chỉ số VN-Index đã phục hồi tăng trưởng mạnh trở lại trong năm 2009. Nếu
tính từ mức 315.62 điểm vào ngày 31/12/2008 thì đến 31/12/2009, VN-Index đã
tăng thêm 179.15 điểm từ lên đến 494.77 điểm tương đương với mức tăng là 57%.
33
Nếu tính từ đáy thấp nhất trong năm khi VN-Index ở mốc 234.66 điểm vào ngày
24/02/2009 và đỉnh cao nhất là 633.21 điểm vào ngày 23/10/2009 thì VN-Index đã
tăng 2.7 lần. Tương tự ở sàn HNX mức tăng trưởng trong năm 2009 của HNX-
Index là 60.9%; và nếu so từ đáy thấp nhất 78.06 điểm lên đỉnh cao nhất trong năm
218.38 điểm thì HNX-Index đã tăng 2.8 lần.
Khối lượng giao dịch cũng tăng trưởng đáng kể, cùng với đà tăng của Chỉ số
VN-Index nói riêng và Thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung. Số lượng
chứng khoán được chuyển nhượng trên cả hai sàn là 16.848 triệu cổ phiếu với giá trị
giao dịch lên đến 603 nghìn tỷ đồng. Đặc biệt, ngày 10/06/2009 đã xác lập phiên
giao dịch đạt kỉ lục với hơn 100 triệu cổ phiếu được khớp lệnh.
Năm 2010
Hình 2.2: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2010
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Thị trường chứng khoán năm 2010 đã gặp nhiều khó khăn và khiến giới đầu tư
thất vọng khi sụt giảm so với năm 2009. Mặc dù thị trường có đợt hồi phục mạnh
34
gây bất ngờ từ cuối tháng 11/2010, VN-Index vẫn đóng cửa giảm 2% so với cuối
năm trước khi chốt phiên 31/12/2010 tại 484.66 điểm, HNX-Index gây thất vọng
nhiều hơn khi đóng cửa năm 2010 tại 114.24 giảm tới 32% so với cuối năm 2009.
Trên sàn HOSE, mặc dù khối lượng giao dịch trung bình đạt 47.396 triệu cổ
phiếu, tăng 7.3% so với năm 2009 nhưng giá trị giao dịch lại giảm hơn 11% thể
hiện rõ một năm không mấy sôi động khi thị trường phải đối mặt với áp lực cung
hàng lớn trong khi dòng tiền suy yếu.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Nửa đầu năm 2010, thị trường dao động với biên độ hẹp, 480 - 550 điểm với
thanh khoản ở mức trung bình, nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý thận trọng của nhà
đầu tư và sự khan hiếm của dòng tiền. Tuy nhiên, đây lại là giai đoạn thị trường đạt
mức cao nhất trong năm, VN-Index đạt 549.51 điểm vào ngày 06/05/2010, mức cao
nhất trong năm 2010. Khối lượng giao dịch giai đoạn này cũng đạt mức cao so với
bình quân cả năm, có ngày đạt 105 triệu cổ phiếu.
Thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 là thời kỳ khó khăn nhất của thị trường. Sau
giai đoạn tăng nóng, VN-Index điều chỉnh 22.9% xuống 423.89 điểm, mức thấp
nhất trong năm 2010. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, áp lực từ
Thông tư 13 của Ngân hàng Nhà Nước là những nguyên nhân chính khiến thị
trường điều chỉnh giảm. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng khiến cho thị trường
nhanh chóng sụt giảm trước áp lực bán giải chấp. Hòa vào xu thế giảm chung của
thị trường thanh khoản thị trường trong giai đoạn này sụt giảm mạnh với khối lượng
giao dịch ngày 01/11/2010 chỉ đạt 18 triệu cổ phiếu, mức thấp nhất trong năm.
Tuy nhiên từ cuối tháng 11 thị trường chứng khoán bắt đầu hồi phục. Những
động lực của đợt tăng giá này có lẽ xuất phát một phần nhờ giá cổ phiếu đã xuống
thấp về gần sát thời điểm khủng hoảng hấp dẫn hoạt động đầu cơ trở lại, đồng thời
sự xuất hiện khá bất ngờ của dòng tiền mạnh từ các tài khoản lớn trong nước, dòng
vốn chốt lời từ các thị trường vàng/ngoại tệ, dòng vốn nóng từ các thị trường như
Thái Lan, Malaysia…đã quay trở lại từ cuối tháng 11/2010 đã giúp thị trường
35
chứng khoán Việt Nam thoát khỏi kênh xu hướng giảm trung hạn. Khối lượng giao
dịch giai đoạn này tăng trưởng mạnh trở lại với 122 triệu là khối lượng cổ phiếu
giao dịch ngày 14/12/2010, đạt mức cao nhất trong năm.
Năm 2011
Hình 2.3: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2011
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Năm 2011 là một năm khá khó khăn đối với Thị trường chứng khoán Việt Nam
với xu hướng suy giảm chiếm ưu thế rõ rệt, trong cả năm, thị trường chỉ có hiếm hoi
hai đợt hồi phục ngắn vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8. Chốt phiên ngày
30/12/2011, VN-Index và HNX-Index lần lượt đóng cửa ở 351.55 điểm và 58.74
điểm, so với đầu năm 2011 sàn Hồ Chí Minh đã giảm mạnh 27.46% còn sàn Hà Nội
thì lao dốc đến hơn 48%. Không chỉ chịu áp lực giảm về mặt điểm số, diễn biến
giao dịch trên thị trường càng ngày càng theo hướng trầm lắng và ảm đạm hơn, thể
hiện qua sự khô kiệt của tính thanh khoản với tổng giá trị giao dịch của cả 2 sàn
trong nhiều phiên dưới mức 1000 tỷ đồng. Giá trị và khối lượng giao dịch bình quân
1 phiên trong năm 2011 là 790.72 tỷ đồng và 53.25 triệu cổ phiếu, giảm 65% và
36
30% so với năm trước.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Trong hai quý đầu của năm 2011, bất ổn từ phía kinh tế vĩ mô trong nước dần
bộc lộ, đặc biệt là bắt đầu từ lúc tỷ giá điều chỉnh tăng thêm 9.3% và lạm phát tăng
mạnh trong tháng 2, thì cũng là lúc xu hướng giảm điểm chiếm ưu thế trên thị
trường. Cùng với việc chính sách tiền tệ được điều chỉnh theo hướng chặt chẽ hơn
hướng tới mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô thì càng giao dịch, diễn biến và
bầu không khí giao dịch càng trở nên ảm đạm hơn. Chỉ số VN-Index liên tục giảm
điểm, thiết lập mức đáy 386.4 điểm, khối lượng cổ phiếu giao dịch gia đoạn này
không mấy sôi động, có ngày chỉ đạt 14.6 triệu cổ phiếu.
Bước sang quý III, đây là quý có thể xem như khởi sắc nhất của thị trường
chứng khoán trong năm 2011 với một đợt tăng điểm khá dài của thị trường chứng
khoán kéo dài khoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9. Đầu quý III, do thị
trường vẫn chịu tác động mạnh từ các tín hiệu vĩ mô, VN-Index đã thiết lập mức
đáy ngắn hạn, giảm sâu còn 383.9 điểm vào ngày 12/08/2011, tuy nhiên, ngay sau
đó thị trường có sự bức phá mạnh do tâm lý dò đáy tạo nên sức cầu ngắn hạn, đồng
thời thông tin về mức tăng CPI 8 tháng của cả nước chưa đến 1% và việc thị trường
nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ qua khẳng định chắc chắn của Ngân hàng Nhà Nước
về việc hạ mặt bằng lãi suất đã khiến cho VN-Index bắt đầu tăng mạnh cho đến giữa
tháng 9. Niềm tin vào thị trường dần phục hồi, giao dịch sôi động hơn qua từng
phiên, khối lượng giao dịch cũng tăng mạnh và đạt mức cao nhất trong năm 73.3
triệu cổ phiếu vào ngày 14/09/2011.
Mặc dù vậy, từ khoảng giữa tháng 9 trở đi, Thị trường chứng khoán Việt Nam
đã phải chịu tác động tiêu cực từ cả yếu tố trong nước, như những vấn đề nảy sinh
sau khi hạ lãi suất mà đặc biệt là vấn đề tỷ giá, các yếu tố như diễn biến xấu trong
việc giải quyết vấn đề nợ công ở Châu Âu và kéo theo đó là triển vọng yếu kém của
nền kinh tế toàn cầu. Kết quả là từ cuối quý III đến hết quý IV/2011, thị trường
chứng khoán cứ ảm đạm dần qua từng phiên với xu hướng giảm điểm là chủ đạo,
37
các giao dịch tương đối trầm lắng.
Năm 2012
Hình 2.4: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2012
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Năm 2012, thị trường chứng khoán trải qua hai cung bậc rõ nét: thời kỳ hy vọng
từ đầu năm đến đầu tháng 5 và sau đó là thời kỳ suy giảm kéo dài hơn 7 tháng cho
đến gần cuối năm. Tuy nhiên, đợt tăng điểm trọn vẹn trong tháng 12 đã giúp cho
VN-Index kết thúc năm 2012 ở mức 413.73 điểm, tăng 17.69% so với cuối năm
2011; ngược lại, HNX-Index chốt năm giảm nhẹ 2.81% so với cuối năm 2011, còn
57.09 điểm.
Khối lượng giao dịch trung bình trên hai sàn đều tăng trên 50% so với năm
2011. Mặc dù giao dịch thỏa thuận vẫn đóng góp một phần không nhỏ trong tổng
khối lượng và giá trị giao dịch toàn thị trường nhưng trong năm 2012, đóng góp
nhiều nhất cho sự cải thiện của khối lượng và giá trị giao dịch lại đến từ giao dịch
khớp lệnh với khối lượng khớp lệnh trung bình trên sàn HSX và HNX lần lượt là
38
46.5 triệu và 44.6 triệu đơn vị, tương ứng tăng 75% và 57% so với năm 2011.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Trong 5 tháng đầu năm, Thị trường có sự bức phá và tăng trưởng mạnh. Từ
mức đáy 336.73 điểm được VN-Index thiết lập vào ngày 06/01/2012, thị trường đã
đảo chiều tăng trưởng đầy bất ngờ và ấn tượng. Đợt tăng điểm của giai đoạn này
được thúc đẩy bởi niềm tin của giới đầu tư khi lạm phát được đưa về dưới một con
số, trần lãi suất huy động được hạ, và quyết tâm tái cơ cấu nền kinh tế được bộc lộ
mạnh mẽ. Mức đỉnh của thị trường được thiết lập ngày 08/05/2012 với VN-Index
đạt 488.07 điểm, tăng 39.4% so với đầu năm. Khối lượng giao dịch giai đoạn này
tăng mạnh, luôn ở mức cao, bình quân 5 tháng đầu năm đạt 63.5 triệu cổ
phiếu/phiên. Kỷ lục về khối lượng giao dịch trong năm được lập vào ngày
06/03/2012 với 143.3 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng thành công.
Sau giai đoạn khởi sắc đầu năm, thị trường bước vào đợt điều chỉnh sâu và kéo
dài. Theo đó, VN-Index đã sụt giảm 22.3% về 375.79 điểm và HNX-Index đã giảm
38.1% về 51 điểm so với mức đỉnh được thiết lập vào ngày 08/05/2012. Khối lượng
giao dịch ảm đạm dần qua các phiên. Nguyên nhân do bởi diễn biến vĩ mô bộc lộ
nhiều điểm đáng lo ngại như tăng trưởng GDP ở mức thấp, vấn đề nợ xấu, các
doanh nghiệp khó khăn, hàng tồn kho ứ đọng lớn trong bối cảnh sức cầu yếu, thêm
vào đó là những thông tin tiêu cực liên quan đến các vụ bắt bớ các lãnh đạo một số
ngân hàng lớn đã gây ra sự hoang mang cực độ vào thời điểm gần cuối tháng 8 cho
các nhà đầu tư. Hoạt động bán tháo diễn ra trên diện rộng khiến các chỉ số tiếp tục
lao dốc và kết thúc giai đoạn này với mức thanh khoản gần như cạn kiệt.
Trong tháng cuối năm 2012, tâm lý nhà đầu tư đã ổn định trở lại và kỳ vọng
mới được hình thành nhờ tín hiệu cải thiện của hoạt động sản xuất, Ngân hàng Nhà
nước tiếp tục giảm thêm 1% điểm lãi suất, đáng chú ý nhất là gói giải pháp tháo gỡ
khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường bất động sản và đẩy nhanh tiến
trình giải quyết nợ xấu. Các chỉ số phục hồi mạnh mẽ, VN-Index tăng 9.5% chỉ
trong 1 tháng. Khối lượng giao dịch trên thị trường sau một thời gian dài ảm đạm
39
cũng bắt đầu tăng trưởng trở lại.
Năm 2013
Hình 2.5: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2013
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến khả quan
nhờ vào những tín hiệu ổn định kinh tế vĩ mô. Thị trường chứng khoán Việt Nam
được đánh giá là một trong trong số 10 nước có mức độ phục hồi mạnh nhất và có
mức tăng cao so với các thị trường trên thế giới. Tính đến ngày 31/12/2013, chỉ số
VN-Index đứng ở 504.63 điểm, tăng 21.97%; HNX-Index đứng ở mức 67.84 điểm,
tăng 15.84% so với cuối năm 2012. Khối lượng giao dịch bình quân 1 phiên của
năm 2013 là 107.63 triệu cổ phiếu. Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt
2.578 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2012.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Thời điểm đầu năm 2013, thị trường nhận được các thông tin tích cực, cán cân
vĩ mô dần trở nên cân bằng và có tính ổn định cao, mặt bằng lãi suất cho vay giảm
còn từ 11%-15%. Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ kinh tế được chính phủ ban
hành, Công ty quản lý tài sản (VAMC) được chính thức thành lập và đi vào hoạt
40
động đã hỗ trợ đáng kể cho thị trường. Mức đỉnh của thị trường trong năm được
thiết lập ngày 07/6/2013 với VN-Index là 528 điểm, tăng 39.4% so với đầu năm.
Đồng thời, việc kéo dài thời gian giao dịch, áp dụng lệnh thị trường, nới biên độ
giao dịch cũng đã hỗ trợ giúp tăng thanh khoản thị trường. Khối lượng giao dịch
toàn thị trường tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng khối lượng
cổ phiếu, chứng chỉ quỹ tăng 12%.
Sau 2 quý tăng trưởng ấn tượng, thị trường bước vào quý III với sự sụt giảm
đáng kể về thanh khoản. Giao dịch giai đoạn này khá ảm đạm với khối lượng giao
dịch trung bình chỉ đạt mức 44.74 triệu cổ phiếu/phiên. VN-Index trượt khỏi mốc
500 điểm trong một thời gian dài Tuy nhiên, bước sang quý IV, với những thông tin
tích cực từ kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán đã có nhiều chuyển biến khởi sắc
với nhiều đợt sóng tăng điểm liên tục. Hoat động giao dịch bắt đầu sôi động trở lại
với khối lượng giao dịch trung bình đạt 78.8 triệu cổ phiếu/phiên, tăng 76.1% so với
quý III. Đặc biệt, ngày 21/11/2013 được coi là ngày giao dịch khủng với 274 triệu
đơn vị đã được chuyển nhượng, tương đương 3181,5 tỷ đồng.
Năm 2014
Hình 2.6: Diễn biến chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch Năm 2014
41
(Nguồn: https://www.vndirect.com.vn)
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014 có diễn biến rất khả quan xét về
các phương diện tốc độ tăng chỉ số, mức độ ổn định, khối lượng giao dịch và phản
ánh khá rõ nét những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế.
Đạt đỉnh trong năm với mức tăng 26.9% và 34.7% so với đầu năm, tuy nhiên
VN-Index và HNX-Index chỉ duy trì mức tăng lần lượt là 8.1% và 22.3% vào cuối
năm. Chốt phiên ngày 31/12/2014, VN-Index đóng cửa ở mức 545.6 điểm trong khi
HNX-Index chốt tại 82.98 điểm.
Khối lượng giao dịch cả năm 2014 (HOSE) đạt hơn 30 tỷ cổ phiếu, tăng gần
gấp đôi 2013. Tính bình quân, mỗi ngày có gần 124 triệu chứng khoán được giao
dịch, tương đương 2.154 nghìn tỉ đồng, tăng 91.1% về khối lượng so với năm 2013.
Giá trị giao dịch năm 2014 đạt 536.462 nghìn tỷ đồng, chiếm 103.91% về giá trị so
với bình quân năm 2013. Thanh khoản đạt mức kỷ lục từ trước đến nay, tăng trưởng
mạnh 225% so với năm 2013 và đạt trung bình 2.918 tỷ/ phiên.
Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN-Index và khối lượng giao dịch:
Thị trường có 2 nhịp biến động tăng và giảm điểm mạnh chưa từng có trong
một năm, Giai đoạn từ tháng 01/2014 đến 04/2014 chỉ số VN-Index tăng tốc và đạt
đỉnh ngắn hạn vào 24/3/2014 với mức tăng 20.3% trong 3 tháng đầu năm. Thị
trường tăng điểm mạnh nhờ yếu tố kỳ vọng và hoạt động mua vào dồn dập của các
ETFs. Diễn biến giao dịch rất sôi động, khối lượng giao dịch bình quân lên đến
123.1 triệu cổ phiếu/phiên. Thị trường bước vào điều chỉnh kể từ 25/3 trước áp lực
bán ra của khối ngoại đón đầu FED cắt giảm quy mô QE3 và do thông tin xét xử
Bầu Kiên và sự kiện Biển Đông. Thị trường gần như quay lại vùng giá từ đầu năm
khi VN-Index giảm đến 15.4%. Thanh khoản sụt giảm nhanh chóng, khối ngoại đẩy
mạnh mua vào tạo điều kiện cho thị trường lập đáy đi lên.
Giai đoạn từ tháng 06/2014 đến cuối năm, hoạt động mua vào của khối ngoại
chặn đà lao dốc của các chỉ số, thị trường phục hồi nhanh chóng và tiếp tục duy trì
42
sau khi Trung Quốc rút giàn khoan về nước vào ngày 15/07, trước dự kiến 1 tháng.
Nhóm cổ phiếu ngành dầu khí trở thành tâm điểm thị trường và đẩy thị trường nên
đạt đỉnh cao nhất trong năm và cũng là mức đỉnh của 5 năm qua với VN-Index đạt
640.8 vào ngày 03/09/2014, tăng 24.6% so với mức đáy trong năm lần lượt 24.6%.
Thị trường lúc này mới bắt đầu giao dịch sôi động trở lại. Liền sau 4 tháng tăng
điểm là 4 tháng giảm điểm với sự lao dốc của nhóm dầu khí do giá dầu lao dốc,
khối ngoại bán ra, và ảnh hưởng của Thông tư 36. Thanh khoản duy trì ở mức khá,
hoạt động giao dịch bắt đáy đẩy mạnh khi chỉ số liên tiếp phá đáy. Kết thúc năm,
các chỉ số đã không giữ được thành quả tăng điểm trong năm, và giảm lần lượt
14.8% và 9.2% so với mức đỉnh trong năm.
Tóm lại, việc tìm hiểu thực tiễn tình hình thị trường chứng khoán, cụ thể là
quan sát tình hình biến động của chỉ số VN-Index và khối lượng cổ phiếu giao dịch
trên Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã bước đầu đưa ra cái nhìn
tổng quan về sự biến động có cùng xu hướng giữa chỉ số VN-Index và khối lượng
giao dịch, cung cấp thêm bằng chứng định tính về việc tồn tại mối quan hệ giữa chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch tại thực tiễn Thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Đề tài tiếp tục tiến hành các bước nghiên cứu định lượng cần thiết để có thể đưa
ra lời khẳng định về sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng giao dịch tại Thị trường chứng khoán Việt Nam.
2.2 Kết quả thực nghiệm
2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
2.2.1.1 Nguồn dữ liệu
Số liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu này là chuỗi chỉ số VN-Index và
khối lượng cổ phiếu giao dịch theo thời gian với tần suất ngày được thu thập trong
khoảng thời gian từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014. Đề tài sử dụng hai biến
43
chính đó là thay đổi chỉ số giá chứng khoán và biến động khối lượng giao dịch.
Thay đổi chỉ số giá chứng khoán được tính toán như sau:
Rt= Pt - Pt-1
Trong đó:
Rt: Thay đổi chỉ số VN-Index giữa hai thời điểm liền kề.
Pt: Chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa vào thời điểm t.
Pt-1: Chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa vào thời điểm t-1.
Biến động khối lượng giao dịch được tính toán như sau:
Vt = VOt - VOt-1
Trong đó:
Vt: Biến động khối lượng giao dịch giữa hai thời điểm liền kề.
VOt: Khối lượng giao dịch tại thời điểm đóng cửa vào thời điểm t.
VOt-1: Khối lượng giao dịch tại thời điểm đóng cửa vào thời điểm t-1.
2.2.1.2 Thống kê mô tả
Đầu tiên, bài nghiên cứu phân tích sơ bộ các đặc trưng kỹ thuật của dãy số liệu
thu thập được để có một cái nhìn tổng quát về các đặc tính của các biến thông qua
các đại lượng như trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn
nhất, hệ số bất đối xứng và hệ số nhọn. Kết quả thống kê mô tả của các biến được
trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.1: Thống kê mô tả
N
Mean
Median Maximum Minimum
Std. Dev. Skewness Kurtosis
1496
0.153743
0.40000
22.80000
-32.90000
6.570043
-0.360849
4.468247
Rt
1496
61574.39
46495.0
101000000
-138000000
18341691
-0.625357
11.02324
Vt
44
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Dựa trên kết quả thống kê mô tả, có thể thấy rằng độ lệch chuẩn, hay nói cách
khác là mức độ phân tán giữa giá trị thực tế và giá trị trung bình của chuỗi thay đổi
chỉ số giá chứng khoán là tương đối nhỏ (6.570043) còn của chuỗi biến động khối
lượng giao dịch là khá lớn (18341691).
Với hệ số bất đối xứng (Skewness) bằng -0.360849 và -0.625357 lần lượt cho
chuỗi thay đổi chỉ số giá chứng khoán và biến động khối lượng giao dịch cho thấy
cả hai chuỗi đều lệch trái tuy nhiên, mức độ bất đối xứng so với giá trị trung bình ở
đây là không lớn. Ngoài ra hệ số nhọn (Kurtosis) của hai chuỗi đều lớn hơn 3, với
4.468247 và 11.02324 lần lượt là giá trị hệ số nhọn của chuỗi biến động giá và khối
lượng, điều này cho thấy sự biến động đều tồn tại ở 2 chuỗi nghiên cứu, trong đó
chuỗi biến động khối lượng giao dịch có sự biến động lớn hơn so với chuỗi thay đổi
chỉ số giá chứng khoán tuy nhiên, sự biến động này không quá lớn cho cả 2 chuỗi.
Đồ thị dưới đây giúp quan sát rõ hơn về biến động của các chuỗi dữ liệu cũng
như bước đầu cung cấp cái nhìn tổng quan về tính dừng trong các chuỗi dữ liệu
nghiên cứu:
R
V
30
150,000,000
20
100,000,000
10
50,000,000
0
0
-10
-50,000,000
-20
-100,000,000
-30
-40
-150,000,000
I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV
I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2009
2010
2011
2012
2013
2014
(Nguồn: Tr ích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
45
Hình 2.7: Đồ thị thống kê mô tả dữ liệu
2.2.1.3 Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng
Như đã trình bày từ lúc đầu, do yêu cầu về tính dừng trong phân tích đối với
chuỗi thời gian để đưa ra các kết luận có ý nghĩa, trước khi thực hiện chạy mô hình
VAR và kiểm định Granger, kiểm định nghiệm đơn vị được thực hiện như là một
điều kiện tiên quyết bắt nhằm kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu quan sát. Kết
quả kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root test) cụ thể là kiểm định ADF (Augmented
Dicky and Fuller) và kiểm định PP (Phillip-Perron) được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng
Kiểm định ADF
Kiểm định PP
R
0.0000
0.0000
Prob.
V
0.0000
0.0001
-32.40709
-32.54665
T-Statistic R
V
-15.12551
-92.90567
1% level
-3.4345
-3.434517
Test
critical
5% level
-2.8632
-2.863267
values
10% level
-2.5677
-2.567738
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Kiểm định nghiệm đơn vị được kiểm tra với giả thuyết Ho: “Chuỗi dữ liệu có
nghiệm đơn vị hay chuỗi dữ liệu là chuỗi không dừng”. Để bác bỏ giả thuyết này
giá giá trị tới hạn của các kiểm định nghiệm đơn vị ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%
sẽ được so sánh với giá trị thống kê t. Nếu giá trị tuyệt đối của t lớn hơn các giá trị
tới hạn thì sẽ bác bỏ giả thuyết Ho, điều đó có nghĩa là chuỗi đang quan sát là dừng.
Bảng 2.2 cho thấy giá trị tuyệt đối của thống kê t của biến R ở cả 2 kiểm định
ADF và PP (lần lượt là 32.40709 và 32.54665) đều lớn hơn giá trị t ở các mức ý
nghĩa 1%, 5%, 10%, đồng thời hệ số Prob. ở cả 2 kiểm định ADF và PP nhỏ hơn rất
nhiều so với mức ý nghĩa 5%, do đó chuỗi biến động giá là một chuỗi dừng phù hợp
46
với yêu cầu phân tích.
Đối với chuỗi biến động khối lượng giao dịch, giá trị tuyệt đối của thống kê t ở
cả 2 kiểm định ADF và PP (lần lượt là 15.12551 và 92.90567) đều lớn hơn giá trị t
ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%, đồng thời hệ số Prob. ở cả 2 kiểm định ADF và
PP nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa 5%, do đó chuỗi biến động khối lượng
giao dịch cũng là một chuỗi dừng.
2.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.2.1 Lựa chọn độ trễ tối ưu
Trước khi tiến hành chạy mô hình VAR và thực hiện kiểm định Granger, bên
cạnh việc kiểm tra tính dừng của chuỗi nghiên cứu còn phải xác định được chiều dài
độ trễ (k) thích hợp cho các biến số trong mô hình.
Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR để xác định độ trễ tối ưu theo các tiêu chuẩn
FPE (Final Prediction Error), AIC (Akaike Information Criterion), SC (Schwarz
information criterion) và HQ (Hannan-Quinn Information Criterion).
Bảng 2.3: Độ trễ theo các tiêu chuẩn
Độ trễ
FPE
AIC
SC
HQ
1.46e+16
42.89558
42.90271
42.89823
0
1.15e+16
42.65822
42.67961
42.66619
1
1.07e+16
42.58875
42.62440
42.60203
2
1.04e+16
42.56112
42.57972
3
42.61103*
42.61194
4
1.03e+16*
42.54777*
42.57168*
1.03e+16
42.55135
42.62979
42.58058
5
1.03e+16
42.54854
42.64124
42.58309
6
1.04e+16
42.55243
42.65939
42.59229
7
1.04e+16
42.55732
42.67854
42.60249
8
47
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Độ trễ tối ưu được lựa chọn dựa vào kết quả phù hợp với nhiều tiêu chuẩn nhất.
Dựa vào bảng 2.3, với độ trễ là 4 thì các hệ số FPE, AIC, HQ là bé nhất. Do đó
nghiên cứu lựa chọn độ trễ tối ưu là 4.
2.2.2.2 Ước lượng mô hình VAR
Sau khi xác định được độ trễ tối ưu, nghiên cứu tiếp tục chạy mô hình VAR với độ
trễ k=4, thu được kết quả như sau:
Bảng 2.4: Mô hình VAR với độ trễ tối ưu là 4
V
Biến số
R
R(-1)
617743.6 [ 9.76271]*
0.184773 [ 7.07284]*
R(-2)
227972.8 [ 3.42229]*
-0.026724 [-0.97169]
R(-3)
105614.6 [ 1.57969]
0.002480 [ 0.08986]
R(-4)
128506.4 [ 1.96262]**
0.028207 [ 1.04341]
V(-1)
-0.516760 [-19.9353]*
2.48E-08 [ 2.32126]*
V(-2)
-0.375293 [-13.1723]*
-6.38E-09 [-0.54209]
V(-3)
-0.243985 [-8.59250]*
1.18E-08 [ 1.00791]
V(-4)
-0.120139 [-4.81918]*
7.52E-09 [ 0.73024]
C
-35990.37 [-0.08866]
0.121624 [ 0.72565]
2.579
1% level
Test critical values
1.961
5% level
1.645
10% level
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Ghi chú
*: Có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%
**: Có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
48
***: Có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%
Kết quả trên cho thấy rằng sự thay đổi của chỉ số VN-Index tại thời điểm hiện
tại có tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của chỉ số VN-Index và biến động của
khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thời điểm 1 ngày giao dịch trước đó nghĩa là nếu
chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch tăng ở ngày giao dịch trước đó thì chỉ số
VN-Index sẽ tăng ở ngày giao dịch hiện tại. Và các mối quan hệ này có ý nghĩa
thống kê do giá trị tuyệt đối của thống kê t đều lớn hơn giá trị t ở các mức ý nghĩa
1%, 5%, 10%.
Kết quả trên còn cho thấy rằng sự thay đổi của khối lượng cổ phiếu giao dịch tại
thời điểm hiện tại có tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của chỉ số VN-Index tại
thời điểm ngày giao dịch 1, 2, 4 trước đó và tương quan tỷ lệ nghịch với sự biến
động của khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thời điểm ngày giao dịch 1, 2, 3, 4 trước
đó, nghĩa là nếu chỉ số VN-Index tăng ở ngày giao dịch 1, 2, 4 trước đó, khối lượng
giao dịch giảm ở ngày giao dịch 1, 2, 3, 4 trước đó thì khối lượng cổ phiếu giao dịch
sẽ tăng ở ngày giao dịch hiện tại. Và các mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê do
giá trị tuyệt đối của thống kê t đều lớn hơn giá trị t ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.
2.2.2.3 Kiểm định quan hệ nhân quả Granger
Trên cơ sở các kết quả trên, kiểm định Granger được thực hiện để xác định mối
quan hệ qua lại giữa sự thay đổi giá chứng khoán và biến động khối lượng cổ phiếu
giao dịch. Kết quả kiểm định Granger được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger
Biến phụ thuộc: R
Chi-sq
Prob.
df
Biến
9.947526
0.0413
4
V
9.947526
0.0413
4
All
Biến phụ thuộc: V
Chi-sq
Prob.
df
Biến
137.3707
0.0000
4
R
137.3707
0.0000
4
All
49
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Kết quả kiểm định Granger cho thấy rằng, với hệ số Prob. ở cả 2 trường hợp
đều có ý nghĩa thống kê vì đều nhỏ hơn so với mức ý nghĩa 5%, điều đó chứng tỏ
hai giả thuyết H01: “Sự thay đổi của khối lượng giao dịch không ảnh hưởng đến sự
thay đổi của chỉ số giá chứng khoán” và H02: “Sự thay đổi của chỉ số giá chứng
khoán không ảnh hưởng đến sự thay đổi của khối lượng giao dịch” bị bác bỏ.
Như vậy, có thể kết luận rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi giá
chứng khoán và sự thay đổi của khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường
chứng khoán Việt Nam.
2.2.2.4 Phân tích hàm phản ứng đẩy IRF
Nghiên cứu tiếp tục sử dụng hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai để đánh
giá mức độ tác động qua lại giữa thay đổi giá chứng khoán và biến động của khối
lượng cổ phiếu giao dịch.
Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R (Thay đổi chỉ số giá chứng khoán)
8
6
4
2
0
-2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Hình 2.8: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R R es pons e of R to V
50
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Kết quả hình trên cho thấy rằng:
Nếu có một cú sốc dương đối với sự biến động của khối lượng giao dịch thì sẽ
ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi của chỉ số giá chứng khoán (do đường phản ứng
nằm trên đường 0). Tác động này diễn ra tức thời tại ngày đầu tiên khi sự biến động
của khối lượng giao dịch nhận cú sốc. Tại ngày thứ 2, tác động này là lớn nhất, sau
đó giảm dần. Tác động tích cực này có ý nghĩa thống kê ngay ngày đầu tiên và kéo
dài tới ngày thứ 3 sau khi có cú sốc (do đường biên giới hạn vẫn nằm trên đường 0).
Tuy nhiên, đường phản ứng chỉ dao động nhẹ quanh đường 0 hàm ý rằng phản
ứng của sự thay đổi chỉ số VN-Index đối với một cú sốc trong biến động của khối
lượng giao dịch là không mạnh lắm.
Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V (Biến động khối lượng giao dịch)
R es pons e of V to R
20,000,000
15,000,000
10,000,000
5,000,000
0
-5,000,000
-10,000,000
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Hình 2.9: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Kết quả hình trên cho thấy rằng:
Nếu có một cú sốc dương đối với sự thay đổi của chỉ số VN-Index thì ban đầu
51
sẽ tác động làm giảm nhẹ sự biến động của khối lượng giao dịch sau đó sẽ tác động
tích cực đến sự biến động của khối lượng giao dịch. Tác động này diễn ra tức thời
tại ngày đầu tiên khi chỉ số giá chứng khoán nhận cú sốc. Tại ngày thứ 2, tác động
tích cực này là lớn nhất, sau đó giảm dần. Tác động tích cực này có ý nghĩa thống
kê ngay ngày đầu tiên và kéo dài tới ngày thứ 3 sau khi có cú sốc (do đường biên
giới hạn vẫn nằm trên đường 0).
Tuy nhiên, đường phản ứng chỉ dao động nhẹ quanh đường 0 hàm ý rằng phản
ứng của sự biến động khối lượng cổ phiếu giao dịch đối với một cú sốc trong sự
thay đổi của chỉ số VN-Index là không mạnh lắm.
2.2.2.5 Phân tích phân rã phương sai
Phân rã phương sai của biến R (Thay đổi chỉ số giá chứng khoán)
Bảng 2.6: Phân rã phương sai của biến R
Thời kỳ
R
V
0.000000
100.0000
1
0.345368
99.65463
2
0.464171
99.53583
3
0.513653
99.48635
4
0.522317
99.47768
5
0.525820
99.47418
6
0.525890
99.47411
7
0.526142
99.47386
8
0.526795
99.47320
9
0.526831
99.47317
10
Thứ tự các biến: R V
52
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Bảng trên cho thấy sự thay đổi của chỉ số VN-Index chủ yếu là do chính biến
động của nó gây nên (chiếm hơn 99.47%) và khoảng 0.53% còn lại là do sự biến
động của khối lượng giao dịch tác động.
Phân rã phương sai của biến V (Biến động của khối lượng giao dịch)
Bảng 2.7: Phân rã phương sai của biến V
Thời kỳ
R
V
1.244513
98.75549
1
8.095676
91.90432
2
8.071651
91.92835
3
8.145338
91.85466
4
8.136972
91.86303
5
8.127839
91.87216
6
8.143069
91.85693
7
8.142006
91.85799
8
8.142318
91.85768
9
8.142052
91.85795
10
Thứ tự các biến: R V
(Nguồn: Trích xuất từ kết quả xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview)
Bảng trên cũng chỉ ra rằng sự biến động của khối lượng giao dịch chủ yếu vẫn
là do chính biến động của nó gây nên (chiếm hơn 91.86%) và khoảng 8.14% còn lại
là do thay đổi chỉ số giá chứng khoán tác động, tuy nhiên mức độ tác động của sự
thay đổi chỉ số giá chứng khoán đến sự biến động của khối lượng giao dịch vẫn khá
mạnh hơn so với mức độ tác động của biến động của khối lượng giao dịch đến thay
đổi chỉ số giá chứng khoán.
Vậy, qua việc phân tích hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai, kết quả
53
cho thấy tuy vẫn tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi khối lượng giao dịch
và thay đổi chỉ số giá chứng khoán tuy nhiên mức độ tác động qua lại giữa hai yếu
tố này là chưa rõ ràng, trong đó mức độ tác động của thay đổi chỉ số giá chứng
khoán đến sự biến động khối lượng giao dịch là lớn hơn so với chiều ngược lại.
2.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi chỉ số giá chứng khoán và biến động
khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu sử
dụng trong bài nghiên cứu là dữ liệu hằng ngày về khối lượng giao dịch và chỉ số
VN-Index tại thời điểm đóng cửa thị trường được thu thập trong khoảng thời gian từ
ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014 với tổng cộng 1496 quan sát. Qua việc sử
dụng mô hình VAR, kiểm định Granger, hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương
sai, nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ giữa thay đổi chỉ số
giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt
Nam. Cụ thể, nghiên cứu đã tìm ra các bằng chứng thực nghiệm có giá trị như sau:
Kết quả kiểm định tính dừng cho thấy chuỗi thay đổi chỉ số giá và biến động
khối lượng giao dịch đều là chuỗi dừng, thỏa mãn điều kiện để tiến hành nghiên
cứu, tăng độ chính xác cũng như độ đáng tin cậy của mô hình phân tích mối quan hệ
giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch .
Kết quả từ mô hình VAR kiểm định Granger đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch là mối quan hệ 2 chiều,
trong đó sự thay đổi của khối lượng giao dịch có tác động ảnh hưởng tích cực đến
chỉ số giá chứng khoán và đồng thời sự thay đổi chỉ số VN-Index cũng có ảnh
hưởng tích cực đến sự thay đổi của khối lượng cổ phiếu giao dịch. Điều này khác
với kết quả nghiên cứu trước đây trên thị trường chứng khoán Việt Nam, như
nghiên cứu của Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012), Huỳnh Thanh Siêng
(2010), các tác giả đều chỉ tìm ra được mối quan hệ một chiều (uni-directional
causality) giữa sự thay đổi chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch, đó là từ VN-
Index đến khối lượng giao dịch. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của đề tài lại phù
54
hợp với kết quả của hầu hết các nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát
triển và thị trường mới nổi khi tìm ra được mối tương quan hai chiều tích cực giữa
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch, như kết quả của tác giả
Hiemstra và Jones (1994), Eleanor (2006), Hutson và các cộng sự (2008), Brajesh
Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey(2009), Tripathy (2011), Chuang, Liu và
Susmel (2012). Bên cạnh đó, kết quả tìm ra của nghiên cứu phù hợp với nền tảng lý
thuyết được đưa ra ở đầu bài nghiên cứu, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn của
thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây khi khối lượng giao
dịch đã trở thành một công cụ phân tích định tính quan trọng của các nhà đầu tư
trong lĩnh vực chứng khoán. Đây là một trong những điểm mới và là thành công của
đề tài khi lần đầu tiên tìm ra được mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng
khoán và khối lượng giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, đóng góp
vào kho tàng các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế tài chính của Việt Nam
nói riêng và thế giới nói chung.
Nguyên nhân sự phù hợp kết quả nghiên cứu của tác giả với thực tiễn tình hình
thị trường chứng khoán Việt Nam và cơ sở lý thuyết nhưng lại khác với nghiên cứu
trước đây của Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012) được giải thích như sau:
- Đầu tiên là việc chọn giai đoạn nghiên cứu của đề tài (từ 01/01/2009 –
31/12/2014), lúc này, cùng với thị trường tài chính, thị trường chứng khoán Việt
Nam sau một thời gian sóng gió thăng trầm nay dường như đã có những bước đi
vững vàng, ổn định hơn, các chỉ số chứng khoán do đó cũng dần dần hoàn thiện, bắt
đầu đi vào một quỹ đạo hợp lý và thể hiện ngày càng rõ hơn các quy luật vốn có.
Ngoài ra do sự kế thừa các nghiên cứu đi trước khi các nghiên cứu này đều chọn
giai đoạn nghiên cứu từ năm 2000 đến thời điểm thực hiện đề tài nhưng đều chỉ tìm
ra được kết quả là giá chứng khoán ảnh hưởng đến khối lượng, khác hẳn với kết quả
nghiên cứu trên các thị trường thế giới, đồng thời thị trường chứng khoán những
năm 2000 - 2008 do xu thế và bản thân nhà đầu tư trong nước cũng chưa có kinh
nghiệm, cộng với bong bóng về tài chính, nên đã có những giai đoạn phát triển gần
như quá mạnh so với khả năng vốn hóa, trong khi sản phẩm chưa nhiều, hơn nữa
55
năm 2008 là thời kỳ khủng hoảng tài chính thế giới, tâm lý nhà đầu tư hoảng loạn,
thị trường theo đó cũng sụt giảm mạnh làm cho bất cứ nghiên cứu nào trong giai
đoạn đó cũng mất đi ý nghĩa, do vậy đề tài đã loại bỏ khoảng thời gian 2000-2008
trong giai đoạn nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu một lần nữa chứng minh
tính đúng đắn và sự kế thừa trong việc lựa chọn giai đoạn nghiên cứu, thể hiện thị
trường chứng khoán Việt Nam đã bắt đầu có sự tăng trưởng vững vàng và ổn định
với chỉ số chứng khoán cũng như các yếu tố khác của thị trường như nhóm tiêu chí
quy mô, thanh khoản và khả năng tiếp cận thị trường bắt đầu hoàn thiện và thể hiện
rõ quy luật cũng như xu hướng của thị trường.
- Ngoài ra, yếu tố quan trọng nhất làm cho kết quả của đề tài nghiên cứu là tìm
ra mối quan hệ nhân quả hai chiều tích cực giữa sự biến động giá và khối lượng
giao dịch phù hợp với các nền tảng lý thuyết đã được đúc kết bằng các nghiên cứu
đi trước suốt hơn hai thập kỷ qua chính là sự phù hợp với thực tiễn thị trường chứng
khoán Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong tình hình biến động của chỉ số
VN-Index và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch Chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh đã được khái quát ở đầu bài, bước đầu đưa ra bằng chứng định
tính về sự biến động có cùng xu hướng giữa chỉ số VN-Index và khối lượng giao
dịch. Đồng thời, đối với các nhà đầu tư hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay, việc dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai không chỉ đơn thuần dựa
vào sự biến động giá mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó không
thể thiếu được khối lượng giao dịch. Phân tích biến động khối lượng cổ phiếu giao
dịch là một yếu tố cần thiết và quan trọng trong đầu tư, cung cấp sự xác nhận thứ
cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị, đồng thời gia tăng thêm những cảnh
báo cho sự thay đổi sắp xảy đến trong xu hướng hiện tại. Đồng thời, sự thay đổi giá
cổ phiếu trong hiện tại cũng ảnh hưởng, gây ra tác động làm tăng giảm biến động
khối lượng giao dịch trong các ngày giao dịch tiếp theo. Khi kết hợp biến động khối
lượng giao dịch với diễn biến giá trong đồ thị, các nhà đầu tư có thể nhận thấy được
xu hướng của thị trường chứng khoán. Do đã sớm nhận thức được mối quan hệ tác
động qua lại giữa giá và khối lượng giao dịch ở thực tiễn thị trường chứng khoán
56
Việt Nam nên từ lâu đã tồn tại một khối lượng lớn các nghiên cứu định tính phân
tích về mối quan hệ này. Qua kết quả phân tích định lượng của đề tài nghiên cứu,
một lần nữa mối quan hệ này được khẳng định.
Kết quả của hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai lại cho thấy rằng mặc
dù tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch, tuy nhiên, tại thị trường chứng khoán Việt Nam, mối quan hệ tác
động qua lại này là chưa rõ ràng, trong đó mức độ tác động của sự thay đổi chỉ số
giá chứng khoán đến sự biến động của khối lượng giao dịch vẫn lớn hơn so với mức
độ tác động của biến động của khối lượng giao dịch đến thay đổi chỉ số giá chứng
khoán. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu tại thị trường chứng khoán mới nổi
như nghiên cứu của Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey(2009),
Assogbavi và Osagie(2006).
Nguyên nhân mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch
lại chưa rõ ràng khi nghiên cứu ở thị trường chứng khoán Việt Nam.có thể được
giải thích như sau:
- Đầu tiên, theo kết quả các nghiên cứu đi trước và từ cơ sở lý thuyết của mô
hình thông tin truyền tải liên tục SAI và mô hình hỗn hợp của phân phối MDH, mối
quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch phụ thuộc vào cách
thông tin được phổ biến trên thị trường và tại các thị trường mới nổi nói chung và
thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng, các nhà đầu tư thường tiếp cận thông
tin có độ trễ nhất định, đặc biệt các nhà đầu tư nhỏ lẻ, do đó điều này dẫn đến mối
quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch ở các thị trường này là
chưa rõ ràng. Hay nói cách khác, sự tồn tại hiện tượng bất cân xứng thông tin ở thị
trường chứng khoán Việt Nam, biểu hiện là sự cung cấp thông tin không kịp thời
hay không công bằng của các doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp
thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không công bố
rộng rãi ra bên ngoài v.v…đã làm cho mối quan hệ này tuy tồn tại nhưng vẫn còn
57
chưa rõ ràng.
- Nguyên nhân thứ hai được giải thích theo nghiên cứu của Delong et al. (1990)
là do sự tồn tại của các nhà đầu tư bất hợp lý (noise-traders). Trên thị trường chứng
khoán Việt Nam hiện nay, thực tế cho thấy vẫn tồn tại không ít các “noise-traders”.
Có nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này như: Hiện nay, hầu hết các tổ chức liên
quan đến vấn đề dạy và cấp chứng chỉ về chứng khoán còn quá ít trên thị trường
đồng thời học phí cho việc đào tạo còn khá cao; bên canh đó, tâm lý ngại sẵn có của
một số nhà đầu tư cho rằng việc học liên quan đến tính toán, định giá…quá phức tạp
và rắc rối, và họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này; ngoài ra số
lượng nhà đầu tư chưa có kiến thức “cơ bản” trình độ học vấn còn quá thấp vẫn còn
chiếm tỷ lệ cao. Các nhà đầu tư này thường có ít hiểu biết về thị trường, chủ yếu ra
quyết định mua hoặc bán không dựa trên cơ sở phân tích kinh tế mà thường đầu tư
dựa trên suy tính cá nhân trước các biến động của giá cả, và có khuynh hướng đầu
tư dựa trên tỷ suất sinh mong đợi trước mắt trong ngắn hạn, hay xu hướng đầu tư
theo “thông tin nội bộ”, thông tin gây nhiễu thị trường hơn là đầu tư theo giá trị
thực, giá trị nội tại của tài sản. Hành động chỉ dựa trên dữ liệu về giá trong quá khứ
của các nhà đầu tư này đôi khi làm cho giá cả và khối lượng giao dịch biến động
một cách khó đoán và không liên quan đến dòng thông tin hay một quy luật nào. Đó
cũng là nguyên nhân tại sao mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
giao dịch lại chưa rõ ràng khi nghiên cứu ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên
cạnh đó, việc đầu tư theo xu hướng giá của các nhà đầu tư này, điển hình là việc
mua nhiều hơn khi thấy giá cổ phiếu tăng cũng là lý do tại sao mức độ tác động của
sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán đến sự biến động của khối lượng giao dịch vẫn
lớn hơn so với chiều ngược lại. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy trong đồ thị diễn
biến chỉ số VN-Index và khồi lượng ở những giai đoạn giá tăng đột biến thì kéo
theo khối lượng ngày hôm sau cũng tăng mạnh.
- Cuối cùng, thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đã đạt được những thành tựu
nhất định, tuy nhiên, hiện vẫn còn khá đơn điệu so với toàn thế giới và bộc lộ nhiều yếu
kém, bất cập. Thị trường vẫn bị tác động khá nhiều bởi các nhân tố bên ngoài quốc gia,
đồng thời trên thị trường vẫn còn tồn tại hành vi “bầy đàn”, hành động theo tâm lý đám
58
đông, hiện tượng đầu cơ cổ phiếu, hành vi “làm giá”, thao túng thị trường cũng là một
trong những nguyên nhân gây nên sự bất ổn trong biến động giá chứng khoán và khối
lượng giao dịch, làm cho mối quan hệ giữa hai yếu tố này tuy tồn tại nhưng vẫn chưa
rõ ràng khi tiến hành nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trong những phần ở trên, đề tài đã chỉ ra những bất cập còn tồn tại trên Thị
trường chứng khoán Việt Nam đã khiến cho kết quả nghiên cứu vẫn chưa thể
giống hoàn toàn với kết quả của các nghiên cứu trước đây tại các thị trường
chứng khoán phát triển trên thế giới như sự tồn tại của thông tin bất cân xứng,
các nhà đầu tư “bất hợp lý” (noise-traders), hiện tượng đầu cơ cổ phiếu, giao
dịch “nội gián”, hành vi “bầy đàn”, hành vi “làm giá”, thao túng thị trường.
Trong phần này, đề tài sẽ đề suất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
3.1 Tăng tính minh bạch và hoàn thiện quá trình công bố thông tin
Xây dựng chỉ số minh bạch thông tin đối với các công ty niêm yết
Đến nay vẫn chưa có bộ chỉ số minh bạch thông tin chính thức nào được áp dụng
để đo lường mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam như chỉ số T&D của Standard and Poor’s tại Hoa Kỳ, chỉ số
GTI tại Singapore và chỉ số IDTRS ở Đài Loan. Việc xây dựng chỉ số này giúp quá
trình công bố thông tin của các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn.
Thành lập tổ chức định mức tín nhiệm
Tổ chức này sẽ cung cấp cho thị trường và các nhà đầu tư một hệ thống xếp
hạng các công cụ tài chính trên thị trường. Từ đó sẽ giúp nhà đầu tư có thêm nguồn
thông tin, làm cơ sở để so sánh, đối chiếu trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Do đó,
59
thông tin về doanh nghiệp sẽ được thể hiện tích cực hơn, chất lượng thông tin vì thế
cũng sẽ được nâng cao hơn. Đồng thời, thông qua bảng đánh giá, xếp hạng của các
tổ chức định mức tín nhiệm, chủ doanh nghiệp sẽ biết được mức độ tín nhiệm của
thị trường đối với doanh nghiệp mình, từ đó sẽ có những biện pháp khắc phục để
nâng cao vị thế, thị trường vì vậy cũng ngày càng phát triển hơn.
Hoàn thiện quy trình tiếp nhận, xử lý và công bố thông tin
Để đảm bảo thông tin được chuyển tải đến nhà đầu tư đầy đủ, kịp thời, Sở giao
dịch chứng khoán cần phải tiếp tục cải tiến quy trình tiếp nhận, xử lý và công bố
thông tin. Việc sử dụng hệ thống công bố thông tin điện tử là một giải pháp hữu
hiệu. Theo đó, mỗi doanh nghiệp niêm yết sẽ được cấp một mã số để gửi thông tin
cần công bố theo quy định đến Sở Giao dịch qua Internet. Khi đó, Sở giao dịch sẽ
kiểm tra về mặt hình thức rồi gửi cho các Công ty chứng khoán thành viên và đưa
lên website của Sở. Việc áp dụng hệ thống thông tin điện tử sẽ vừa rút ngắn thời
gian công bố thông tin, vừa đảm bảo tính bảo mật, tính pháp lý của thông tin được
công bố, do đó hạn chế được giao dịch “nội gián”.
Hoàn thiện công tác thanh tra và giám sát thị trường
Thực tế cho thấy, không phải lúc nào các đối tượng có nghĩa vụ công bố thông
tin cũng tự nguyện thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định. Bên cạnh đó, các hành
vi gian lận về công bố thông tin được thực hiện ngày càng tinh vi. Vì vậy, hoàn
thiện công tác thanh tra và giám sát quá trình công bố thông tin là một yêu cần quan
trọng để duy trì một thị trường hoạt động công bằng, minh bạch từ đó bảo đảm
quyền lợi bình đẳng của các thành viên thị trường, cũng như định hướng xây dựng
công tác quản trị doanh nghiệp ngày càng chuyên nghiệp, đáp ứng các chuẩn mực
quốc tế. Đồng thời, hoàn thiện và nâng cao chất lượng giám sát góp phần bảo đảm
thị trường chứng khoán phát triển bền vững, thực hiện chức năng là một kênh huy
động vốn trung và dài hạn có hiệu quả.
Xây dựng các chế tài xử phạt nghiêm khắc những vi phạm về công bố thông tin
Thực tế cho thấy trên thị trường chứng khoán, các khung xử lý vi phạm tuy vẫn
60
tồn tại nhưng lại còn khá nhẹ và chưa cương quyết nên không có tác dụng răng đe.
Do đó, các cơ quan chức năng cần xử phạt mạnh tay hơn các hành vi vi phạm, vừa
mang tính cảnh cáo, vừa nâng cao ý thức của công ty niêm yết trong việc công bố
các thông tin.
3.2 Nâng cao năng lực của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, ngân hàng, tài chính - chứng khoán,
bảo hiểm, quỹ đầu tư hưu trí và chuyên nghiệp hóa các nhà đầu tư cá nhân
Sự góp mặt của các nhà đầu tư có tổ chức không chỉ góp phần tăng cầu và tính
thanh khoản cho thị trường, mà quan trọng hơn, các tổ chức này sẽ định hướng và
xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, do đó
giúp thị trường vận hành hiệu quả hơn và định hướng cho thị trường phát triển một
cách bền vững. Bên cạnh đó, việc tăng cường hoạt động tuyên truyền và phổ biến
kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng, đồng thời mở
rộng về quy mô, chất lượng đào tạo sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu
tư cá nhân có thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết khi tiến hành đầu tư trên thị
trường chứng khoán, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả.
Về phía các nhà đầu tư cá nhân
Bản thân mỗi nhà đầu tư cần trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường và
kỹ thuật phân tích các thành tố của thị trường chứng khoán như: phân tích môi
trường vĩ mô trong và ngoài nước, phân tích mối liên hệ giữa thị trường chứng
khoán với các thị trường tài chính khác. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cần hiểu rõ cách
thức phân tích các công ty niêm yết, làm rõ các khía cạnh như lợi thế cạnh tranh,
năng lực quản trị công ty, tình hình tài chính công ty, chu kỳ ngành để có thể xác
định đúng giá trị nội tại của cổ phiếu và hiểu rõ bản chất sự dao động giá trên thị
trường chứng khoán, đồng thời phân tích và lựa chọn thời điểm mua bán có lợi nhất
để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp.
61
3.3 Một số giải pháp khác
Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường chứng khoán
Thực tiễn cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn khá đơn điệu so
với toàn thế giới và bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, do đó việc xây dựng pháp lý, hệ
thống công nghệ thông tin và các hệ thống phụ trợ để sớm đưa các sản phẩm phái
sinh vào hoạt động và xây dựng cơ chế phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá là rất cần
thiết. Bên cạnh đó cần giám sát xử lý các doanh nghiệp chào bán cổ phiếu ra công
chúng không đưa cổ phiếu vào giao dịch trong vòng một năm, đồng thời xây dựng
cơ chế và lộ trình thực hiện quản trị rủi ro cho các công ty niêm yết để thị trường
hoạt động hiệu quả hơn.
Tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán, hiện đại hóa cấu trúc
thị trường
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường, điều tất yếu cần làm là tiếp tục
tiến hành hợp nhất, giải thể, phá sản các công ty chứng khoán yếu kém, thua lỗ dựa
trên nền tảng các chỉ tiêu an toàn tài chính. Bên cạnh đó, hợp nhất các Sở giao dịch
chứng khoán và phát triển, phân định các khu vực thị trường: thị trường cổ phiếu,
thị trường trái phiếu và hình thành thị trường sản phẩm phái sinh, từng bước nâng
62
cao hiệu quả hoạt động của thị trường.
63
Phần 3
KẾT LUẬN
Đề tài nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với số liệu sử dụng là dữ liệu hằng ngày về khối lượng giao dịch tổng cộng cả
phiên (không tính đến khối lượng giao dịch thỏa thuận do nó không ảnh hưởng tới
chỉ số VN-Index) và chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa thị trường được thu
thập trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2014 với tổng cộng
1496 quan sát, qua việc sử dụng mô hình VAR, kiểm định Granger, hàm phản ứng
đẩy IRF và phân rã phương sai theo phương pháp Cholesky, nghiên cứu đã thành
công trong việc tìm ra bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số
giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt
Nam. Kết quả từ mô hình VAR kiểm định Granger đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch là mối quan hệ 2 chiều và
tác động qua lại giữa các biến là tác động tích cực, phù hợp với cơ sở lý thuyết, kết
quả của những nghiên cứu đi trước tại các thị trường chứng khoán trên thế giới
trước và thực tiễn tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả
của hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai lại cho thấy rằng tại thị trường
chứng khoán Việt Nam, mối quan hệ tác động qua lại này còn chưa rõ ràng. Điều
này đươc giải thích là do mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
giao dịch phụ thuộc vào cách thông tin được phổ biến trên thị trường tuy nhiên, tại
các thị trường mới nổi nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng lại
có sự tồn tại hiện tượng bất cân xứng thông tin; bên cạnh đó sự tồn tại của các nhà
đầu tư bất hợp lý (noise-traders) và các khiếm khuyết còn tồn đọng của thị trường
chứng khoán Việt Nam như hiện tượng đầu cơ cổ phiếu, hành vi “bầy đàn”, hành vi
“làm giá”, thao túng thị trường đã làm cho giá cả và khối lượng giao dịch đôi khi
biến động một cách khó đoán và không theo một quy luật nào. Các nguyên nhân
trên làm cho mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao
64
dịch tuy tồn tại nhưng lại chưa rõ ràng khi nghiên cứu tại thị trường chứng khoán
Việt Nam. Đây sẽ là thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng
khoán, mặc dù có thể kết hợp phân tích khối lượng giao dịch và giá chứng khoán để
nhận thấy xu hướng thị trường, tuy nhiên các nhà đầu tư cần cẩn trọng khi ra quyết
định đầu tư, không nên chỉ dựa hoàn toàn vào sự biến động khối lượng giao dịch mà
nên tham khảo thêm các phân tích vĩ mô, phân tích ngành và phân tích cơ bản của
cổ phiếu. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề suất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Bên cạnh việc tìm ra bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch, đề tài nghiên cứu cũng thực
hiện thành công các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ban đầu khi khái quát thành công
những nền tảng lý luận và thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về mối
quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch. Đồng thời,
nghiên cứu cũng góp phần khái quát, đem lại một cái nhìn tổng quan về quá trình
hình thành, phát triển của thị trường chứng khoán cũng như tình hình biến động chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trong giai đoạn nghiên cứu.
Bên cạnh những thành công đạt được, nghiên cứu còn tồn tại những hạn chế
sau: Đối với mẫu dự liệu, đề tài chỉ tiến hành xem xét mối quan hệ giữa chỉ số giá
chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh chưa xem xét đến Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội,
chính vì vậy, mẫu của tác giả chưa thể đại diện cho toàn bộ thị trường chứng khoán
Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu chỉ quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa chỉ
số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch mà chưa đưa ra dự đoán chính xác khi
biến động khối lượng giao dịch tăng 1% thì thay đổi chỉ số giá tăng bao nhiêu %.
Và đây sẽ là cơ hội cho các nhà nghiên cứu trong tương lai tiếp tục hoàn thiện
đề tài trên - một đề tài đã đang và sẽ luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm từ phía
các nhà đầu tư, các nhà kinh tế tài chính. Các nghiên cứu tiếp theo có thể lựa chọn
các chỉ số khác như HNX-Index, hay có thể thực hiện việc nghiên cứu trên các
chứng khoán riêng rẽ của các công ty có giá trị vốn hóa lớn trên thị trường để xem
65
xét mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch sẽ diễn ra như thế nào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Trương Đồng Lộc và Trương Văn Vũ (2012), Mối quan hệ giữa chỉ số giá thị
trường và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu khoa học 2012, Trang 133 – 143.
2. Huỳnh Thanh Siêng (2010), Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối
lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tiếng Anh
3. Al-Jafari1 Mohamed Khaled, Ahmad Tliti (2013), An Empirical Investigation of the
Relationship between Stock Return and Trading Volume: Evidence from the
Jordanian Banking Sector, Journal of Applied Finance & Banking, No. 3, pp 45-64.
4. Brajesh Kumar, Priyanka Singh và Ajay Pandey (2009), The Dynamic
Relationship between Price and Trading Volume:Evidence from Indian Stock
Market, Research and Publications, No. 2009-12-04, pp 1-53.
5. Campbell, J.Y., Grossman, S.J., Wang, J. (1993), Trading volume and serial
correlation in stock returns, Quarterly Journal of Economics 108, pp 905–939.
6. Chuang, C.-C., Kuan, C.-M., Lin, H.-Y. (2009), Causality in quantiles and
dynamic stock return-volume relations, Journal of Banking and Finance, No.
33, pp 1351–1360.
7. Eleanor Xu, X., Chen, P., Wu, C. (2006), Time and dynamic volume–volatility
relation, Journal of Banking and Finance, No. 30, pp 1535–1558.
8. Gallant A. Ronald; Rossi Peter E.; Tauchen George (1992), Stock prices and
volume, The Review of Financial Studies, No. 5, pp 199-242.
9. Gunduz, Lokman and Abdulnasser Hatemi-J (2005), Stock price and volume
relation in emerging markets, Emerging Markets Finance and Trade, No. 41,
pp 29-44.
10. Hiemstra, C., Jones, J.D. (1994), Testing for linear and nonlinear Granger
causality in the stock price-volume relation, Journal of Finance, No. 49, pp
66
1639–1664.
11. Karpoff, J.M. (1987), The relation between price changes and trading volume:
a survey, Journal of Financial and Quantitative Analysis, No. 22, pp 109–126.
12. Lee, Bong Soo and Oliver M. Rui (2002), The dynamic relation between stock
returns, trading volume: Domestic and cross-country evidence, Journal of
Banking and Finance, No. 26, pp 51-78.
13. Lee, Cheng F. and Oliver M. Rui (2000), Does trading volume contain
information to predict stock returns? Evidence from China’s stock markets,
Review of Quantitative Finance and Accounting, No. 14, pp 341-360.
14. McMillan, D.G. (2007). Non-linear forecasting of stock returns: does volume
help?,International Journal of Forecasting, No. 23, pp 115–126.
15. Moosa, Imad A. and Nabeel E. Al-Loughani (1996), Testing the price-volume
relation in emerging Asian stock markets, Journal of Asian Economics, No. 6,
pp 407-422.
16. Saatcioglu, K., Starks, L.T. (1998), The stock price-volume relationship in
emerging stock markets: the case of Latin America, International Journal of
Forecasting, No. 14, pp 215–225.
17. Shiu-Sheng Chen (2012), Revisiting the empirical linkages between stock
returns and trading volume, Journal of Banking & Finance, No. 36 (2012), pp
1781–1788.
18. Tripathy Naliniprava, The Relation between Price Changes and Trading
Volume: A Study in Indian Stock Market, Interdisciplinary Journal of Research
67
in Business, No. 1, pp 81-95.
PHỤ LỤC
1.Thống kê mô tả
300
250
S eries : R S am ple 1/02/2009 12/31/2014 O bs ervations 1496
200
150
100
M ean M edian M ax im um M inim um S td. Dev. S k ewnes s K urtos is
0.153743 0.400000 22.80000 -32.90000 6.570043 -0.360849 4.468247
50
Jarque-B era P robability
166.8412 0.000000
0
-30
-20
-10
0
10
20
1.1Biến R (thay đổi chỉ số giá chứng khoán)
500
S eries : V S am ple 1/02/2009 12/31/2014 O bs ervations 1496
400
300
200
M ean M edian M ax im um M inim um S td. Dev. S k ewnes s K urtos is
61574.39 46495.00 1.01e+ 08 -1.38e+ 08 18341691 -0.625357 11.02324
100
Jarque-B era P robability
4110.048 0.000000
0
-1.2e+08
-8.0e+07
-4.0e+07
100.000
4.0e+07
8.0e+07
68
1.1 Biến V(khối lượng giao dịch)
R
V
30
150,000,000
20
100,000,000
10
50,000,000
0
0
-10
-50,000,000
-20
-100,000,000
-30
-40
-150,000,000
I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV
I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV I
II
III
IV
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Đồ thị thống kê mô tả dữ liệu
2 Kiểm định tính dừng
2.1 Kiểm định tính dừng cho biến R (thay đổi chỉ số giá chứng khoán)
Null Hypothesis: R has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 0 (Automatic - based on AIC, maxlag=23)
t-Statistic
Prob.*
Augmented Dickey-Fuller test statistic
-32.40709
0.0000
Test critical values:
1% level
-3.434517
5% level
-2.863267
10% level
-2.567738
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Augmented Dickey-Fuller Test Equation
Dependent Variable: D(R)
69
2.1.1 Phương pháp ADF
Method: Least Squares
Date: 04/29/15 Time: 15:31
Sample (adjusted): 1/05/2009 12/31/2014
Included observations: 1495 after adjustments
Variable
Coefficient
Std. Error
t-Statistic
Prob.
R(-1)
-0.826329
0.025498
-32.40709
0.0000
C
0.129595
0.167488
0.773757
0.4392
R-squared
0.412949 Mean dependent var
0.006890
Adjusted R-squared
0.412556 S.D. dependent var
8.447161
S.E. of regression
6.474319 Akaike info criterion
6.574901
Sum squared resid
62581.80 Schwarz criterion
6.582004
Log likelihood
-4912.738 Hannan-Quinn criter.
6.577548
F-statistic
1050.220 Durbin-Watson stat
1.997942
Prob(F-statistic)
0.000000
Null Hypothesis: R has a unit root
Exogenous: Constant
Bandwidth: 9 (Newey-West automatic) using Bartlett kernel
Adj. t-Stat
Prob.*
Phillips-Perron test statistic
-32.54665
0.0000
Test critical values:
1% level
-3.434517
5% level
-2.863267
10% level
-2.567738
70
2.1.2 Phương pháp PP
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Residual variance (no correction)
41.86074
HAC corrected variance (Bartlett kernel)
43.83348
Phillips-Perron Test Equation
Dependent Variable: D(R)
Method: Least Squares
Date: 04/29/15 Time: 15:32
Sample (adjusted): 1/05/2009 12/31/2014
Included observations: 1495 after adjustments
Variable
Coefficient
Std. Error
t-Statistic
Prob.
R(-1)
-0.826329
0.025498
-32.40709
0.0000
C
0.129595
0.167488
0.773757
0.4392
R-squared
0.412949 Mean dependent var
0.006890
Adjusted R-squared
0.412556 S.D. dependent var
8.447161
S.E. of regression
6.474319 Akaike info criterion
6.574901
Sum squared resid
62581.80 Schwarz criterion
6.582004
Log likelihood
-4912.738 Hannan-Quinn criter.
6.577548
F-statistic
1050.220 Durbin-Watson stat
1.997942
Prob(F-statistic)
0.000000
71
2.2 Kiểm định tính dừng cho biến V(khối lượng giao dịch)
Null Hypothesis: V has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 11 (Automatic - based on AIC, maxlag=23)
t-Statistic
Prob.*
Augmented Dickey-Fuller test statistic
-15.12551
0.0000
Test critical values:
1% level
-3.434549
5% level
-2.863282
10% level
-2.567746
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Augmented Dickey-Fuller Test Equation
Dependent Variable: D(V)
Method: Least Squares
Date: 04/29/15 Time: 15:32
Sample (adjusted): 1/20/2009 12/31/2014
Included observations: 1484 after adjustments
Variable
Coefficient
Std. Error
t-Statistic
Prob.
V(-1)
-2.966539
0.196128
-15.12551
0.0000
D(V(-1))
1.453977
0.187994
7.734162
0.0000
D(V(-2))
1.085477
0.177236
6.124491
0.0000
D(V(-3))
0.824532
0.165041
4.995936
0.0000
72
2.2.1 Phương pháp ADF
D(V(-4))
0.666721
0.152089
4.383754
0.0000
D(V(-5))
0.591357
0.138240
4.277757
0.0000
D(V(-6))
0.489328
0.123107
3.974812
0.0001
D(V(-7))
0.437068
0.106921
4.087763
0.0000
D(V(-8))
0.370296
0.088788
4.170576
0.0000
D(V(-9))
0.256087
0.068885
3.717610
0.0002
D(V(-10))
0.154626
0.047904
3.227857
0.0013
D(V(-11))
0.056955
0.026681
2.134645
0.0330
C
178950.5
423279.1
0.422772
0.6725
R-squared
0.713207 Mean dependent var
19022.43
Adjusted R-squared
0.710867 S.D. dependent var
30312600
S.E. of regression
16299412 Akaike info criterion
36.05988
Sum squared resid
3.91E+17 Schwarz criterion
36.10633
Log likelihood
-26743.43 Hannan-Quinn criter.
36.07719
F-statistic
304.8441 Durbin-Watson stat
2.000701
Prob(F-statistic)
0.000000
Null Hypothesis: V has a unit root
Exogenous: Constant
Bandwidth: 34 (Newey-West automatic) using Bartlett kernel
Adj. t-Stat
Prob.*
Phillips-Perron test statistic
-92.90567
0.0001
Test critical values:
1% level
-3.434517
5% level
-2.863267
73
2.2.2 Phương pháp PP
10% level
-2.567738
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Residual variance (no correction)
2.94E+14
HAC corrected variance (Bartlett kernel)
5.88E+13
Phillips-Perron Test Equation
Dependent Variable: D(V)
Method: Least Squares
Date: 04/29/15 Time: 15:33
Sample (adjusted): 1/05/2009 12/31/2014
Included observations: 1495 after adjustments
Variable
Coefficient
Std. Error
t-Statistic
Prob.
V(-1)
-1.356120
0.024200
-56.03802
0.0000
C
83280.06
443573.1
0.187748
0.8511
R-squared
0.677765 Mean dependent var
23305.35
Adjusted R-squared
0.677549 S.D. dependent var
30203172
S.E. of regression
17150807 Akaike info criterion
36.15433
Sum squared resid
4.39E+17 Schwarz criterion
36.16143
Log likelihood
-27023.36 Hannan-Quinn criter.
36.15697
F-statistic
3140.259 Durbin-Watson stat
2.166528
Prob(F-statistic)
0.000000
74
VAR Lag Order Selection Criteria
Endogenous variables: R V
Exogenous variables: C
Date: 04/13/15 Time: 18:20
Sample: 1/02/2009 12/31/2014
Included observations: 1488
Lag
LogL
LR
FPE
AIC
SC
HQ
0
-31912.31
NA
1.46e+16
42.89558
42.90271
42.89823
1
-31731.72
360.4590
1.15e+16
42.65822
42.67961
42.66619
2
-31676.03
111.0044
1.07e+16
42.58875
42.62440
42.60203
3
-31651.47
48.87636
1.04e+16
42.56112
42.61103*
42.57972
4
-31637.54
27.70025
1.03e+16*
42.54777*
42.61194
42.57168*
5
-31636.20
2.647765
1.03e+16
42.55135
42.62979
42.58058
6
-31630.11
12.07791*
1.03e+16
42.54854
42.64124
42.58309
7
-31629.01
2.187730
1.04e+16
42.55243
42.65939
42.59229
8
-31628.64
0.719482
1.04e+16
42.55732
42.67854
42.60249
* indicates lag order selected by the criterion
LR: sequential modified LR test statistic (each test at 5% level)
FPE: Final prediction error
AIC: Akaike information criterion
SC: Schwarz information criterion
HQ: Hannan-Quinn information criterion
75
3. Xác định độ trễ tối ưu
Vector Autoregression Estimates
Date: 04/13/15 Time: 18:20
Sample (adjusted): 1/08/2009 12/31/2014
Included observations: 1492 after adjustments
Standard errors in ( ) & t-statistics in [ ]
R
V
R(-1)
0.184773
617743.6
(0.02612)
(63275.8)
[ 7.07284]
[ 9.76271]
R(-2)
-0.026724
227972.8
(0.02750)
(66614.2)
[-0.97169]
[ 3.42229]
R(-3)
0.002480
105614.6
(0.02760)
(66857.7)
[ 0.08986]
[ 1.57969]
R(-4)
0.028207
128506.4
(0.02703)
(65477.1)
[ 1.04341]
[ 1.96262]
V(-1)
2.48E-08
-0.516760
(1.1E-08)
(0.02592)
76
4. Mô hình VAR
[ 2.32126]
[-19.9353]
V(-2)
-6.38E-09
-0.375293
(1.2E-08)
(0.02849)
[-0.54209]
[-13.1723]
V(-3)
1.18E-08
-0.243985
(1.2E-08)
(0.02840)
[ 1.00791]
[-8.59250]
V(-4)
7.52E-09
-0.120139
(1.0E-08)
(0.02493)
[ 0.73024]
[-4.81918]
C
0.121624
-35990.37
(0.16761)
(405959.)
[ 0.72565]
[-0.08866]
R-squared
0.037707
0.275961
Adj. R-squared
0.032516
0.272055
Sum sq. resids
62058.75
3.64E+17
S.E. equation
6.468907
15668340
F-statistic
7.263828
70.65395
Log likelihood
-4898.117
-26830.73
Akaike AIC
6.577905
35.97820
Schwarz SC
6.609923
36.01021
77
Mean dependent
0.151475
61708.06
S.D. dependent
6.576715
18364271
Determinant resid covariance (dof adj.)
1.01E+16
Determinant resid covariance
1.00E+16
Log likelihood
-31719.51
Akaike information criterion
42.54358
Schwarz criterion
42.60761
VAR Granger Causality/Block Exogeneity Wald Tests
Date: 04/13/15 Time: 18:21
Sample: 1/02/2009 12/31/2014
Included observations: 1492
Dependent variable: R
Excluded
Chi-sq
df
Prob.
V
9.947526
4
0.0413
All
9.947526
4
0.0413
Dependent variable: V
Excluded
Chi-sq
df
Prob.
R
137.3707
4
0.0000
78
5.Kiếm định Granger
All
137.3707
4
0.0000
R e s p o n s e t o C h o le s k y O n e S . D . In n o va t io n s ± 2 S . E .
Res pons e of R to R
Res pons e of R to V
8
8
6
6
4
4
2
2
0
0
-2
-2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Res pons e of V to R
Res pons e of V to V
20,000,000
20,000,000
15,000,000
15,000,000
10,000,000
10,000,000
5,000,000
5,000,000
0
0
-5,000,000
-5,000,000
-10,000,000
-10,000,000
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
6. Hàm phản ứng IRF
Variance
Decomposition of R:
Period
S.E.
R
V
1
6.468907
100.0000
0.000000
2
6.582033
99.65463
0.345368
3
6.588238
99.53583
0.464171
79
7. Phân rã phương sai
0.513653
4
6.589931
99.48635
0.522317
5
6.593441
99.47768
0.525820
6
6.594636
99.47418
0.525890
7
6.594646
99.47411
0.526142
8
6.594657
99.47386
0.526795
9
6.594679
99.47320
0.526831
10
6.594682
99.47317
Variance
Decomposition of V:
Period
S.E.
R
V
98.75549
1
15668340
1.244513
91.90432
2
18282301
8.095676
91.92835
3
18342071
8.071651
91.85466
4
18349637
8.145338
91.86303
5
18365867
8.136972
91.87216
6
18398060
8.127839
91.85693
7
18412502
8.143069
91.85799
8
18413791
8.142006
91.85768
9
18413824
8.142318
91.85795
10
18414184
8.142052
Cholesky Ordering: R V
80

